Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



chi phí vào nhiều loại hình doanh nghiệp, khơng chỉ các doanh nghiệp sản

xuất mà cả các doanh nghiệp kinh doanh ngành dịch vụ, bởi vì tính linh hoạt

của KTQT, KTQT chi phí là rất cao, phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh

doanh của từng ngành, từng doanh nghiệp.

Trong các nghiên cứu trên, các tác giả khái quát được thực trạng cơng

tác kế tốn quản trị, kế tốn quản trị chi phí tại các doanh nghiệp, tác giả cũng

đã đánh giá thực trạng và chỉ ra được những nguyên nhân hạn chế trong việc

tổ chức công tác KTQT, KTQT chi phí của đơn vị và từ đó đưa ra các giải

pháp để tổ chức công tác KTQT hay đưa ra các giả pháp để hồn thiện cơng

tác KTQT, KTQT chi phí tại đơn vị theo phạm vi nghiên cứu của mỗi đề tài.

Tuy nhiên, các nghiên cứu về vấn đề kế tốn quản trị chi phí đối với doanh

nghiệp sản xuất chỉ đề cập đến vấn đề kế toán quản trị chi phí trong các doanh

nghiệp sản xuất nói chung và chủ yếu đi vào đặc trưng của một số ngành và

đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện KTQT chi phí tại các doanh nghiệp.

Như vậy, có thể thấy rằng, các luận văn trên chưa chú trọng nghiên cứu sâu về

KTQT chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất.

Đối với các doanh nghiệp sản xuất thì chi phí sản xuất chiếm tỷ trọng

rất cao trong tổng chi phí phát sinh tại doanh nghiệp. Vì vậy, việc ứng dụng

kế tốn quản trị chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất là công việc

không thể thiếu, nó giúp doanh nghiệp kiểm sốt tốt chi phí, từ đó góp phần

nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Vì vậy, đã có một số tác giả nghiên cứu về kế tốn quản trị chi phí sản

xuất trong doanh nghiệp như: tác giả Phạm Quang Mẫn (2006) với đề tài “Tổ

chức kế tốn quản trị chi phí sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp sản

xuất thức ăn gia súc” - Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, chuyên ngành kế

toán, Đại học Quốc dân. Luận văn đã hệ hóa được lý luận về tổ chức KTQT

chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp, đã đưa ra các mơ hình KTQT của



5



một số nước nhằm rút ra những vấn đề lý luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc

định hướng về tổ chức KTQT chi phí sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp

sản xuất thức ăn gia súc, tác giả đã mô tả và đánh giá cơng tác tổ chức KTQT

chi phí sản xuất, đồng thời đã hoàn thiện một số nội dung tổ chức KTQT chi

phí sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất thức ăn gia súc như:

hoàn thiện việc tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán và sổ kế tốn

trong KTQT chi phí, tổ chức hệ thống tài khoản kế tốn, hồn thiện việc phân

loại chi phí phục vụ yêu cầu quản trị của doanh nghiệp, hoàn thiện hệ thống

báo cáo chi phí, hồn thiện hệ thống chi phí định mức, xây dựng hệ thống dự

tốn chi phí, tổ chức hệ thống thơng tin trong q trình thực hiện. Tuy nhiên,

trong luận văn này tác giả chỉ đề cập việc tổ chức KTQT chi phí sản xuất kinh

doanh cho các doanh nghiệp sản xuất thức ăn gia súc nói chung ở Việt Nam

với điển hình 3 doanh nghiệp với 3 loại hình sở hữu khác nhau, chính vì vậy

giải pháp hồn thiện việc tổ chức KTQT chi phí sản xuất kinh doanh cho các

doanh nghiệp sản xuất nói chung chưa thực sự phù hợp. Tác giả Nguyễn Thu

Phương (2006) với nghiên cứu “Tổ chức công tác kế tốn quản trị chi phí sản

xuất trong một số doanh nghiệp ngành in trên địa bàn Hà Nội” - Luận văn

thạc sĩ quản trị kinh doanh, chuyên ngành kế toán, Đại học Quốc dân. Luận

văn này, tác giả cũng chỉ đề cập đến cơng tác tổ chức KTQT chi phí sản xuất

tại một số doanh nghiệp ngành in trên địa bàn Hà Nội. Các giải pháp đưa ra

nhằm hoàn thiện tổ chức cơng tác kế tốn quản trị chi phí sản xuất trong một

số doanh nghiệp ngành in trên địa bàn Hà Nội cũng chỉ dừng lại ở các nội

dung như: tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử của chi phí,

thiết kế một hệ thống chứng từ chi tiết nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm sốt chi

