Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tuy nhiên, các công cụ phân tích này có những hạn chế vì nó dựa trên giả thuyết kết cấu sản phẩm cố định, tồn kho không thay đổi, công suất máy móc thiết bị không thay đổi, ... Trong khi đó, các nhà quản trị phải thường xuyên đưa ra các quyết định phức tạ

Tuy nhiên, các công cụ phân tích này có những hạn chế vì nó dựa trên giả thuyết kết cấu sản phẩm cố định, tồn kho không thay đổi, công suất máy móc thiết bị không thay đổi, ... Trong khi đó, các nhà quản trị phải thường xuyên đưa ra các quyết định phức tạ

Tải bản đầy đủ - 0trang

25



quyết định phức tạp trước sự biến động liên tục của thông tin liên quan đến hoạt

động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, cần có phương pháp khoa học, tổng hợp, phân

tích và báo cáo ngắn gọn, nhanh chóng những thông tin cần thiết đảm bảo cho việc

ra các quyết định của nhà quản trị được chính xác hơn, đó là phương pháp phân tích

thơng tin chi phí thích hợp cho việc ra quyết định kinh doanh.

1.3.3.2. Phân tích thơng tin chi phí thích hợp cho việc ra quyết định

Phương pháp phân tích thơng tin chi phí thích hợp sẽ hỗ trợ cho nhà quản trị

trong việc lựa chọn các thơng tin thích hợp cho việc ra các quyết định kinh doanh.

Quá trình ra quyết định là việc lựa chọn từ nhiều phương án khác nhau, mỗi

phương án bao gồm rất nhiều thơng tin kế tốn. Trong đó, thơng tin về chi phí ln

là yếu tố quan trọng mà các doanh nghiệp cần xem xét để lựa chọn khi ra các quyết

định thích hợp.

Q trình phân tích thơng tin thích hợp cho việc ra quyết định được thực hiện

qua các bước sau:

- Bước 1: Tập hợp tồn bộ các thơng tin về doanh thu và chi phí của các

phương án đang được xem xét, lựa chọn.

- Bước 2: Loại bỏ những chi phí chìm, là những khoản chi phí khơng thể

tránh được ở mọi phương án đầu tư xem xét.

- Bước 3: Loại bỏ những khoản doanh thu, thu nhập và những khoản chi phí

giống nhau giữa các phương án đang được xem xét.

- Bước 4: Những thơng tin còn lại là những thơng tin thích hợp cho việc ra

quyết định.

Thơng tin thích hợp sẽ khác nhau khi so sánh lựa chọn các phương án kinh

doanh khác nhau ở những điều kiện và môi trường kinh doanh khác nhau. Tuy

nhiên, tùy theo từng mục đích mà kế tốn sử dụng thơng tin thích hợp khác nhau

cho việc ra quyết định. Thơng tin có thể là thích hợp cho phương án này nhưng

khơng thích hợp cho phương án khác. Do đó, cần phải nhận diện và phân loại chi

phí một cách đúng đắn nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị chi phí.



26



1.3.4. Kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện dự tốn chi phí

Cơng tác kiểm tra là một chức năng quan trọng trong kế toán quản trị. Việc

kiểm tra trước, trong và sau các q trình kế tốn quản trị khơng chỉ nhằm mục đích

đánh giá trách nhiệm, thành tích của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận mà còn hỗ trợ cho

việc tổ chức thực hiện cũng như điều chỉnh dự toán đã được lập của doanh nghiệp

và làm cơ sở dự tốn cho các kỳ sau. Vì vậy, nhiệm vụ của công tác kiểm tra là phải

xác định chênh lệch giữa giá trị dự toán và giá trị thực hiện.

Mục tiêu kiểm tra phải trả lời được các câu hỏi sau:

- Cơng tác lập dự tốn của đơn vị được thực hiện như thế nào.

- Cơ sở lập dự tốn có đáng tin cậy khơng, có sát thực tế khơng.

- Số liệu dự tốn có bám sát mục tiêu doanh nghiệp đặt ra khơng.

- Các giải trình để thực hiện được những số liệu đã dự toán

- Số liệu thực tế phải được theo dõi, ghi chép, phản ảnh lên các báo cáo.

- So sánh số liệu thực tế với dự tốn để xem xét xem doanh nghiệp có đạt

được dự tốn đã đặt ra hay khơng.

- Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự biến động các khoản mục chi phí.



