Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



làm ăn có lãi trong một số năm quy định vì vậy trong hồn cảnh này mục tiêu của

doanh nghiệp là làm cho lợi nhuận của đơn vị đạt được điều kiện trên.

Hầu hết các doanh nghiệp muốn tối đa hóa lợi nhuận, nhất là các doanh

nghiệp có sự góp vốn của nhiều nhà đầu tư. Vì mục đích cuối cùng của các nhà đầu

tư này là lợi nhuận, nhưng nếu các chi phí của doanh nghiệp quá lớn sẽ làm cho lợi

nhuận còn lại ít, khơng đủ để chia lãi hoặc để trích lập các quỹ và nguồn vốn trong

doanh nghiệp. Vì vậy mục tiêu của các nhà quản trị là phải tối thiểu hóa các chi phí,

trong đó có chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp. Do vậy, các nhà quản trị sẽ điều

chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp để làm thế nào đó chi phí thuế thu nhập doanh

nghiệp là thấp nhất.

Nhiều doanh nghiệp quy định mức lương, thưởng của các nhà quản trị gắn

liền với lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu mức lợi nhuận trong năm khơng đủ để

được tăng mức lương thưởng thì nhà quản trị có thể điều chỉnh để chuyển khoản lợi

nhuận này qua năm khác. Hoặc nếu mức lợi nhuận cao hơn mức được tăng lương

thưởng quy định thì phần lợi nhuận dơi ra này có thể được điều chỉnh để chuyển

qua năm khác.

Còn trong bối cảnh các cơng ty mới thành lập được ưu tiên miễn giảm thuế

thu nhập doanh nghiệp trong những năm đầu thì việc điều chỉnh lợi nhuận là tất

yếu. Việc điều chỉnh này là làm tăng lợi nhuận ở các năm được ưu đãi về thuế làm

khoản chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp là thấp hơn nhiều so với khi

khơng có sự điều chỉnh lợi nhuận.

1.2. Chính sách kế tốn

Chính sách kế tốn là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể

được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính (Theo

Chuẩn mực số 29 – Thay đổi chính sách kế tốn, ước tính kế tốn và các sai sót).

Các chính sách kế tốn có thể được vận dụng một cách khéo léo để điều chỉnh lợi

nhuận trong kỳ của các doanh nghiệp. Cụ thể, mỗi chính sách kế tốn có quy định

khác nhau mà kế tốn dựa vào đó để có thể làm thay đổi lợi nhuận. Trong đó bao

gồm các chính sách về ghi nhận doanh thu và chi phí.



5



1.2.1. Chính sách ghi nhận doanh thu

Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ thực hiện trong nhiều kỳ kế tốn

thì việc xác định doanh thu trong kỳ được thực hiện theo tỷ lệ cơng việc hồn thành.

Theo phương pháp này doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định

theo tỷ lệ phần trăm cơng việc đã hồn thành. Phần cơng việc hồn thành được xác

định theo một trong ba phương pháp tùy thuộc vào bản chất của dịch vụ:

+ Đánh giá phần cơng việc hồn thành

+ So sánh tỷ lệ phần trăm (%) giữa khối lượng công việc đã hồn thành với

tổng khối lượng cơng việc phải hồn thành.

+ Tỷ lệ phần trăm (%) chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để

hồn thành tồn bộ sản phẩm, dịch vụ.

Phần cơng việc hồn thành khơng phụ thuộc vào các khoản thanh toán định

kỳ hay ứng trước của khách hàng

Các phương pháp xác định phần công việc hoàn thành phụ thuộc vào yếu tố

chủ quan của nhà quản trị. Các nhà quản trị có thể ghi nhận tăng doanh thu trong kỳ

so với thực tế bằng cách đánh giá phần cơng việc hồn thành, tỷ lệ phần trăm (%)

khối lượng cơng việc đã hồn thành với khối lượng cơng việc phải hồn thành hoặc

tỷ lệ phần trăm (%) chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hồn thành

tồn bộ sản phẩm, dịch vụ tăng lên. Ngược lại có thể ghi nhận doanh thu giảm đi.

Việc xác định doanh thu ghi nhận trong kỳ sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán

trong kỳ, làm lợi nhuận kế toán trong kỳ tăng lên hoặc giảm xuống.

