Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ ra quyết định quản trị ngắn hạn

Sơ đồ 1.3: Sơ đồ ra quyết định quản trị ngắn hạn

Tải bản đầy đủ - 0trang

19

có ảnh hưởng nhiều hay ít đến kết quả của quyết định. Vì thế, trong quá trình đề ra

quyết định, phải làm rõ thêm vấn đề là gì và DN đang mong muốn gì. Đối với

việc xác định vấn đề, nếu ở những tình huống tương tự như đã gặp thì nhà quản trị

có thể sử dụng kinh nghiệm đã có được mức độ chính xác cao. Khi quyết định

những vấn đề có nội dung mới ở bước đầu nhà quản trị lại xem xét các mục tiêu đề

ra và thực hiện phân tích tình huống để dần làm rõ vấn đề.

b. Nghiên cứu các phương án khác nhau

Đây là giai đoạn đưa ra tất cả các giả thuyết cho vấn đề có thể xảy ra. Trong

giai đoạn này, nhà quản trị nghiên cứu các giải pháp có thể đối với vấn đề đang

tồn tại.

c. Thu thập thông tin liên quan đến các phương án

Chỉ có thể giải quyết đúng đắn một vấn đề nào đó nếu như có thơng tin đầy

đủ và chính xác. Lượng thơng tin cần thiết phụ thuộc vào tính phức tạp của nhiệm

vụ được xét và phụ thuộc vào trình độ thành thạo, kinh nghiệm của người ra quyết

định. Các thông tin thu thập phải đảm bảo được các tính chất sau:

Tính thích hợp: Tính thích hợp của thơng tin cho từng bài tốn ra quyết

định là rất quan trọng. Những tình huống ra quyết định khác nhau cần những

thông tin khác nhau. Hơn nữa, thông tin được thu thập phải là thông tin phù hợp

với vấn đề đang cần ra quyết định và có thể sử dụng để so sánh giữa các phương

án khác nhau cần lựa chọn.

Chính xác: Thơng tin phục vụ cho việc ra quyết định phải chính xác, khách

quan. Thơng tin phải được thu thập từ các nguồn số liệu đáng tin cậy và được đánh

giá một cách khách quan dựa trên điều kiện và các nhân tố tác động

Nhanh chóng: Thơng tin là thích hợp và chính xác, nhưng sẽ vô dụng

nếu không kịp thời cho việc ra quyết định. Do vậy, ngồi yếư tố chính xác và

thích hợp thì thông tin cần được cung cấp nhanh để kịp thời cho các quyết định.

d. Đánh giá lựa chọn phương án và thực thi quyết định

 Đánh giá lựa chọn phương án

Các thông tin về các phương án đã thu thập sẽ được tiếp tục phân tích và



20

đánh giá để so sánh tính khả thi và hiệu quả của từng phương án, các nguồn lực mà

nó đem lại; các yếu tố này được trình bày cụ thể dưới dạng các báo cáo phân tích để

các nhà quản trị có thể kiểm tra và đưa ra quyết định lựa chọn. Đối với những thơng

tin có thể lượng hóa, các bài tốn ra quyết định có liên quan đến các số liệu kế

tốn thường được biểu diễn dưới hình thức định lượng (số lượng và giá trị).

Tiêu chuẩn quyết định trong những bài toán này thường bao gồm các mục tiêu

như tối đa hố lợi nhuận hoặc tối thiểu hố chi phí. Khi nhà quản lý ra quyết

định cuối cùng, ngoài việc so sánh các chỉ tiêu định lượng giữa các phương án,

việc xem xét các đặc điểm định tính (qualitative characteristics) của các phương

án cũng đóng một vai trò quan trọng. Các đặc điểm định tính là những nhân tố

khơng thể biểu diễn bằng các con số. Cụ thể như tình huống ‘xem xét bài tốn

ra quyết định có nên đóng cửa một nhà máy hay tiếp tục duy trì hoạt động’; quá

trình phân tích định lượng đã chỉ ra rằng phương án đóng của nhà máy sẽ có lợi

cho kết quả kinh doanh (lợi nhuận) của công ty. Tuy nhiên, trước khi ra quyết

định cuối cùng, nhà quản lý phải xem xét các nhân tố định lượng như: ảnh

hưởng của việc đóng cửa nhà máy lên người lao động của nhà máy, lên cộng

đồng địa phương, hoặc là hình ảnh của công ty?

Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả phải thể hiện được bằng số lượng, cố gắng

phản ánh đầy đủ nhất những kết quả dự tính sẽ đạt, phải cụ thể, dễ hiểu và đơn giản.

Thường các tiêu chuẩn được chọn từ các chỉ tiêu: chi phí nhỏ nhất, năng suất cao

nhất, sử dụng thiết bị nhiều nhất, sử dụng vốn sản xuất tốt nhất v.v... ; tùy theo mục

đích chính của nhiệm vụ được đề ra. Ngồi ra còn có nhiều chỉ tiêu: chất lượng sản

phẩm làm ra, sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường v.v...