PHÂN TÍCH CHI PHÍ

Sản phẩm: ......

Dự tốn



Khoản mục

chi phí



ĐVT

Lượng



Đơn giá



Thực tế

Thành

tiền



Lượng



Đơn giá



Thành

tiền



Biến động, tăng (+),

giảm (-)

Thành

Lượng Đơn giá

tiền



- CP NVLTT

+ NVL chính

+ NVL phụ

- CP NCTT

- CP SXC



Cộng



Từ đó, giúp kiểm sốt chặt chẽ các khoản chi phí phát sinh tại các phân xưởng,

đội trại, phòng ban – là các trung tâm chi phí. Mỗi trung tâm chi phí phải lập các báo

cáo kế tốn phản ảnh tình hình chi phí, bao gồm cả chi phí dự tốn và chi phí thực tế

phát sinh, để từ đó có thể phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự tốn chi phí, xác



27



định những nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của chi phí thực tế so với dự toán

nhằm xác định trách nhiệm của cá bộ phận, cá nhân có liên quan.



1.4. Kinh nghiệm vận dụng KTQTCP ở một số nước trên thế giới

1.4.1. Kinh nghiệm vận dụng kế tốn quản trị chi phí ở Mỹ

Kế tốn quản trị xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào những năm đầu của thế kỉ XIX.

Sự phát triển mạnh cả về quy mô và phạm vi hoạt động của các doanh nghi ệp trong

giai đoạn này đặt ra yêu cầu cho các nhà quản trị phải kiểm soát và đáng giá được

hoạt động của chúng.

Một trong các doanh nghiệp áp dụng kế tốn quản trị đầu tiên ở Mỹ là cơng

ty Dệt Lyman Mills. Để xác định được hiệu quả sản xuất của các sản phẩm cụ thể

và đánh giá được kết quả hoạt động của các bộ phận, công ty này đã áp dụng hệ

thống kế tốn theo dõi tình hình sử dụng vật tư, chi phí nhân cơng và các chi phí



trực tiếp phát sinh hàng ngày.

Trong ngành luyện kim, kế toán quản trị cũng được áp dụng từ rất sớm.

Andrew Carnegie - một doanh nhân lớn của thế kỉ XIX đã áp dụng kế toán quản trị

để quản lý doanh nghiệp của mình từ năm 1872. Dựa trên ý tưởng sử dụng chi phí

như nhau thì phải tạo ra được lợi nhuận bằng nhau, ông ta đã chia doanh nghiệp của

mình ra thành nhiều bộ phận để theo dõi và hạch toán. Carnegie sử dụng báo cáo

hàng tháng về chi phí vật tư và nhân cơng sử dụng ở từng bộ phận để kiểm soát và

đánh giá hoạt động của chúng. Việc kiểm soát chất lượng và cơ cấu vật liệu cũng

được thực hiện trong quá trình sản xuất. Bằng cách này Carnegie đã giảm được chi

phí thấp hơn các đối thủ cạnh tranh, phát huy hết các khả năng sản xuất và đưa ra

được giá bán hợp lý.

Kế toán quản trị tiếp tục phát triển mạnh vào những năm đầu của thế kỷ XX

mà Pierre du Pont, Donaldson Brown và Alfred Sloan là những người đóng góp

nhiều cho sự phát triển của kế toán quản trị trong giai đoạn này. Công ty Du Pont

Power được thành lập vào năm 1903 bằng việc hợp nhất các công ty nhỏ sản xuất

các bộ phận sản phẩm với nhau. Để dễ dàng kiểm soát và đáng giá hiệu quả hoạt



28



động của tùng bộ phận, Du Pont chia công ty thành các bộ phận nhỏ và thay đổi từ

mơ hình quản trị tập trung sang mơ hình quản trị phân quyền. Nhờ áp dụng cơ chế

phân quyền công ty tạo điều kiện cho các nhà quản trị phát huy hết năng lực và chủ

động sáng tạo của họ trong điều kiện được trực tiếp tiếp cận với thơng tin do kế

tốn quản trị cung cấp để ra các quyết định phù hợp và kịp thời.

Sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1930, ủy ban chứng khoán

Mỹ buộc các cơng ty phải cơng bố báo cáo tài chính. Do vậy nghiên cứu kế toán

trong giai đoạn này đều tập trung vào các báo cáo tài chính nên kế tốn quản trị bị

sao nhãng. Cho dến thập kỉ 80, do sức ép cạnh tranh và sự thành công vượt bậc của

các doanh nghiệp ở châu Á, đặc biệt ở Nhật Bản, kế toán quản trị ở Mỹ mới lại

được tiếp tục nghiên cứu và phát triển. Kế toán quản trị cũng được đưa vào giảng

dạy đầu tiên tại Đại học Kinh doanh Harvard và Viện Công Nghệ Massachusets.



1.4.2. Kinh nghiệm vận dụng kế tốn quản trị chi phí ở Nhật Bản

Kinh tế thị trường, xuất hiện từ lâu ở Nhật, nhưng chỉ thực sự đúng nghĩa sau

chiến tranh thế giới thứ II, kế tốn quản trị cũng hình thành, phát triển nhanh từ đó.

Những năm 1950 đến 1970, kế tốn quản trị bắt đầu hình thành từ khởi xướng của

Chính phủ Nhật qua xúc tiến giới thiệu, áp dụng kế toán quản trị Âu, Mỹ cho doanh

nghiệp. Kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất ở Nhật thời kỳ này chịu ảnh

hưởng bởi đặc điểm kế toán quản trị Âu-Mỹ với nội dung đơn giản và hướng đến

trọng tâm kiểm soát dự toán, hoạch định lợi nhuận trong tiến trình tái thiết kinh tế

Nhật sau chiến tranh. Sau những năm 1980 đến những năm cuối thế kỷ 20, nền kinh

tế Nhật đã khôi phục, ổn định, phát triển và bắt đầu hướng ra thị trường quốc tế,

phát triển mạnh nền kinh tế thị trường, cạnh tranh.

Với nguồn lực hạn hẹp, các doanh nghiệp Nhật phải đương đầu với sự bất

ổn, sức ép cạnh tranh từ doanh nghiệp ở các nước cùng với bản sắc văn hoá người

Nhật. Đây cũng là tiền đề nảy sinh kế toán quản trị kiểu Nhật, ảnh hưởng sâu rộng

đến nội dung kế toán quản trị trên thế giới. Đó là kế tốn quản trị với trọng tâm

nâng cao về mặt định tính, tính chất thông tin để giảm những tổn thất nguồn lực

kinh tế sử dụng của quy trình sản xuất kinh doanh, thơng tin để sử dụng có hiệu quả



29



các nguồn lực kinh tế tạo ra giá trị, kế toán quản trị trên hệ thống quản lý với mơ

hình tổ chức linh hoạt, với phương thức quản lý kết hợp giữa tư duy giá trị, với tư

duy chuỗi giá trị.

Tuy nhiên, kế toán quản trị ở Nhật vẫn tiếp tục duy trì những tiến bộ của

phương pháp kỹ thuật định lượng thông tin theo khuynh hướng riêng tạo nên nội

dung kế toán quản trị thịnh hành ngày nay chủ yếu như: xây dựng tiêu chuẩn và phân

loại chi phí, thu nhập, lợi nhuận, xây dựng hệ thống dự toán ngân sách hoạt động

hằng năm, xây dựng kế tốn chi phí theo phương pháp tồn bộ và trực tiếp, kế tốn

chi phí theo mục tiêu, kế tốn chi phí theo cơ sở hoạt động, xây dựng các tiêu chuẩn

đánh giá vốn đầu tư, kế toán các trung tâm trách nhiệm, xây dựng tiêu chuẩn đánh giá

các bộ phận, phân tích biến động chi phí, xây dựng hệ thống điều hành và đánh giá

chi phí, bảng cân đối thành quả, phân tích tính cân đối chi chí- lợi ích, phân tích báo

cáo tài chính,…

Xuất phát từ đề cao tính an tồn, tính tập thể, tính kiểm soát, kiểm soát định

hướng hoạt động, kế toán quản trị ở Nhật có nhiều mối liên hệ với kế tốn tài chính,

gắn kết với hệ thống kế tốn chung, là một bộ phận trong tổ chức bộ máy kế toán.

1.4.3. Kinh nghiệm vận dụng kế toán quản trị chi phí ở các nước châu Âu

Kế tốn quản trị trong doanh nghiệp sản xuất ở các nước châu Âu như Pháp,

Đức, Tây Ban Nha có đặc trưng gắn kết chặt chẽ với kế tốn tài chính, đề cao thơng

tin kiểm sốt nội bộ và có sự ảnh hưởng đáng kể của Nhà nước.

