Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.16 Bảng cơ cấu các nhóm nợ xấu doanh nghiệp tại BIDV Hải Vân giai đoạn 2008- 2011

Bảng 2.16 Bảng cơ cấu các nhóm nợ xấu doanh nghiệp tại BIDV Hải Vân giai đoạn 2008- 2011

Tải bản đầy đủ - 0trang

59

- Duy trì và lựa chọn những khách hàng tốt, có uy tín trong vay trả để cấp tín

dụng, đồng thời thu hẹp các khoản tín dụng đối với các khách hàng được xem là có

nguy cơ nợ quá hạn, gây rủi ro.

2.3.2.2 Những mặt tồn tại của công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay tại

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân

- Cơng tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay đã được thực hiện nhưng vẫn

còn bất cập, việc cảnh báo cũng như dự báo tiềm ẩn rủi ro chưa hiệu quả.

- Phòng Quản lý rủi ro chưa thực hiện đầy đủ chức năng cảnh báo rủi ro cho

chi nhánh như chưa xây dựng danh mục khách hàng, ngành hàng ưu tiên phát triển,

danh mục khách hàng, ngành hàng cần hạn chế cho vay, không thường xun phân

tích, đánh giá tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh của khách hàng.

- Cơng tác kiểm sốt rủi ro của Chi nhánh thường tập trung chủ yếu vào khâu

kiểm tra trước và trong khi cho vay. Vấn đề kiểm tra sau khi cho vay của cán bộ quan

hệ khách hàng đối với khách hàng thực hiện mang tính hình thức, chưa được thường

xun và chặt chẽ.

- Cơng tác kiểm soát nội bộ chưa được thực hiện thường xuyên, chất lượng còn

thấp, chưa dự báo và đưa cảnh báo sớm đối với các rủi ro cũng như đề ra các biện pháp

hạn chế rủi ro kịp thời. Công tác kiểm soát nội bộ chỉ mới dừng lại ở mức độ là phát

hiện, xử lý vụ việc khi xảy ra rủi ro.

- Phân tán rủi ro tín dụng trong cho vay tại Chi nhánh chưa hiệu quả, cho vay

tập trung quá nhiều vào một số ít doanh nghiệp lớn như Hồng Đạt Silver shore,

Tổng cơng ty cổ phần xây dựng Điện Việt Nam, Công ty cổ phần cao su Đà Nẵng,

Cơng ty cổ phần Đầu tư Sài Gòn – Đà Nẵng, nguy cơ tiềm ẩn rủi ro lớn.

- Hầu hết các dự án đều cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn

vay nên tính thanh khoản khơng cao, giá trị lớn, khó chuyển nhượng. Nếu xảy ra rủi

ro thì việc xử lý tài sản để thu hồi nợ gặp nhiều khó khăn.

- Thơng tin mà Chi nhánh có được từ khách hàng là do chính khách hàng cung

cấp, từ phỏng vấn trực tiếp từ người vay. Các báo cáo tài chính do khách hàng vay cung

cấp đa số chưa qua kiểm toán và thiếu sự minh bạch. Do đó, tính khách quan và tính



60

chính xác là không cao. Điều này ảnh hưởng đến công tác xếp hạng khách hàng.

- Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế. Khả năng thích ứng của một số cán bộ

với mơi trường cạnh tranh gay gắt còn chậm, kỹ năng phân tích diễn biến thị trường, tình

hình tài chính, phi tài chính của khách hàng còn hạn chế, thiếu cập nhật, làm việc theo

cảm tính, chủ quan và dựa vào kinh nghiệm nên dễ xảy ra sai sót và rủi ro cao. Ngồi ra,

cơng tác đào tạo, quy hoạch nguồn nhân lực chưa được quan tâm đúng mức, khả năng

hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp sẽ rất khó khăn, cơng tác quản trị rủi

ro tín dụng còn nhiều vấn đề phải bàn tới.

