Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

8

thịnh hay suy thoái của nền kinh tế và sự tác động thuận lợi hay bất lợi của

môi trường chính trị và tự nhiên. Như vậy, ngân hàng được coi là nơi phải

hứng chịu mọi rủi ro từ mọi sự bất ổn của nền kinh tế, mọi rủi ro của khách

hàng. Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng rủi ro tín dụng khơng hồn tồn

nằm trong kiểm sốt của ngân hàng.

1.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng



Rủi ro

giao dịch



Rủi ro

lựa chọn



Rủi ro

danh mục



Rủi ro bảo

đảm



Rủi ro

nghiệp vụ



Rủi ro

nội tại



Rủi ro tập

trung



- Rủi ro giao dịch: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong

quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao

dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo, rủi ro nghiệp vụ.

+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân

tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả

để quyết định cho vay.

+ Rủi ro đảm bảo: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều

khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo,

cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo.



9

+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay

và hoạt động cho vay bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ

thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.

- Rủi ro danh mục: là mợt hình thức của rủi ro tín dụng mà ngun

nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân

hàng, được phân chia thành hai loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.

+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang

tính chất riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.

Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách

hàng vay vốn.

+ Rủi ro tập trung: là ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối

với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghhiệp hoạt động trong

cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định

hoặc cùng mợt loại hình cho vay có rủi ro cao.

1.1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng

* Nhân tố thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng: trước hết phải

nói đến các ngân hàng còn thiếu một chính sách tín dụng nhất quán, chính

sách tín dụng ở đây bao gồm định hướng chung cho việc cho vay, chế độ tín

dụng ngắn hạn, trung và dài hạn, các quy chế đảm bảo tiền vay, danh mục lựa

chọn khách hàng trong từng giai đoạn,…

* Nhân tố thuộc về phía ngân hàng:

- Ngân hàng không có đủ thông tin về các số liệu thống kê, chỉ tiêu để

phân tích và đánh giá khách hàng,…dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của

phương án xin vay, hoặc xác định thời hạn cho vay và trả nợ không phù hợp

với phương án kinh doanh của khách hàng.

- Sự lơi lỏng trong quá trình giám sát trong và sau khi cho vay nên

không phát hiện kịp thời hiện tượng vốn sai mục đích.



10

- Quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, coi đó là vật

đảm bảo chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay.

- Chạy theo số lượng (hoặc theo kế hoạch) mà sao nhãng việc coi trọng

chất lượng khoản vay, quá lạc quan và tin tưởng vào sự thành công của

phương án kinh doanh của khách hàng.

- Ngân hàng thiếu một bộ phận chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro,

quản lý hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc từng ngành nghề,

sản phẩm địa phương khác nhau để phân tán rủi ro, các dự báo cần thiết trong

từng thời kỳ.

- Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng ngân hàng

chưa đủ tầm và vấn để quản lý sử dụng, đãi ngộ cán bộ ngân hàng chưa thỏa

đáng.

- Ngân hàng không giải quyết hợp lý quan hệ giữa nguồn vốn huy động

và nguồn vốn sử dụng, cụ thể là: dự trữ vốn quá ít so với nhu cầu đảm bảo

thanh toán, từ đó dẫn đến mất khả năng thanh toán nếu khách hàng có nhu cầu

rút vốn nhiều; hoặc dư vốn quá nhiều, gây ứ đọng vốn, lãng phí trong sử dụng

vốn; hoặc lấy vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn quá mức quy định.

- Cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng chưa thực sự lành mạnh, việc

chạy theo quy mô, bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện trong cho vay, thiếu quan

tâm đến chất lượng khoản vay.

* Nhân tố về phía khách hàng:

- Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay.

Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có phương án kinh doanh

cụ thể, khả thi. Số lượng doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo

ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều. Tuy nhiên, những vụ việc phát

sinh lại hết sức nặng nề và liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh

hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác.