Nền kinh tế thị trường đã xuất hiện khá lâu ở những nước Đơng Âu nhưng kế

tốn quản trị trong doanh nghiệp hình thành, phát triển chậm hơn kế toán quản trị

trong doanh nghiệp sản xuất ở các nước Anh, Mỹ. Được hình thành với mục đích ban

đầu chủ yếu là cung cấp thông tin để các cơ quan quản lý chức năng của nhà nước

giám sát chi phí hoạt động doanh nghiệp nên kế tốn quản trị gần như là sự chi tiết

thêm thơng tin kế tốn tài chính, kế tốn chi phí khn mẫu. Kế tiếp, với nhu cầu

thông tin thực hiện các chức năng quản lý, kế toán quản trị ở những nước này đều có

đặc điểm nổi bật là được xây dựng gắn kết với kế tốn tài chính, quan hệ mật thiết với

chính sách kế toán chung, chịu ảnh hưởng sự can thiệp trực tiếp bằng luật pháp của



30



nhà nước và vẫn đề cao thông tin định lượng, nhưng khuynh hướng trọng tâm là

thơng tin kiểm sốt nội bộ. Vì vậy, kế tốn quản trị ở những nước này rất khuôn

mẫu, phát triển khá chậm so với Anh, Mỹ. Với quan điểm là một cơng cụ cung cấp

thơng tin kiểm sốt, kế tốn quản trị ở các nước châu Âu luôn được tổ chức thành

một bộ phận thuộc kế toán, do kế toán tài chính đảm trách.

1.4.4. Kinh nghiệm vận dụng KTQT chi phí tại các nước Đơng Nam Á

Kế tốn quản trị ở một số nước khu vực Đơng Nam Á còn non trẻ, manh

mún, lệ thuộc và hỗn hợp các khuynh hướng khác nhau.

Các nước khu vực Đông Nam Á hầu như có nền kinh tế thị trường mới phát

triển. Doanh nghiệp ở các nước này có thể chia làm hai loại: một là những doanh

nghiệp nhỏ bé, manh mún trong nước; hai là những chi nhánh của các tập đoàn kinh

tế đa quốc gia từ nước ngồi. Từ đó, hoạt động và tổ chức, quản lý hoạt động sản

xuất kinh doanh cũng đa sắc thái nên kế toán quản trị rất đa dạng; một phần được

chuyển giao, chịu ảnh hưởng từ mơ hình kế tốn quản trị của các cơng ty mẹ ở nước

ngoài rất hiện đại; một phần được các doanh nghiệp trong nước xây dựng, cập nhật

theo nền tảng hoạt động quản lý của họ như khá lạc hậu và có những doanh nghiệp

hồn tồn khơng quan tâm đến kế tốn quản trị. Thực trạng đó dẫn đến kế toán quản

trị trong doanh nghiệp sản xuất ở các nước khu vực Đông Nam Á tồn tại đa dạng về

khuynh hướng, nội dung, trình độ.

1.4.5. Kinh nghiệm vận dụng kế tốn quản trị chi phí tại Việt Nam

Tại Việt Nam, KTQT chỉ thực sự được tìm hiểu vào những năm 90 và được

nghiên cứu có hệ thống từ năm 1999. Thuật ngữ “Kế toán quản trị” mới chỉ được

ghi nhận chính thức trong Luật Kế tốn ban hành vào ngày 17/06/2003. Hiện nay,

KTQT cũng bắt đầu sử dụng trong các tập đồn và cơng ty có quy mơ vừa trở lên để

thu thập, xử lý thông tin về các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp nhằm cung cấp

cơ sở cần thiết để nhà quản trị đưa ra các quyết định điều hành hoạt động sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai.



KẾT LUẬN CHƯƠNG I



31



Kế toán quản trị trong doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng của hệ thống

thơng tin kế tốn, là cơng cụ khoa học, hữu hiệu cung cấp thơng tin nhanh chóng

trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh.

Trong chương I của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu cở lý luận chung về

kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất, tìm hiểu rõ về bản chất, nội dung và vai

trò của kế tốn quản trị chi phí trong doanh nghiệp; phương pháp lập định mức chi

phí, dự tốn chi phí và cơng tác phân tích, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện dự

tốn chi phí trong doanh nghiệp.