Do vậy, trước khi ra quyết định cuối cùng nhà quản lý phải cân nhắc

giữa các yếu tố định lượng và định tính. Việc này cần kỹ năng, kinh nghiệm, sự

phán đoán, cũng như đạo đức của các nhà quản lý hay là phương pháp lập luận

lôgic và trực giác của người lãnh đạo để lựa chọn phương án.

Bước này có ý nghĩa rất quan trọng để đề ra quyết định đúng đắn. Quyết

định được thực thi sau khi xử lý các thông tin thu được từ việc nghiên cứu tính chất



21

của nhiệm vụ, tính cấp bách của việc giải quyết nhiệm vụ đó, tình huống phát sinh,

việc xác định mục đích và tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả.

 Thực thi quyết định

Sau khi đánh giá những kết quả dự tính của quyết định và lựa chọn được

phương án tốt nhất, nhà quản trị đưa ra quyết định, chính là việc chọn một trong số

các phương án đã được đánh giá và cho tiến hành quyết định đó.

Đầu tiên, quyết định phải được truyền đạt đến người thi hành và lập kế hoạch

tổ chức. Trong bản thân quyết định không phải chỉ dự tính làm cái gì mà còn phải

quy định ai làm, ở đâu, khi nào làm và làm bằng cách nào, ai kiểm tra việc thực

hiện quyết định, bao giờ thì kiểm tra và kiểm tra như thế nào? Tất cả những điều đó

tạo thành những tiền đề cần thiết về tổ chức thực hiện quyết định.

Tiếp theo là tuyên truyền và giải thích trong doanh nghiệp ý nghĩa và

tầm quan trọng của quyết định đã đề ra, những kết quả có thể đạt được của quyết

định ấy. Sau đó, vạch phương trình thực hiện quyết định này.

Kế hoạch tổ chức phải xuất phát từ việc quy định rõ giới hạn hiệu lực của

quyết định và phải theo đúng thời hạn đó trong quá trình thực hiện. Việc tổ chức

phải cụ thể và chi tiết, nghĩa là tùy theo tính chất và mức độ phức tạp của nhiệm vụ

đã đề ra mà phân định tồn bộ khối lượng cơng việc theo các đối tượng và các

khoảng thời gian.

Muốn so sánh các phương án một cách khách quan để lựa chọn phương án

tốt nhất cũng như thấy rõ khả năng thực hiện mục đích đề ra cần phải có tiêu chuẩn

đánh giá hiệu quả.

e. Kiểm tra việc thực hiện quyết định

Kiểm tra tình hình thực hiện quyết định có vai trò quan trọng và nó có

hai ảnh hưởng tới thực tiễn kinh tế. Thứ nhất, kiểm tra tác động tới hành vi của con

người, nâng cao trách nhiệm của họ và động viên họ thực hiện chính xác những

hoạt động đã nằm trong kế hoach. Thứ hai, việc tiến hành kiểm tra liên tục thúc đẩy

sự thực hiện kịp thời và có trình tự các nhiệm vụ đã đặt ra.

Tóm lại, tổ chức tốt việc kiểm tra sẽ đem lại cho quá trình thực hiện quyết



22

định sự linh hoạt cần thiết; nếu khơng, sẽ có thể xảy ra thực thi quyết định bị lệch

lạc, hay không kịp tiến độ đề ra.

f. Phản hồi, điều chỉnh quyết định

 Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự cần thiết phải điều chỉnh quyết định

trong quá trình thực hiện chúng. Các nguyên nhân đó thường là:

- Tổ chức khơng tốt việc thực hiện quyết định.

- Có những thay đổi đột ngột do nguyên nhân bên ngoài gây ra.

- Có sai lầm nghiêm trọng bản thân quyết định, và một số nguyên nhân khác.

 Trong việc điều chỉnh quyết định không nên do sự vì khi một tình

huống đã hình thành th ì c ó thể kh iế n một quyết định trước đây mất hiệu lực;

do vậy, quyết định đó khơng còn là một nhân tố tổ chức mà trái lại trên một chừng

mực nào đó đang trở thành nhân tố phá hoại.

 Đối với các quyết định được đề ra trong điều kiện bất định, cần dự

kiến trước những sửa đổi trong quá trình thực hiện chúng. Những điều kiện bất

định thể hiện ở chỗ thơng tin khơng đầy đủ, khiến cho tầm dự đốn bị thu hẹp đáng

kể, nhưng nhiệm vụ lại yêu cầu phải đề ra quyết định không chờ đợi đến khi hoàn

toàn hiểu rõ tình hình. Trong điều kiện như vậy, khi đề ra quyết định, nhà quản trị

có thể xuất phát từ điểm khi tình huống đã lộ rõ hoàn tồn hay khi đã tích lũy

được kinh nghiệm cần thiết thì quyết định sẽ được sửa đổi.

 Sự điều chỉnh quyết định không nhất thiết là do xuất hiện tình huống bất

lợi. Chẳng hạn, trong quá trình thực hiện quyết định có thể phát hiện ra những

khả năng mới mà trước đó ta chưa dự kiến được, đem lại kết quả cao hơn kết quả

dự định, vì thế cần có những sửa đổi quyết định.