11

- Năng lực quản lý kinh doanh kém, đầu tư nhiều lĩnh vực vượt quá khả

năng quản lý.

- Khách hàng vay vốn tại nhiều tổ chức tín dụng dưới một danh nghĩa

hay nhiều thực thể khác nhau nên thiếu sự phân tích trên tổng thể, khó theo

dõi được dòng tiền dẫn đến việc sử dụng vốn vay chồng chéo và mất khả năng

thanh tốn dây chùn.

- Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch. Quy mô

tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của

hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ,

chính xác, rõ ràng các sở sách kế tốn vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân

thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Do vậy, sở sách kế tốn mà các doanh

nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi mang tính chất hình thức hơn là

thực chất. Do đó, khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của

doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp thường thiếu tính

thực tế và xác thực.

- Doanh nghiệp cố tình lừa đảo ngân hàng.

* Nhân tố khách quan:

- Sự thay đổi của môi trường tự nhiên: thiên tai, dịch bệnh, bão lụt gây

tổn thất cho khách hàng vay vốn kinh doanh.

- Sự biến động quá nhanh và không dự đốn được của thị trường thế

giới. Bởi vì nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất

nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực

phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công,…vốn rất nhạy cảm với rủi ro

thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến

động xấu.

- Sự tấn công của hàng nhập lậu. Với hàng trăm km biên giới trên bợ và

trên biển cùng địa hình địa lý phức tạp và tình hình nghèo khó của dân cư



12

vùng biên giới, cuộc chiến đấu với hàng nhập lậu vẫn tràn lan tại các thành

phố lớn, làm điêu đứng các doanh nghiệp trong nước và các ngân hàng đầu tư

vốn cho các doanh nghiệp này.

- Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi và sự kém hiệu quả của

cơ quan pháp luật cấp địa phương trong việc triển khai.

Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội,

Chính Phủ, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan đã ban hành

nhiều luật, văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động

tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có, song việc triển khai

vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiều bất

cập.

- Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của Ngân hàng Nhà

nước. Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân

hàng và đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng;

năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu; nội dung và

phương pháp thanh tra, giám sát còn lạc hậu, chậm được đởi mới; vai trò kiểm

tốn chưa được phát huy và hệ thống thông tin chưa được tổ chức một cách

hữu hiệu; thanh tra tại chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm sốt

tồn bộ thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro còn yếu,…

- Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập. Hiện nay, trung tâm thông tin

tín dụng ngân hàng (CIC) của ngân hàng nhà nước đã hoạt động hơn một thập

niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung

cấp thông tin tín dụng. Tuy nhiên, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập

nhật, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứa thông tin.

- Sự thay đổi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát, chỉ số giá cả tăng,

nguyên vật liệu đầu vào tăng làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của

khách hàng, khó khăn tài chính dẫn đến không có khả năng trả nợ.



13

1.1.4. Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với hoạt động của NHTM

- Đối với ngân hàng:

+ Về mặt tài chính: do không thu được nợ (gốc và lãi) ngân hàng đã bị

giảm doanh thu trong khi vẫn chi trả tiền lãi – lãi đầu vào của nguồn vốn huy

động, gây mất cân đối trong thu chi nghiệp vụ. Nợ quá hạn chính là hậu quả

của ngân hàng phải gánh chịu. Không thu được nợ, vòng quay vốn tín dụng

không thực hiện được, ngân hàng không có khả năng đảm bảo vốn lưu động,

hạn chế cả vai trò phục vụ lẫn chức năng kinh doanh của tín dụng ngân hàng.

+ Về mặt xã hội: từ rủi ro tín dụng dẫn đến rủi ro thanh khoản gây mất

lòng tin, mất tín nhiệm trong nhân dân, gây tâm lý không ổn định khách hàng

ồ ạt rút tiền ở ngân hàng dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng.