1.2.2. Chính sách ghi nhận chi phí

Tài sản cố định là bộ phận chủ yếu trong tổng tài sản và đóng vai trò quan

trọng trong việc thể hiện tình hình tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy việc xác định

một tài sản có được ghi nhận là tài sản cố định hay chỉ là một khoản chi phí sản xuất

kinh doanh trong kỳ sẽ ảnh hưởng lớn đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp

1.2.2.1 Chính sách kế tốn về tài sản cố định

+ Chính sách khấu hao tài sản cố định



6



Đối với khấu hao tài sản cố định hữu hình, giá trị phải khấu hao của tài sản

cố định hữu hình được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng hữu

ích của chúng. Phương pháp khấu hao phải phù hợp với lợi ích kinh tế mà tài sản

đem lại cho doanh nghiệp. Số khấu hao của từng kỳ được hạch toán vào chi phí sản

xuất kinh doanh trong kỳ, trừ khi chúng được tính vào giá trị của các tài sản khác

như: khấu hao tài sản cố định hữu hình dùng cho các hoạt động trong giai đoạn triển

khai là một bộ phận chi phí cấu thành nguyên giá tài sản cố định vơ hình (theo

chuẩn mực số 4 - tài sản cố định vơ hình) hoặc chi phí khấu hao tài sản cố định hữu

hình dùng cho quá trình tự xây dựng hoặc tự chế tạo các tài sản khác. Theo Quyết

định 203/2009/QĐ-BTC về Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố

định thì có 3 phương pháp khấu hao tài sản cố định:

- Phương pháp khấu hao đường thẳng

- Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần

- Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm.

Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong ba phương pháp trên để tính và trích

khấu hao tài sản cố định. Tùy thuộc vào mục đích của doanh nghiệp mà doanh

nghiệp có thể lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp. Do việc trích khấu hao tài

sản cố định sẽ được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ, vì vậy lựa chọn

phương pháp khấu hao sẽ cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ. Cụ thể

nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp trích khấu hao theo số dư giảm dần thì sẽ

làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận trong những năm đầu trích khấu hao hoặc áp dụng

phương pháp khấu hao đường thẳng sẽ làm cho phần khấu hao được ghi nhận vào

chi phí liền đều qua các năm.

Đối với khấu hao tài sản cố định vơ hình: Giá trị phải khấu hao của TSCĐ vơ

hình được phân bổ một cách có hệ thống trong suốt thời gian sử dụng hữu ích ước

tính hợp lý của nó. Theo chuẩn mực số 04 – Tài sản cố định vơ hình, thời gian tính

khấu hao của TSCĐ vơ hình tối đa là 20 năm. Việc tính khấu hao được bắt đầu bắt

đầu khi đưa TSCĐ vơ hình vào sử dụng. Trong một số trường hợp, thời gian sử

dụng hữu ích của TSCĐ vơ hình có thể vượt q 20 năm khi có những bằng chứng



7



tin cậy, nhưng phải xác định được cụ thể. Trong trường hợp này, doanh nghiệp phải:

khấu hao TSCĐ vơ hình theo thời gian sử dụng hữu ích ước tính chính xác nhất; và

trình bày các lý do ước tính thời gian sử dụng hữu ích của tài sản trên báo cáo tài

chính. Việc trích khấu hao TSCĐ vơ hình được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh

doanh trong kỳ. Do đó lựa chọn phương pháp khấu hao và ước tính thời gian sử

dụng hữu ích của TSCĐ sẽ ảnh hưởng đến giá trị khấu hao cần trích lập từ đó ảnh

hưởng đến chi phí trong kỳ báo cáo.

Doanh nghiệp có thể thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian sử dụng

hữu ích của tài sản cố định, nếu trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ vơ

hình, doanh nghiệp xét thấy có thể thay đổi cách thức ước tính về lợi ích kinh tế

trong tương lai mà doanh nghiệp dự tính thu được. Do đó có thể thay đổi phương

pháp khấu hao. Ví dụ phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần phù hợp hơn

phương pháp khấu hao đường thẳng (Theo chuẩn mực số 04 – Tài sản cố định vơ

hình). Ngồi ra nếu thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản khác biệt lớn so

với các ước tính trước đó thì thời gian khấu hao phải được thay đổi tương ứng. Ví

dụ: Thời gian sử dụng hữu ích có thể tăng lên do đầu tư thêm chi phí làm tăng năng

lực của tài sản so với năng lực hoạt động được đánh giá ban đầu.

Tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể doanh nghiệp có thể lựa chọn thay đổi

phương pháp khấu hao và thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản, việc lựa

chọn này nằm trong giới hạn cho phép. Tuy nhiên nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi

phí ghi nhận trong kỳ để xác định lợi nhuận kỳ báo cáo.

+ Chính sách về sửa chữa TSCĐ

Để duy trì năng lực hoạt động cho TSCĐ trong suốt thời gian sử dụng doanh

nghiệp cần phải sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ. Có hai loại sửa chữa TSCĐ đó là sửa

chữa nhỏ và sửa chữa lớn. Với mỗi loại sửa chữa sẽ phát sinh chi phí sửa chữa. Tuy

nhiên, chi phí sửa chữa này được hạch tốn vào chi phí khác nhau ứng với mỗi loại

sửa chữa. Từ đó sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ báo cáo.

- Đối với sửa chữa nhỏ TSCĐ: là loại sửa chữa có mức độ hư hỏng nhỏ, thời

gian sửa chữa ngắn, chi phí sửa chữa phát sinh ít. Do đó tồn bộ chi phí sửa chữa



8



nhỏ tài sản cố định doanh nghiệp hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong

kỳ

- Đối với sửa chữa lớn: là loại sửa chữa có mức độ hư hỏng nặng, thời gian

sửa chữa dài, chi phí sửa chữa phát sinh nhiều. Vì thế nếu doanh nghiệp chưa có kế

hoạch trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ thì tồn bộ chi phí này được tập hợp

và phân bố nhiều kỳ. Doanh nghiệp có thể lựa chọn số kỳ phân bổ tùy thuộc vào ý

muốn chủ quan của nhà quản trị. Song mức phân bổ chi phí sửa chữa trong từng kỳ

sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của kỳ đó [4]. Ngồi ra, doanh nghiệp có thế

ước tính trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh

tronh kỳ tại thời điểm chưa phát sinh chi phí sửa chữa lớn TSCĐ và mức chi phí

tính trích trước này sẽ làm gia tăng chi phí trong kỳ từ đó làm giảm lợi nhuận của

kỳ báo cáo. Đây cũng là một trong số các lựa chọn, các nhà quản trị doanh nghiệp

có thể sử dụng để điều chỉnh lợi nhuận kế toán theo ý muốn chủ quan của họ.

1.2.2.2. Chính sách kế tốn liên quan đến hàng tồn kho

+ Xác định giá vốn hàng xuất kho

Có bốn phương pháp tính giá hàng xuất kho gồm: phương pháp nhập trước –

xuất trước, phương pháp nhập sau – xuất trước, phương pháp bình quân gia quyền,

phương pháp thực tế đích danh. Với mỗi phương pháp mà đơn vị áp dụng sẽ cho giá

trị hàng xuất kho khác nhau. Tùy theo đặc điểm của hàng tồn kho, mục đích của

doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho

phù hợp. Việc lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho sẽ ảnh hưởng đến giá

vốn hàng bán ra từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ. Mặt khác, khi doanh

nghiệp xuất bán hàng tồn kho, giá gốc của hàng tồn kho đã bán được ghi nhận vào

chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ phù hợp với doanh thu của hàng tồn kho được

ghi nhận. Điều này có nghĩa là giá gốc của hàng tồn kho được ghi nhận vào chi phí

trong kỳ khi việc xuất bán hàng tồn kho đã xác định tiêu thụ. Khi đơn vị xuất hàng

gửi bán thì giá gốc hàng xuất bán chưa xác định tiêu thụ nên khơng được hạch tốn

vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Việc có hạch tốn giá vốn hàng tồn kho



9



vào chi phí hay khơng sẽ làm chi phí trong kỳ thay đổi và sẽ ảnh hưởng trực tiếp

đến lợi nhuận kỳ báo cáo [4].

+ Dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

Theo chuẩn mực số 03 – Hàng tồn kho và Thông tư số 107/2001/TT-BTC

ngày 31/12/2001 của Bộ Tài Chính hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các

khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, giảm giá chứng khốn đầu tư, dự phòng nợ

khó đòi tại doanh nghiệp; Thông tư số 13/2006/TT-BTC – Hướng dẫn chế độ trích

lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu

tư tài chính, nợ khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hóa, cơng trình xây lắp tại

doanh nghiệp, cuối kỳ kế toán năm đối với các doanh nghiệp, đối với các doanh

nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán phải lập báo cáo tài chính giữa niên độ

thì được trích lập và hồn nhập dự phòng ở cả thời điểm lập báo cáo tài chính giữa

niên độ khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc thì

phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Mức dự phòng giảm giá hàng tồn kho

được tính theo cơng thức:

Mức dự phòng

giảm giá vật tư

hàng hóa



=



Lượng vật tư hàng



Giá gốc hàng



hóa thực tế tồn kho



tồn kho theo



tại thời điểm lập báo



x



sổ kế toán



Giá trị thuần có thể

- thực hiện được của



hàng tồn kho

cáo tài chính

Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí



liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái

hiện tại theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 02 - Hàng tồn kho ban hành kèm

theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài

chính. Giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho (giá trị dự kiến thu hồi)

là giá bán (ước tính) của hàng tồn kho trừ (-) chi phí để hồn thành sản phẩm và chi

phí tiêu thụ (ước tính) theo Chuẩn mực kế tốn số 02 - Hàng tồn kho ban hành kèm

theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài

chính. Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá gốc

của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được. Việc lập dự phòng



10



giảm giá hàng tồn kho sẽ làm cho chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ tăng lên, từ

đó làm ảnh hưởng đến lợi nhuận. Mức trích lập dự phòng doanh nghiệp có thể vận

dụng linh hoạt tùy thuộc vào mức ước tính giá trị thuần có thể thực hiện được của

hàng tồn kho [12].

Cuối kỳ kế toán tiếp theo, doanh nghiệp phải thực hiện đánh giá mới về giá

trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho cuối năm đó. Trường hợp cuối kỳ

kế tốn năm nay, nếu khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập thấp hơn mức

dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối kỳ kế toán năm trước đó thì số chênh

lệch lớn hơn phảo được hoàn nhập để đảm bảo cho giá trị của hàng tồn kho phản

ánh trên báo cáo tài chính theo giá gốc (nếu giá gốc nhỏ hơn giá trị thuần có thể

thực hiện được) hoặc theo giá trị thuần có thể thực hiện được (nếu giá gốc lớn hơn

giá trị thuần có thể thực hiện được) Theo chuẩn mực số 03 – Hàng tồn kho và

Thông tư số 107/2001/TT-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ Tài chính; Thơng tư Số:

13/2006/TT-BTC. Việc hồn nhập hay trích lập thêm dự phòng trong năm tiếp theo

cũng tùy thuộc vào mức lựa chọn theo ý muốn chủ quan của các nhà quản trị. Do

vậy, đối với việc trích lập và hồn nhập dự phòng chuẩn mực kế tốn ln tạo ra

khoảng khơng tự do cho các doanh nghiệp lựa chọn. Mỗi sự lựa chọn đều ảnh

hưởng trực tiếp đến việc ghi nhận chi phí trong kỳ từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận.

1.2.2.3. Chính sách kế tốn về chi phí vốn vay

Chi phí đi vay bao gồm lãi tiền vay và các khoản chi phí phát sinh liên quan

trực tiếp đến các khoản vay của doanh nghiệp, bao gồm: lãi tiền vay, chi phí phát

sinh liên quan đến thủ tục vay, trả lãi vay định kỳ về th tài chính,…Theo quy định

của chuẩn mực kế tốn số 16 – Chi phí đi vay và Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC

ngày 31/12/2002 , đối với các khoản chi phí đi vay phát sinh trong kỳ doanh nghiệp

cần phân biệt khoản chi phí nào được vốn hóa vào ngun giá TSCĐ, khoản chi phí

nào khơng được phép và chỉ được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong

kỳ. Việc phân biệt này ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ báo cáo vì giả thuyết rằng tất cả

các khoản chi phí đi vay phát sinh trong kỳ đều được ghi nhận vào chi phí tài chính