phí sản xuất của các nhà quản trị, xây dựng hệ thống tài khoản phản ánh chi

tiết định phí và biến phí của từng khoản mục chi phí, thiết kế một số sổ chi

tiết chi phí sản xuất theo cách ứng xử của chi phí, xây dựng hệ thống báo cáo



6



hoạch định chi phí bao gồm: dự tốn mua và sử dụng ngun vật liệu; dự tốn

nhân cơng trực tiếp; dự tốn chi phí sản xuất chung. Qua đó, cho thấy tác giả

chưa đi sâu nghiên cứu việc hoàn thiện các nội dung của KTQT chi phí sản

xuất của các doanh nghiệp sản xuất như lập dự toán linh hoạt về chi phí sản

xuất, lập các báo cáo chi phí để kiểm sốt chi phí sản xuất, tổ chức thơng tin

KTQT chi phí phục vụ cho việc ra quyết định...

Tác giả Nguyễn Thị Hồng Oanh (2010) đã nghiên cứu “Kế tốn quản

trị chi phí sản xuất tại Tổng Cơng ty Cổ phần dệt may Hòa Thọ” - Luận văn

thạc sĩ quản trị kinh doanh, chuyên ngành kế toán, Đại học Đà Nẵng. Trong

luận văn này, qua việc phân tích thực trạng tác giả đã đưa ra các một số giải

pháp để hồn thiện cơng tác KTQT chi phí sản xuất tại Tổng Cơng ty Cổ phần

dệt may Hòa Thọ, các giải pháp chủ yếu tập trung vào vấn đề tổ chức theo

dõi, phân loại chi phí, lập báo cáo phân tích chi phí sản xuất, lập dự tốn linh

hoạt nhằm tăng cường kiểm sốt chi phí nội bộ, tổ chức chứng từ kế toán, tổ

chức hệ thống tài khoản và sổ sách kế toán, tổ chức hệ thống báo cáo KTQT

chi phí sản xuất, phân tích biến động chi phí để chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng,

nâng cao tính hữu ích của thơng tin kế tốn phục vụ cho hoạt động quản trị

doanh nghiệp. Tuy nhiên, luận văn chủ yếu đi vào đặc trưng của doanh nghiệp

sản xuất may mặc, nên đưa ra các giải pháp hoàn thiện cơng tác KTQT chi phí

sản xuất xuất phát từ đặc thù kinh doanh của đơn vị. Ngồi ra, còn có đề tài

nghiên cứu của tác giả Đinh Tuyết Diệu (2011) nghiên cứu “Kế tốn quản trị

chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Thực phẩm Xuất nhập khẩu Lam Sơn”Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, chuyên ngành kế toán, Đại học Đà

Nẵng. Trong luận văn này đã đánh giá được thực trạng cơng tác kế tốn quản

trị chi phí sản xuất tại doanh nghiệp và đưa ra một số giải pháp để hồn thiện

kế tốn quản trị chi phí sản xuất tại đơn vị như: phân loại chi phí sản xuất

theo cách ứng xử, lập dự tốn linh hoạt, xác định lại đối tượng hạch tốn chi



7



phí sản xuất và hoàn thiện phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung, tổ

chức cơng tác hạch tốn phục vụ cho cơng tác KTQT chi phí sản xuất và lập

các báo cáo chi phí để kiểm sốt chi phí sản xuất. Dù vậy, luận văn chỉ tập

trung vào nghiên cứu vấn đề KTQT chi phí sản xuất đặc trưng của ngành chế

biến thủy sản. Như vậy, có thể thấy rằng trong các nghiên cứu trước đây tập

trung nghiên cứu kế tốn quản trị chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp của

nhiều ngành khác nhau như: ngành dệt, may, ngành in, doanh nghiệp chế biến

thủy sản...nhưng chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề kế toán quản

trị chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo nói chung và tại

Nhà máy bánh kẹo Biscafun nói riêng. Chính vì vậy, trong luận văn này sẽ tập

trung nghiên cứu về vấn đề “Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Nhà máy

bánh kẹo Biscafun thuộc Công ty Cổ phần đường Quảng Ngãi”



8



CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TỐN QUẢN TRỊ CHI

PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KẾ TỐN QUẢN TRỊ CHI PHÍ

TRONG DOANH NGHIỆP

1.1.1. Bản chất của kế tốn quản trị chi phí

Kế tốn quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế tốn quản trị

nhằm cung cấp thơng tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản

trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch,

kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý.