- Đối với chính quyền quản lý cấp trên ngân hàng: gây mất lòng tin,

không tin tưởng vào sự chỉ đạo hoạt động của cấp cơ sở.

Do làm ăn thua lỗ, tâm lý cán bộ công nhân viên ngân hàng chán nản,

không tin tưởng vào sự hoạt đợng của chính bản thân mình, mợt số nhân viên

có năng lực xin chuyển công tác.

- Đối với nền kinh tế: hoạt động của ngân hàng có liên quan đến doanh

nghiệp, dân cư và tồn bợ nền kinh tế. Vì vậy, khi rủi ro xảy ra làm phá sản

mợt vài ngân hàng sẽ dễ lây lan sang ngân hàng khác làm xuất hiện tâm lý sợ

hãi trong dân cư do sự phá sản của ngân hàng mà đua nhau rút tiền ồ ạt. Trên

thế giới không phải không có, gần đây nhất là sự phá sản của một loạt các

ngân hàng lớn ở Mỹ (2001). Ơ Việt Nam cũng đã từng xảy ra sự đổ vỡ hệ

thống quỹ tín dụng trong những năm 1990-1991.

Hiện tượng sụp đổ các ngân hàng là vấn đề mà chính phủ các nước rất

lo ngại, do đó ngân hàng trung ương thường khuyến cáo các ngân hàng đặc

biệt là thực hiện tài trợ vốn để cứu nguy tạm thời. Tuy nhiên để hạn chế rủi ro



14

và thiệt hại trong kinh doanh thì các ngân hàng phải là người trực tiếp quản lý

phòng ngừa rủi ro.



1.2. HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI

1.2.1. Quan niệm về hạn chế và hạn chế rủi ro tín dụng

Hạn chế là các hoạt động nhằm phòng ngừa để giảm thiểu khả năng

xảy ra sự việc không mong muốn nào đó và đưa ra các biện pháp xử lý sự

việc đó khi đã xảy ra.

Hạn chế rủi ro tín dụng là các hoạt động mà ngân hàng đưa ra nhằm

phòng ngừa để giảm thiểu khả năng xuất hiện rủi ro tín dụng và đưa ra các

biện pháp xử lý khi rủi ro tín dụng đã xảy ra.

1.2.2. Hoạt động hạn chế rủi ro tín dụng

Với quan niệm trên, hoạt động hạn chế rủi ro tín dụng tại các ngân hàng

thương mại bao gồm các nội dung sau:

a. Các hoạt động nhằm phòng ngừa rủi ro tín dụng

 Xây dựng chính sách tín dụng và quy trình phân tích tín dụng

hợp lý, khoa học

Chính sách tín dụng bằng văn bản là yếu tố căn bản, là nền tảng để

quản trị tín dụng hiệu quả. Chính sách tín dụng đặt ra mục tiêu, tham số định

hướng cho cán bộ ngân hàng, những người làm công tác cho vay và quản trị

danh mục đầu tư. Chính sách được xây dựng khoa học, cẩn thận, thông suốt

từ trên xuống dưới tạo điều kiện cho ngân hàng duy trì tiêu chuẩn tín dụng

của mình, tránh rủi ro quá mức và đánh giá đúng về cơ hội kinh doanh. Các tổ

chức giám sát hoạt động ngân hàng trên thế giới đều coi một chính sách tín

dụng được xây dựng đúng đắn là điều kiện thiết yếu để quản trị tốt rủi ro tín

dụng.