11



làm cho chi phí tăng lên và giảm lợi nhuận trong kỳ. Việc xác định khoản chi phí đi

vay nào được vốn hóa, khoản chi phí nào khơng được vốn hóa, thời điểm vốn hóa,

thời điểm nào chấm dứt việc vốn hóa thì những điều này doanh nghiệp có thể lựa

chọn. Ví dụ, chi phí đi vay liên quan đến việc mua một mảnh đất cần có các hoạt

động chuẩn bị mặt bằng sẽ được vốn hóa trong kỳ khi các hoạt động liên quan đến

việc chuẩn bị mặt bằng đó. Tuy nhiên, chi phí đi vay phát sinh khi mua mảnh đất đó

để giữ mà khơng có hoạt động triển khai xây dựng liên quan đến mảnh đất đó thì

chi phí đi vay khơng được vốn hóa. Tuy vậy việc có hoạt động chuẩn bị mặt bằng

hay không tùy theo ý muốn chủ quan của chủ doanh nghiệp [4].

1.2.2.4. Chính sách kế tốn về lợi thế thương mại

Lợi thế thương mại là một tài sản vơ hình nhưng là một tài sản đặt biệt chỉ

phát sinh khi có các nghiệp vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp. Hiểu một cách đơn

giản thì lợi thế thương mại là phần chênh lệch giữa số tiền mà một doanh nghiệp bỏ

ra để mua một doanh nghiệp không trùng với giá trị tài sản thuần của doanh nghiệp

được mua [4].

Lợi thế thương mại được ghi nhận ngay vào chi phí sản xuất kinh doanh nếu

có giá trị nhỏ hoặc phải phân bổ dần trong suốt thời gian hữu ích ước tính nếu giá trị

lớn. Thời gian sử dụng hữu ích phải phản ảnh được ước tính đúng đắn về thời gian

thu hồi lợi ích kinh tế có thể mang lại cho doanh nghiệp tối đa 10 năm (Theo chuẩn

mực số 11 – Hợp nhất kinh doanh).

Lợi thế thương mại sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến báo cáo kết quả hoạt động

kinh doanh hay thu nhập trước thuế của doanh nghiệp dưới hình thức phân bổ dần

vào chi phí hay ghi nhận ngay phần giảm sút về mặt giá trị hợp lý của lợi thế

thương mại như là một khoản chi phí. Thời gian phân bổ và phương pháp phân bổ

lợi thế thương mại phải được xem xét lại cuối mỗi năm tài chính. Nếu thời gian sử

dụng hữu ích của lợi thế thương mại khác biệt lớn so với ước tính ban đầu thì phải

thay đổi thời gian phân bổ. Nếu có sự thay đổi lớn về cách thức thu hồi lợi ích kinh

tế trong tương lai do lợi thế thương mại đem lại thì phương pháp phân bổ cũng phải



12



thay đổi. Trường hợp này phải điều chỉnh chi phí phân bổ của lợi thế thương mại

cho năm hiện hành và các năm tiếp theo và phải được thuyết minh trong báo cáo tài

chính (Theo chuẩn mực số 11 – Hợp nhất kinh doanh).

1.2.2.5. Chính sách kế tốn đối với giao dịch bằng ngoại tệ

Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp có thể phát sinh các nghiệp vụ

kinh tế bằng ngoại tệ. Doanh nghiệp đồng thời theo dõi nguyên tệ vừa phải quy đổi

sang đồng Việt Nam. Việc quy đổi ra đồng Việt Nam sẽ làm phát sinh chênh tỷ giá

hối đoái (Chuẩn mực số 10 - ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái). Khoản

chênh lệch này tùy theo từng trường hợp cụ thể sẽ được hạch tốn vào doanh thu

hoặc chi phí. Khi doanh nghiệp phát sinh các nghiệp vụ xuất ngoại tệ, tỷ giá xuất

ngoại tệ được xác định theo một trong bốn phương pháp giống như hàng tồn kho:

nhập trước – xuất trước, nhập sau – xuất trước, bình quân gia quyền, thực tế đích

danh. Khi doanh nghiệp áp dụng phương pháp khác nhau sẽ dẫn đến tỷ giá xuất

ngoại tệ khác nhau. Vì thế, tùy theo tỷ giá ngoại tệ trên thị trường và tùy vào từng

điều kiện cụ thể, doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp này hoặc phương pháp

khác. Việc lựa chọn các phương pháp này ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu hoặc

chi phí phát sinh trong kỳ và làm lợi cho lợi nhuận tăng lên hoặc giảm xuống [4].