Thơng tin kế tốn quản trị chi phí mang tính linh hoạt, thường xuyên và

hữu ích, không bắt buộc phải tuân theo chuẩn mực và chế độ kế tốn hiện

hành. Thơng tin kế tốn quản trị chi phí cung cấp bao gồm cả những thơng tin

quá khứ và những thông tin dự báo thông qua việc lập các kế hoạch và dự

tốn chi phí trên cơ sở các định mức chi phí (bao gồm cả các định mức về số

lượng và định mức về đơn giá) nhằm kiểm sốt chi phí thực tế, đồng thời làm

căn cứ cho việc lựa chọn các quyết định về giá bán sản phẩm, quyết định ký

kết các hợp đồng, quyết định tiếp tục sản xuất hay thuê ngoài gia cơng.

Như vậy, kế tốn quản trị chi phí nhấn mạnh đến tính dự báo của thơng

tin và trách nhiệm của các nhà quản lý thuộc các cấp quản lý. Có thể rút ra

bản chất của KTQT chi phí như sau: [9]

- KTQT chi phí khơng chỉ thu thập và cung cấp thơng tin q khứ mà

còn thu thập, xử lý và cung cấp thông tin hiện tại, hướng về tương lai phục vụ

cho việc lập dự toán, làm căn cứ trong việc lựa chọn các quyết định bán sản

phẩm tại điểm phân chia hay tiếp tục chế biến bán thành phẩm thành sản



9



phẩm hoàn thành rồi mới bán, nên sản xuất hay mua ngoài các chi tiết,... ra

quyết định lựa chọn các phương án kinh doanh hợp lý.

- KTQT chi phí cung cấp các thơng tin về hoạt động kinh tế trong doanh

nghiệp và ngồi doanh nghiệp có liên quan. Những thơng tin có ý nghĩa với

bộ phận, điều hành, quản lý doanh nghiệp.

- KTQT chi phí quan tâm đến các chi phí thực tế phát sinh theo loại chi

phí, tổng mức chi phí và chi tiết theo từng mặt hàng.

- Khi có sự biến động chi phí, trách nhiệm giải thích về những thay đổi

bất lợi thuộc bộ phận nào KTQT chi phí phải theo dõi và báo cáo rõ ràng phục

vụ cho q trình kiểm sốt, điều chỉnh của nhà quản lý.

1.1.2. Nhiệm vụ kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp

- Thu thập, xử lý thơng tin, số liệu về chi phí theo phạm vi, nội dung kế

tốn quản trị chi phí của đơn vị xác định theo từng thời kỳ. Đối tượng nhận

thông tin kế tốn quản trị chi phí là ban lãnh đạo doanh nghiệp và những

người trực tiếp tham gia quản lý, điều hành doanh hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không bắt buộc phải công khai các

thông tin về kế tốn quản trị chi phí cho các đối tượng ở bên ngồi doanh

nghiệp. Phạm vi kế tốn quản trị chi phí khơng bị giới hạn và được quyết định

bởi nhu cầu thơng tin về kế tốn quản trị chi phí của doanh nghiệp trong tất cả

các khâu của quá trình tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, lập kế hoạch,

kiểm tra, điều hành, ra quyết định. Kỳ kế tốn quản trị chi phí thường là

tháng, q, năm như kỳ kế tốn tài chính. Doanh nghiệp được quyết định kỳ

kế tốn quản trị chi phí khác, theo u cầu của mình, có thể là ngày, tuần hoặc

bất kỳ thời gian nào.

- Kiểm tra, giám sát các định mức tiêu chuẩn, dự tốn. Kế tốn quản trị

chi phí là phương tiện để ban giám đốc kiểm soát một cách có hiệu quả chi

phí nói riêng và hoạt động của doanh nghiệp nói chung. Chính vì vậy, kế tốn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×