Nội dung cơ bản của một chính sách tín dụng thông thường bao gồm:



15

- Miêu tả thị trường tín dụng mục tiêu của ngân hàng;

- Tuyên bố về tiêu chuẩn đối với danh mục cho vay của ngân hàng;

- Xác định quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ tham gia quá trình ra

quyết định cho vay;

- Những thủ tục, hoạt đợng cần thiết cho việc chào mời, xem xét, đánh

giá và ra quyết định đối với yêu cầu vay vốn của khách hàng;

- Các tài liệu cần thiết trong hồ sơ vay vốn;

- Hướng dẫn tiếp nhận, đánh giá, bảo quản tài sản thế chấp;

- Chính sách, phương pháp xác định lãi suất, các khoản phí và thời hạn

vay vốn, kỳ hạn trả nợ;

- Giới hạn cho vay tối đa của từng ngành hàng, từng nhóm sản phẩm

đối với toàn danh mục, của tổng dư nợ đối với tổng tài sản ngân hàng;

- Phát hiện, phân tích và xử lý các khoản vay có vấn đề;

- Chính sách cho vay thận trọng đối với các ngân hàng có khó khăn tạm

thời.

Quy trình tín dụng do Ban Giám đốc ngân hàng quyết định, được xây

dựng một cách chi tiết và quán triệt từ trên xuống. Nó thể hiện những nội

dung mà cán bộ tín dụng phải thực hiện từ trước, trong và sau khi cho vay

nhằm hạn chế rủi ro tín dụng.

 Phân loại và đánh giá khách hàng

Các nhà kinh tế, các nhà phân tích ngân hàng đã sử dụng nhiều mơ hình

khác nhau để đánh giá rủi ro tín dụng. Các mơ hình này rất đa dạng, bao gờm

các mơ hình phản ánh về mặt định lượng và những mơ hình phản ánh về mặt

định tính (còn được gọi là phương pháp chất lượng, phương pháp chủ quan,

phương pháp chuyên gia hay phương pháp truyền thống của rủi ro tín dụng).

Ngồi ra, các mơ hình này khơng loại trừ lẫn nhau, nên một ngân hàng có thể



16

sử dụng nhiều mô hình để phân tích đánh giá mức đợ rủi ro tín dụng của

khách hàng.

Mơ hình định tính về rủi ro tín dụng

Phân tích tín dụng truyền thống thường dựa vào đánh giá chủ quan để

xác định mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng. Phương pháp phân tích tín

dụng này đi sâu nghiên cứu chi tiết "6 khía cạnh - 6C" của người xin vay là:

Tư cách (Character), năng lực (Capacity), thu nhập (Cash), bảo đảm

(Collateral), điều kiện (Conditions), và kiểm soát (Control). Tất cả các tiêu

chí này phải được đánh giá tốt, thì khoản vay mới được xem là khả thi.

- Tư cách người đi vay (Character): cán bộ tín dụng phải làm rõ mục

đích xin vay của khách hàng, mục đích xin vay của khách hàng có phù hợp

với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không, đồng thời xem

xét lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ; còn khách hàng mới cần

thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như: từ trung tâm phòng ngừa rủi ro,

từ ngân hàng bạn, từ các cơ quan thông tin đại chúng,…

- Năng lực cạnh tranh (Capacity): tùy thuộc vào quy định pháp luật của

quốc gia đòi hỏi người đi vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực

hành vi dân sự.

- Thu nhập của người đi vay (Cash): trước hết phải xác định được

nguồn trả nợ của người đi vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay thu

nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán,…

- Bảo đảm tiền vay (Collateral): đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín

dụng và là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng.

- Các điều kiện (Conditions): ngân hàng quy định các điều kiện tùy

theo chính sách tín dụng từng thời kỳ như cho vay hàng xuất khẩu với điều

kiện thâu ngân phải qua ngân hàng, nhằm thực thi chính sách tiền tệ ngân

hàng Trung ương theo từng thời kỳ…



17

- Kiểm soát (Control): tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của

luật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến người

vay hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn

của ngân hàng hay khơng?