Chương I chứa đựng những tiền đề lý luận cơ sở cho việc nghiên cứu thực

trạng cơng tác kế tốn quản trị chi phí tại Cơng ty cổ phần xi măng Hải Vân, từ đó

đưa ra một số giải pháp góp phần hồn thiện cơng tác kế tốn quản trị chi phí tại

Cơng ty nói riêng và cho cơng tác kế tốn quản trị chi phí tại các doanh nghiệp sản

xuất nói chung.



32



CHƯƠNG 2



THỰC TRẠNG CƠNG TÁC KẾ TỐN QUẢN TRỊ

CHI PHÍ TẠI CƠNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG HẢI VÂN

2.1. Giới thiệu khái quát về CTCP xi măng Hải Vân

2.1.1. Q trình hình thành và phát triển Cơng ty

2.1.1.1. Q trình hình thành Cơng ty

Cơng ty cổ phần Xi măng Hải Vân tiền thân là xí nghiệp liên doanh Hồng

Thạch. Từ những năm 1990 đến tháng 4 năm 1994 được Chính phủ, Bộ xây dựng

và UBNN thành phố Đà Nẵng cho phép đầu tư thêm một máy nghiền xi măng với

cơng suất thiết kế 520.000 tấn/năm do Cộng hòa liên bang Đức cung cấp thiết bị,

lắp đặt và chuyển giao công nghệ đưa vào sử dụng đầu năm 1999, nhằm đáp ứng

nhu cầu xây dựng một ngày một gia tăng của thị trường Quảng Nam – Đà Nẵng nói

riêng và khu vực Miền Trung nói chung.

2.1.1.2. Q trình phát triển

Tháng 3 năm 2001 Cơng ty chính thức là đơn vị thành viên của Tổng công ty

xi măng Việt Nam, là đơn vị sản xuất xi măng duy nhất của Tổng công ty xi măng

Việt Nam tại khu vực Miền Trung và các tỉnh Tây Nguyên.

Tổng công suất thiết kế là 600.000 tấn/ năm, với dây chuyền công nghệ hiện

đại, sản phẩm xi măng Hải Vân đã được Bộ Khoa học và công nghệ tặng giải

thưởng chất lượng Việt Nam năm 2007 cho loại hình doanh nghiệp sản xuất lớn.

Sản phẩm xi măng Hải vân đã cung cấp cho nhiều công trình lớn trong khu vực

như: hầm đường bộ Hải vân, cầu Sơng Hàn, cầu Thuận Phước, đê chắn sóng ở cảng

Tiên Sa và nhiều cơng trình hạ tầng giao thơng quan trọng khác.

Trong những năm qua đã đưa gần 5.000.000 tấn sản lượng xi măng Hải Vân

đạt chất lượng tiêu chuẩn Việt Nam cung cấp cho thị trường. Trong đó đã được hai

công ty xi măng lớn là công ty Hà Tiên I và cơng ty Hồng Thạch ký hợp đồng gia

công với sản lượng lớn.



33



Tháng 3 năm 2007 Bộ Trưởng bộ xây dựng đã ban hành quyết định số

367/QĐ-BXD về việc thực hiện cổ phần hóa các cơng ty thành viên hạch tốn độc

lập thuộc cơng ty xi măng Việt Nam. Trong đó cơng ty xi măng Hải Vân là doanh

nghiệp được thực hiện cổ phần hóa trong năm 2007.

Từ ngày 01/04/2008 cơng ty chính thức hoạt động theo mơ hình cơng ty cổ

phần xi Măng Hải Vân trực thuộc Tổng công ty xi măng Việt Nam, với vốn điều lệ

là 185 tỷ đồng.

Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 100184 ngày 15/12/1994 của

ủy ban kế hoạch tỉnh QN-ĐN (nay là sở kế hoạch và đầu tư thành phố Đà Nẵng),

Công ty cổ phần xi măng Hải Vân có các chức năng hoạt động sau:

- Cơng nghiệp sản xuất xi măng

- Kinh doanh xi măng

2.1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của CTCP xi măng Hải Vân

2.1.2.1 Đặc điểm sản phẩm và thị trường

Trong xây dựng, xi măng đóng vai trò quyết định đến chất lượng cơng trình,

việc sử dụng đúng chủng loại xi măng cho từng hạng mục cơng trình sẽ đem lại

hiệu quả kinh tế cao. Để phục vụ một cách tốt nhất cho mọi yêu cầu của khách

hàng, Công ty cổ phần xi măng Hải Vân hiện đang sản xuất các loại sản phẩm xi

măng chính dưới hình thức đóng bao 50kg và xi măng rời :