1.2.4. Một số các quyết định quản trị ngắn hạn trong doanh nghiệp thương mại

Các quyết định ngắn hạn thường gặp ở các DN TM phân theo các loại hoạt

động được thể hiện dưới bảng sau:



23



Bảng 1.1 - Các quyết định ngắn hạn phân theo các hoạt động

Kinh doanh

1. Từ chối hay chấp nhận một

hợp đồng mua hàng

2. Có nên mở rộng kênh phân

phối hàng tại một địa điểm mới

hay khơng



Tài chính

1. Đầu tư tài chính ngắn hạn



Marketing

1. Quyết định về chính

sách khuyến mãi



2. Quyết định về mức tín

dụng cho các đối tượng



2. Quyết định về chi phí



khách hàng khác nhau hay



quảng cáo



các mặt hàng khác nhau.



3. Quyết định giá bán trong

điều kiện kinh doanh thay đổi

4. Quyết định về mức tồn kho

1.3. MỐI QUAN HỆ GIỮA HỆ THỐNG THƠNG TIN KẾ TỐN QUẢN TRỊ

VÀ CÁC QUYẾT ĐỊNH QUẢN TRỊ NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP

THƯƠNG MẠI

1.3.1. Thông tin KTQT-cơ sở cho các quyết định quản trị trong doanh nghiệp

thương mại

1.3.1.1. Cung cấp thông tin cho quá trình lựa chọn phương án thích hợp

Trong giai đoạn này của quy trình ra quyết định, KTQT sẽ cung cấp các

thơng tin mang tính có thể so sánh được giữa các phương án khác nhau hay

các thơng tin mang tính dự báo dưới hình thức các báo cáo KTQT. Trong giai

đoạn này nhiệm vụ chủ yếu của KTQT là thực hiện xử lý và phân tích thơng

tin về tất cả các yếu tố có liên quan và đưa ra các phương án có khả năng. Căn

cứ trên cơ sở thơng tin đã được phân tích này của KTQT, nhà quản trị đưa ra

quyết định.

1.3.1.2. Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra, kiểm sốt thực thi qút định

Giai đoạn kiểm tra, kiểm soát là giai đoạn theo sau giai đoạn lựa chọn

phương án, giai đoạn này tồn tại để đảm bảo phương án được thực thi đúng. Trong



24

giai đoạn này, KTQT sẽ cung cấp các thơng tin mang tính thường xuyên hơn về tình

hình thực hiện quyết định thông qua các báo cáo KTQT về kết quả thực hiện theo

thời điểm và có nội dung so sánh với kết quả dự tốn. Căn cứ vào thơng tin này nhà

quản trị kiểm sốt q trình thực hiện đúng và có thể thực hiện điều chỉnh nếu có

xảy ra những yếu tố ngồi dự đốn. Đây là giai đoạn cơ sở cho giai đoạn phản hồi,

điều chỉnh.

1.3.1.3. Cung cấp thông tin trong cơng tác phản hồi, điều chỉnh

Phản hồi, điều chính cũng là giai đoạn nhằm theo dõi tình hình thực hiện

quyết định và đồng thời xem xét sự thay đổi của mơi trường kinh doanh để có

những biện pháp điều chỉnh thích hợp, tạo ra một quyết định phù hợp nhất. Trong

giai đoạn này, KTQT sẽ cung cấp thông tin qua các báo cáo so sánh giữa kế hoạch

và thực tế và các báo cáo khác về những vấn đề mới phát sinh, sự thay đổi ngồi dự

kiến của mơi trường kinh doanh mà có ảnh hưởng quan trọng đến quyết định.

Thơng tin KTQT trong giai đoạn này có thể bao gồm những thơng tin tài chính và

phi tài chính.

1.3.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại ảnh

hưởng đến KTQT phục vụ ra quyết định ngắn hạn

Kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ thống kế toán của DN, theo dõi

một cách chi tiết và cụ thể hơn các đối tượng kế toán. Do vậy, đặc điểm về loại hình

DN có ảnh hưởng lớn đến cơng tác tổ chức kế tốn quản trị của DN đó.

a. Ảnh hưởng đến tổ chức chứng từ kế toán

Căn cứ trên các chứng từ gốc từ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá

trình hoạt động mua và bán hàng, xây dựng các chứng từ KTQT. Đối với các DN

TM các chứng từ phát sinh cho các nghiệp vụ là các hoạt động mua và bán với các

hình thức mua bán khác nhau, chẳng hạn như bán hàng đại lý, bán hàng trả góp,…

Tùy theo nghiệp vụ kinh tế phát sinh đó sẽ có các chứng từ nhất định như Bảng

thanh toán hàng gửi bán đại lý, Hóa đơn GTGT,....

b. Ảnh hưởng đến tổ chức tài khoản kế toán

Doanh nghiệp căn cứ vào hệ thống tài khoản kế tốn do Bộ Tài chính



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sơ đồ 1.3: Sơ đồ ra quyết định quản trị ngắn hạn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×