2.3.2.3 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại

BIDV Hải Vân trong thời gian qua



 Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh

- Sự biến động của nền kinh tế: Khủng hoảng tài chính xảy ra cùng với nền

kinh tế thế giới đi vào thời kỳ suy thối dẫn đến nhu cầu tiêu dùng hàng hóa tồn

cầu tụt giảm, cạnh tranh ngày càng gay gắt, các luồng vốn đầu tư nước ngoài ngày

càng hạn chế. Đối với trong nước, áp lực từ sự suy giảm nền kinh tế toàn cầu đã

dẫn đến hoạt động xuất nhập khẩu giảm sút mạnh mẽ, sức tiêu thụ hàng hóa trong

nước giảm mạnh, luân chuyển vốn chậm, cùng lúc đó lạm phát tăng phi mã đã đẩy

lãi suất cho vay tăng cao đã khiến cho doanh nghiệp Việt Nam đã khó khăn càng

khó khăn hơn. Diễn biến này có tác động và ảnh hưởng lớn đến hầu hết các doanh

nghiệp, trong đó ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa,

hộ sản xuất kinh doanh với tiềm lực tài chính nhỏ và yếu. Một khi, các doanh

nghiệp chấp nhận đi vay với lãi suất cao trong lúc đầu ra của sản phẩm gặp khó

khăn, canh tranh gây gắt dẫn đến gia tăng chi phí, lợi nhuận trước lãi vay khơng

đủ trang trải chi phí tài chính làm giảm hiệu quả kinh doanh hoặc kinh doanh thua

lỗ, mất khả năng thanh toán, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến chất

lượng nợ xấu trong thời gian vừa qua tại Chi nhánh.



 Nguyên nhân từ phía khách hàng

- Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch:



61

Đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, tại Đà

Nẵng nói riêng có quy mô tài sản và nguồn vốn nhỏ, tỷ lệ nợ so với vốn chủ sở

hữu cao. Với năng lực tài chính như vậy, để hoạt động được thì các doanh nghiệp

phải dựa chủ yếu vào chiếm dụng vốn lẫn nhau và vay Ngân hàng, tỷ trọng vốn tự

có tham gia vào dự án kinh doanh không đáng kể. Cho nên mọi thua lỗ, rủi ro

trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tác động ngay tới Ngân hàng, nếu doanh

nghiệp bị thua lỗ, phá sản thì Ngân hàng có nguy cơ mất vốn. Ngoài ra, việc đánh

giá và ghi nhận các khoản hạch toán cho đúng, đầy đủ và rõ ràng vào sổ sách kế

toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ. Do vậy, sổ sách kế toán mà các

doanh nghiệp cung cấp cho Chi nhánh Hải Vân khi đề nghị vay vốn nhiều khi

mang tính chất hình thức hơn thực chất. Cho nên khi đánh giá, phân tích các chỉ

tiêu tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp

thường thiếu tính xác thực và thực tế. Đây cũng là nguyên nhân, lý do vì sao Chi

nhánh Hải Vân vẫn xem phần tài sản thế chấp là căn cứ để cho vay cũng như là

chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng. Chính vì vậy, một hệ quả tất

yếu là khách hàng khơng đủ vốn cần thiết để kinh doanh, vòng quay vốn chậm dẫn

đến không trả nợ đúng hạn cho Ngân hàng. Đây là nguyên nhân của rủi ro sai hẹn,

nợ quá hạn và nợ xấu tăng trong thời gian qua.

- Do năng lực quản trị điều hành còn hạn chế

Tại Chi nhánh, phần lớn khách hàng vay là doanh nghiệp chưa có chiến

lược kinh doanh dài hạn cũng như chủ động trong việc tìm kiếm thơng tin về sự

biến động của giá cả thị trường, ngành hàng, về tình hình hoạt động kinh doanh

của đối tác, đối thủ cạnh tranh, từ đó doanh nghiệp thiếu khả năng thích ứng kịp

thời với sự biến động và sức ép cạnh tranh ngày càng tăng của thị trường. Bên

cạnh đó, kỹ năng quản lý của các doanh nghiệp này chậm đổi mới, thiếu kinh

nghiệm kinh doanh quốc tế trước yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao và năng động của

thị trường nên rủi ro dễ xảy ra và mất vốn là điều không thể trành khỏi. Mặt khác,

các doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh thông thường tập trung vốn đầu tư

vào cơ sở vật chất, còn đổi mới cách thức, phương thức quản lý chưa được quan



62

tâm. Thực tế khách hàng có quan hệ tín dụng Chi chánh Hải Vân, đa phần các

khách hàng hoạt động khá hiệu quả khi còn ở quy mơ vừa và nhỏ, nhưng sau khi

đầu tư phát triển lớn mạnh với nhiều dự án kinh doanh lớn thì khả năng quản lý

khơng theo kịp với tốc độ tăng trưởng và đã làm cho hoạt động sản xuất kinh

doanh bị đình trệ, phát sinh những khoản chi phí, thiệt hại, ảnh hưởng đến khả

năng hồn trả nợ vay cho Ngân hàng.