Theo hướng dẫn của Thông tư 201/2009/TT-BTC: Hướng dẫn xử lý các

khoản chênh lệch tỷ giá trong doanh nghiệp.

a. Xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái của nghiệp vụ ngoại tệ trong kỳ:

+ Trong giai đoạn đầu tư xây dựng để hình thành tài sản cố định của doanh

nghiệp mới thành lập:

Trong giai đoạn đầu tư xây dựng để hình thành tài sản cố định của doanh

nghiệp mới thành lập, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh khi thanh tốn các khoản

mục tiền tệ có gốc ngoại tệ để thực hiện đầu tư xây dựng và chênh lệch tỷ giá hối

đoái phát sinh khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài

chính được phản ánh lũy kế, riêng biệt trên Bảng cân đối kế toán. Khi tài sản cố

định hoàn thành đầu tư xây dựng đưa vào sử dụng thì chênh lệch tỷ giá hối đối



13



phát sinh trong giai đoạn đầu tư xây dựng được phân bổ dần vào thu nhập hoặc chi

phí sản xuất, kinh doanh cụ thể:

- Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đoái tăng được phân bổ dần vào thu nhập

tài chính của doanh nghiệp, thời gian phân bổ không quá 5 năm kể từ khi cơng trình

đưa vào hoạt động.

- Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đoái giảm được phân bổ dần vào chi phí

tài chính của doanh nghiệp, thời gian phân bổ khơng q 5 năm kể từ khi cơng trình

đưa vào hoạt động.

+ Thời kỳ doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh:

Trong giai đoạn sản xuất, kinh doanh, kể cả việc đầu tư xây dựng để hình

thành tài sản cố định của doanh nghiệp đang hoạt động, chênh lệch tỷ giá hối đoái

phát sinh khi thanh toán các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ sẽ được ghi nhận là

thu nhập hoặc chi phí trong năm tài chính cụ thể:

Đối với nợ phải thu:

Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đối tăng tính vào thu nhập tài chính trong

kỳ.

Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đối giảm tính vào chi phí tài chính trong

kỳ.

Đối với nợ phải trả:

Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đối giảm tính vào thu nhập tài chính trong

kỳ.

Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đối tăng tính vào chi phí tài chính trong

kỳ.

+ Thời kỳ giải thể, thanh lý doanh nghiệp:

Đối với nợ phải thu:

Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đoái tăng tính vào thu nhập thanh lý doanh

nghiệp.

Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đối giảm tính vào chi phí thanh lý doanh

nghiệp.



14



Đối với nợ phải trả:

Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đối giảm tính vào thu nhập thanh lý doanh

nghiệp.

Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đối tăng tính vào chi phí thanh lý doanh

nghiệp.

+ Chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ do việc mua, bán ngoại tệ:

Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đoái tăng tính vào thu nhập tài chính trong

kỳ.

Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đối giảm tính vào chi phí tài chính trong

kỳ.

b. Xử lý chênh lệch tỷ giá hối đối phát sinh do đánh giá lại số dư ngoại tệ cuối

kỳ:

Cuối kỳ kế toán, doanh nghiệp phải quy đổi số dư tiền mặt, tiền gửi, tiền

đang chuyển, các khoản nợ phải thu, nợ phải trả có gốc ngoại tệ ra "đồng Việt Nam”

theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Nhà nước công bố. Khoản chênh lệch giữa

tỷ giá sau khi quy đổi với tỷ giá đang hạch toán trên sổ kế toán được xử lý như sau:

+ Đối với chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh do việc đánh giá lại số dư

cuối năm là: Tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển, các khoản nợ ngắn hạn (1 năm trở

xuống) có gốc ngoại tệ tại thời điểm lập báo cáo tài chính thì khơng hạch tốn vào

chi phí hoặc thu nhập mà để số dư trên báo cáo tài chính, đầu năm sau ghi bút tốn

ngược lại để xoá số dư.

+ Đối với chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh do việc đánh giá lại số dư

cuối năm của các khoản nợ dài hạn (trên 1 năm) có gốc ngoại tệ tại thời điểm lập

báo cáo tài chính thì được xử lý như sau:

- Đối với các khoản nợ phải thu dài hạn:

Đối với các khoản nợ phải thu bằng ngoại tệ, công ty phải đánh giá lại số dư

cuối năm của các loại ngoại tệ, sau khi bù trừ, chênh lệch còn lại được xử lý như

sau:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x