Các mơ hình lượng hoá rủi ro tín dụng

Nếu các ngân hàng chỉ dựa duy nhất vào phương pháp truyền thống để

đánh giá rủi ro tín dụng thì vừa mất thời gian, tốn kém, lại mang tính chủ

quan. Vì vậy, mợt số ngân hàng đã sử dụng mơ hình cho điểm để lượng hoá

rủi ro tín dụng của người vay. Mơ hình cho điểm tín dụng có ưu điểm so với

phương pháp truyền thống ở chỗ: nó cho phép xử lý nhanh chóng một khối

lượng lớn các đơn xin vay, với chi phí thấp, khách quan. Do đó góp phần tích

cực trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng ngân hàng. Các mơ hình cho điểm tín

dụng sử dụng các số liệu phản ánh những đặc điểm của người vay để lượng

hoá xác suất vỡ nợ cũng như phân loại người vay thành các nhóm có mức độ

rủi ro khác nhau. Để sử dụng các mơ hình này, các nhà quản lý phải xác định

được các tiêu chí về kinh tế và tài chính liên quan đến rủi ro tín dụng đối với

từng nhóm khách hàng cụ thể: Mô hình xếp hạng của Moody's, mơ hình điểm

số A, mơ hình của Taffler, hệ thống cho điểm tín dụng, hệ thống xếp hạng nợi

bợ, mơ hình điểm số tín dụng tiêu dùng.

 Kiểm tra, kiểm soát nội bộ

Kiểm tra việc tuân thủ các cơ chế, quy chế, quy trình nghiệp vụ và các

quy định pháp luật trong hoạt động kinh doanh của các bộ phận chức năng

chuyên môn, trong đó đặc biệt là hoạt động tín dụng nhằm phát hiện, ngăn

ngừa và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín

dụng, đồng thời phát hiện và ngăn chặn những rủi ro đạo đức do cán bộ tín

dụng gây ra.



18

 Phân tán rủi ro tín dụng

Phân tán rủi ro trong hoạt động tín dụng là việc cấp tín dụng cho nhiều

ngành, nhiều lĩnh vực, khu vực sản xuất kinh doanh nhằm tránh những tổn

thất lớn xảy ra cho ngân hàng thương mại. Các hình thức phân tán rủi ro chủ

yếu:

- Không tập chung cấp tín dụng cho một ngành, một lĩnh vực, hay một

khu vực.

Khi ngân hàng tập trung cấp tín dụng cho một lĩnh vực kinh tế sẽ giống

như "Bỏ trứng vào cùng một giỏ" điều đó có nghĩa là khi lĩnh vực kinh tế mà

ngân hàng tập trung vốn đầu tư gặp phải những biến đợng bất lợi thì thiệt hại

của ngân hàng sẽ là vô cùng lớn. Như vậy, phân tán rủi ro hay chia nhỏ lĩnh

vực đầu tư, ngành đầu tư, khu vực đầu tư là một biện pháp hữu hiệu cho các

ngân hàng trong công tác phòng chống rủi ro.

- Không nên dồn vốn đầu tư vào một hoặc một số khách hàng.

Cũng giống như trên khi ngân hàng tập trung cấp tín dụng cho một

hoặc một số khách hàng sẽ giống như "Bỏ trứng vào cùng một giỏ". Cho dù

một hoặc một số khách hàng kinh doanh hiệu quả hay có quan hệ lâu năm với

ngân hàng thì yêu cầu trên vẫn cần được tuân thủ bởi vì nếu khách hàng gặp

khó khăn, rủi ro đợt xuất xảy ra thì ngân hàng cũng chịu tởn thất lớn.

- Đa dạng hố các sản phẩm tín dụng

- Đa dạng hoá các sản phẩm tín dụng có tác dụng phân tán rủi ro theo

danh mục tài sản, giảm thiệt hại xảy ra khi có rủi ro đối với một vài loại tài

sản nhất định.

- Cho vay đờng tài trợ

Hình thức cho vay đờng tài trợ nâng cao năng lực và hiệu quả trong

hoạt động cho vay, giúp ngân hàng thương mại phân tán được rủi ro mà vẫn

không bị mất nguồn thu từ phương án kinh doanh khả thi. Các tổ chức tín



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×