- Do sử dụng vốn sai mục đích, khơng có thiện chí trả nợ

Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn Ngân hàng đều có các phương án kinh

doanh cụ thể và có tính khả thi. Tuy nhiên sau khi vay khơng ít khách hàng đã

dùng một phần vốn vay thực sự được sử dụng vào hoạt động kinh doanh, phần

khác thì dùng cho mục đích khác như đầu tư vào bất động sản, mua sắm vật dụng,

thậm chí là tiêu xài cá nhân… Bên cạnh đó, một số trường hợp khách hàng xin

vay ngắn hạn nhưng thực tế là sử dụng một phần để đầu tư trung dài hạn nhằm mở

rộng sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, đối với các khoản nợ đến hạn của các khoản

vay trung dài hạn do dự án không phát hiệu quả nên khơng có nguồn để trả nợ,

hoặc Ngân hàng xác định thời gian trả nợ không phù hợp với thời gian khấu hao tài

sản đối với cho vay dự án, khách hàng vay phải sử dụng vốn lưu động để trả nợ vay

trung dài hạn. Mặt khác, thời gian cho vay của Ngân hàng không phù hợp với vòng

quay vốn của khách hàng, thời gian cho vay có thể dài hơn hoặc ngắn hơn thời gian

hoàn vốn dẫn đến khách hàng khơng có nguồn để trả nợ hoặc dùng nguồn tiền thu

được sử dụng vào mục đích khác. Điều này rất nguy hiểm, sẽ ảnh hưởng đến dòng

tiền của doanh nghiệp và làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay cho Ngân hàng,

hệ quả là dẫn đến phát sinh nợ xấu. Bên cạnh đó, có trường hợp là sau khi kết thúc

chu kỳ kinh doanh, mặc dù có lợi nhuận nhưng khách hàng vẫn cố tình chây ỳ,

khơng chịu trả nợ nhằm mục đích chiếm dụng vốn Ngân hàng.



 Ngun nhân từ phía Ngân hàng

- Cơng tác thu thập thơng tin tín dụng khơng đầy đủ và chính xác

Thơng tin tín dụng đầy đủ và chính xác là yếu tố quyết định để đánh giá tình

hình hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ và thiện chí trả nợ



63

của người vay để Ngân hàng ra quyết định cho vay. Trong hồ sơ tín dụng của khách

hàng, Ngân hàng cần phải có các thơng tin rõ ràng, đặc biệt là các báo cáo tài chính

và thơng tin tín dụng khác cũng cần minh chứng cụ thể mục đích, nhu cầu vốn vay,

và nguồn trả nợ. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam, do hoạt động

kiểm toán chưa bắt buộc đối với các thành phần kinh tế, cơng tác kế tốn và báo cáo

tài chính chưa thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật vì vậy tính minh bạch

về tài chính còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, do thơng tin trong nền kinh tế phục vụ

cho công tác lập và thẩm định dự án đầu tư còn rất thiếu, chưa cập nhật và đơi khi

còn thiếu chính xác. Chính từ những lý do trên, Chi nhánh Hải Vân thường gặp

nhiều khó khăn về tính chính xác của thơng tin do khách hàng cung cấp để thẩm

định hiệu quả khoản vay, kiểm tra và giám sát trong quá trình cho vay đối với người

đi vay. Hiện nay, Ngân hàng khi đánh giá năng lực tài chính, thẩm định hiệu quả các

khoản vay, dự án đầu tư để ra quyết định cho vay hay không đa phần đều dựa trên

nguồn thông tin từ khách hàng. Các thông tin do khách hàng cung cấp thường thiếu

các tính chuẩn xác về năng lực tài chính, khả năng trả nợ…. Chính vì vậy, kết quả

các chỉ tiêu thẩm định đôi lúc không đảm bảo tính chính xác.

Trong thời gian qua, do tính cạnh tranh giữa các Ngân hàng cho nên chưa có

sự phối hợp cung cấp thơng tin, thậm chí còn dấu thơng tin giữa các Ngân hàng với

nhau. Bên cạnh đó, hệ thống thơng tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước (CIC) cập

nhật chưa đầy đủ, thiếu chính xác và đa phần thơng tin được báo cáo bằng các mẫu

biểu nên khó sử dụng phân tích nên đây chưa phải là kênh thơng tin chủ yếu để các

NHTM khai thác.