1. Xi măng pooclăng hỗn hợp PCB30 theo TCVN 6260:1997

2. Xi măng pooclăng hỗn hợp PCB40 theo TCVN 6260:1997

3. Xi măng pooclăng PC40 theoTCVN 2682:1999

4. Xi măng pooclăng PC50 theo TCVN 2682:1999

5. Xi măng pooclăng bền Sunfat theoTCVN 6067:2004

Do đặc trưng của lĩnh vực hoạt động là sản xuất và kinh doanh xi măng (vật

liệu xây dựng) nên thị trường của công ty cổ phần xi măng Hải Vân là khu vực

Miền Trung và Tây Nguyên.



34



2.1.2.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất tại CTCP xi măng Hải Vân

Xi măng Hải Vân được sản xuất trên dây chuyền công nghệ đồng bộ hồn

tồn tự động, thiết bị cơng nghệ do hãng Krupp_Polysius CHLB Đức chế tạo và

cung cấp. Đây là một trong ba hãng chế tạo thiết bị sản xuất xi măng nổi tiếng và

đứng đầu thế giới hiện nay.

Ưu điểm nổi bật của công nghệ này:

- Tỉ lệ các thành phần clinker, thạch cao, phụ gia hoạt tính được phối liệu

đồng nhất và ổn định thông qua thiết bị cân băng định lượng điện tử của hãng

Schenck - CHLB Đức.

- Công đoạn nghiền với phân ly hiệu suất cao được tự động hố hồn tồn xi

măng sau khi nghiền giữ được các yêu cầu kỹ thuật về lý học và hố học làm cho

lượng xi măng ln ổn định.

- Công đoạn làm nguội xi măng thông qua thiết bị làm nguội độc quyền của

hãng Krupp-Polysius- CHLB Đức giữ nhiệt độ xi măng không bị biến đổi về chất

lượng.

- Cơng đoạn đóng bao với chế độ cài tự động bởi thiết bị đống bao của hãng

Have-Boecker luôn đảm bảo khối lượng xi măng đạt yêu cầu qui định và có dung

sai thấp nhất.

- Tồn bộ hoạt động của dây chuyền được điều khiển tại phòng điều khiển

trung tâm nhờ hệ thống điều khiển tự động với các phần mềm nổi tiếng như phần

mềm POCID-DC độc quyền của hãng Krupp-Polysius và phần mểm CEMAT-6.1

chuyên dụng, phổ biến cho ngành xi măng của Hãng SIMENS.

- Với các đặc điểm nổi bật trên, kết hợp với các hệ thống quản lý tiên tiến

của thế giới như: hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000, hệ thống quản lý môi

trường ISO 14001:2004 và phòng thí nghiệm được cơng nhận theo ISO/IEC

17025:2005. Xi măng Hải Vân vinh dự được đứng vào hàng ngũ các đơn vị sản

xuất trong khu vực. Sản phẩm xi măng Hải Vân sản xuất ra đạt chất lượng cao, xuất



35



xi măng có trình độ cơng nghệ hàng đầu Việt Nam và ngang tầm các nước phù hợp

với tiêu chuẩn chất lượng đã công bố và thoả mãn mọi yêu cầu của khách hàng.

Số hiệu 2.1



SƠ ĐỒ QUY TRÌNH SẢN XUẤT XI MĂNG

Si lô clinker



Si lô thạch cao



Si lô phụ gia



Sàn rung



Cân bằng định

lượng



Cân bằng định

lượng



BĂNG TẢI CHÍNH (CÂN BĂNG)



Máy nghiền



Hệ thống làm

nguội

Hệ thống bơm

Aeropol



Si lô xi măng 1



Si lô xi măng 2



Máy đóng bao

số 1



Máy đóng bao

số 2



XUẤT

2.1.3. Đặc điểm tổ chức quản lý tại công ty

2.1.3.1 Sơ đồ bộ máy quản lý của cơng ty

Có thể khái qt mơ hình tổ chức bộ máy quản lý của Cơng ty như sau:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tuy nhiên, các công cụ phân tích này có những hạn chế vì nó dựa trên giả thuyết kết cấu sản phẩm cố định, tồn kho không thay đổi, công suất máy móc thiết bị không thay đổi, ... Trong khi đó, các nhà quản trị phải thường xuyên đưa ra các quyết định phức tạ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x