Với tình trạng thơng tin bất cân xứng, ngồi thơng tin do người đi vay và các

cơ quan có chức năng cung cấp thì Ngân hàng thường dựa vào kinh nghiệm thực tế

của mình để ra quyết định cho vay. Nguyên nhân này ít nhiều đã góp phần làm gia

tăng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng.

- Lạm dụng tài sản thế chấp để cho vay

Do thiếu thông tin đầy đủ về khách hàng hoặc là khách hàng mới thiết lập

quan hệ tín dụng nên Ngân hàng thường quan tâm đến phần tài sản thế chấp như là



64

chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, việc dựa dẫm quá

nhiều vào tài sản thế chấp thay vì đánh giá tính khả thi của phương án kinh doanh

nên dễ dẫn đến tâm lý ỷ lại và khi ấy sẽ dễ mắc sai lầm chủ quan. Điều này rất nguy

hiểm vì khoản vay cần được trả nợ bằng dòng tiền tạo ra bởi phương án sản xuất

kinh doanh chứ không phải bằng tiền chuyển nhượng tài sản thế chấp. Tài sản thế

chấp chỉ là sự đảm bảo cuối cùng khi phương án kinh doanh của khách hàng gặp rủi

ro ngoài dự kiến. Việc lạm dụng tài sản đảm bảo để quyết định cho vay đã vơ tình

bỏ qua hay là xem nhẹ việc đánh giá các tiêu chí, các bước trong quá trình thẩm

định và quy trình cho vay, tức là việc thực hiện hồ sơ cho chỉ mang tính hình thức.

Hiện nay, công tác định giá tài sản đảm bảo theo giá thị trường cũng tiềm ẩn nhiều

rủi ro khi thị trường bất động sản biến động bất thường. Mặt khác, nếu Ngân hàng

hàng nhận tài sản đảm bảo là những tài sản có tính thanh khoản thấp nên khả năng

phát mãi thu hồi vốn khi rủi ro xảy ra thường rất thấp, không đảm bảo thu hồi đầy

đủ nợ gốc và lãi.

- Thiếu kiểm tra, giám sát khoản vay

Công tác kiểm tra, giám sát sau khi cho vay tại Chi nhánh vẫn còn chưa chặt

chẽ và kịp thời nên dẫn đến một vài trường hợp khơng kiểm sốt mục đích sử dụng

vốn của khách hàng, tiến độ thực hiện phương án kinh doanh, dòng tiền dùng để trả

nợ theo theo hợp đồng tín dụng đã ký. Ngồi ra, do khối lượng công việc nhiều, số

lượng khách hàng chuyên quản lớn nên cán bộ QHKH ít có thời gian đi thực tế

khách hàng, do đó khơng thể nắm bắt kịp thời tình hình sản xuất kinh doanh, tình

hình tài chính của khách hàng, dẫn đến chậm phản ứng khi khách hàng gwjp tình

huống khó khăn, xảy ra rủi ro mới phát hiện. Thực tế, do cán bộ QHKH kiểm tra

giám sát khách hàng còn lỏng lẽo dẫn đến một số phương án vay có hiệu quả, tiền

bán hàng đã được trả nhưng khách hàng không trả nợ cho Ngân hàng mà sử dụng số

tiền đó vào những mục đích khác không hiệu quả và bị tổn thất dẫn đến không có

nguồn trả nợ cho Ngân hàng. Đơi lúc, việc kiểm tra của bộ QHKH mang tính hình

thức, đối phó bằng cách gửi biên bản kiểm tra cho khách hàng ký mà thực tế lại

không kiểm tra tại đơn vị hoặc chỉ làm biên bản kiểm tra khi có sự kiểm tra theo sự



65

chỉ đạo của lãnh đạo Chi nhánh, của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và khi

có sự thanh tra của Ngân hàng Nhà nước nên dễ dẫn đến tình trạng khách hàng sử

dụng vốn sai mục đích và gây thất thốt vốn. Bênh cạnh đó, việc kiểm tra đảm bảo

tiền vay không thực hiện trên thực tế mà thực hiện trên giấy tờ, không kiểm tra kho

thực tế hoặc kiểm tra một cách qua loa hoặc “cho có” nên khách hàng thường lợi

dụng để thực hiện những mục đích riêng nằm ngồi tầm kiểm sốt của Ngân hàng.

- Trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ QHKH, cán bộ quản lý rủi ro còn

hạn chế, thiếu kinh nghiệm thực tiễn.

Đối với hoạt động tín dụng đòi hỏi đội ngũ nhân sự của Ngân hàng phải có

trình độ chun mơn, am hiểu về nhiều lĩnh vực, luôn cập nhật kiến thức và kinh

nghiệm thực tế. Là Chi nhánh mới thành lập, do đó Chi nhánh tuyển dụng những

cán bộ mới ra trường chưa đủ kinh nghiệm và năng lực chuyên môn. Mặc dù, tất cả

các cán bộ QHKH đều có trình độ đại học, tốt nghiệp đúng chuyên ngành, tuy nhiên

do độ tuổi của đa số cán bộ QHKH còn khá trẻ, phần lớn vừa được tuyển dụng, còn

ít kinh nghiệm nên cần phải có thời gian để được đào tạo thêm. Do đó, trình độ và

kinh nghiệm của cán bộ QHKH và cán bộ quản lý rủi ro vẫn còn nhiều hạn chế

trong việc phân tích các thơng tin kinh tế xã hội, phân tích đánh giá dự án cho vay

còn nhiều chủ quan, chậm phát hiện các nguy cơ rủi ro tiềm ẩn, dẫn đến những sai

lầm trong các quyết định cho vay. Ngoài ra, việc gia nhập WTO và cạnh tranh ngày

càng gay gắt, một số cán bộ Ngân hàng chưa thể nắm bắt kịp thời các thông tin liên

quan đến khoản vay một cách chính xác về khách hàng, về mặt hàng kinh doanh

cũng như kỹ năng phân tích diễn biến thị trường. Chính vì vậy, một số dự án Chi

nhánh tài trợ vốn sau khi đi vào hoạt động đạt hiệu quả thấp, chậm thu hồi được

vốn, không trả được nợ cho Ngân hàng.

Kết luận chương 2: Trên cơ sở những nội dung lý luận ở chương 1, nội

dung chương này đã phân tích, đánh giá cơng tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho

vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hải

Vân trong những năm gần đây và đã kiểm sốt được nợ xấu theo kỳ hạn, theo loại

hình doanh nghiệp, theo ngành kinh tế. Tuy nhiên, có thể thấy rằng cơng tác hạn chế



66

rủi ro tín dụng trong cho vay tại Chi nhánh vẫn còn bất cập và chưa phát huy hiệu

quả. Từ đó, rút ra những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong cho vay doanh

nghiệp tại BIDV Hải Vân làm cơ sở đưa ra các giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu

quả chất lượng tín dụng, hạn chế tối đa rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp

trong thời gian tới.



67



Chương 3

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY

DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

– CHI NHÁNH HẢI VÂN

3.1 Định hướng hoạt động tín dụng và mục tiêu hạn chế rủi ro tín dụng trong

cho vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân

trong thời gian đến

Định hướng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là giữ vững và

phát huy là một Ngân hàng thương mại Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trên thị

trường tài chính, tiền tệ của Việt Nam. Trong đó, ưu tiên tập trung xây dựng Ngân

hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trở thành tập đồn tài chính. Tăng trưởng tín

dụng phải đảm bảo mang tính bền vững, an tồn và hiệu quả với dư nợ tín dụng

tăng bình quân 17% năm, đồng thời hạn chế rủi ro thấp nhất thông qua nâng cao

chất lượng quản trị rủi ro tín dụng, đảm bảo tỷ lệ nợ xấu dưới 5% theo quy định và

thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi

nhánh Hải Vân định hướng hoạt động tín dụng trong thời gian đến như sau:

- Kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, từng bước nâng cao tỷ trọng cho

vay ngắn hạn, tài trợ vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa kết hợp bán chéo sản

phẩm;

- Đẩy mạnh tín dụng trong lĩnh vực xuất nhập khẩu kết hợp phát triển dịch

vụ tài trợ thương mại và kinh doanh ngoại tệ;

- Bám sát tình hình hoạt động của khách hàng để kiểm soát các khoản vay

được tốt hơn nhằm hạn chế phát sinh nợ nợ xấu, đặc biệt chú trọng đến những

khách hàng có dư nợ lớn.

Để cụ thể hóa định hướng hoạt động tín dụng, nhằm phát triển tín dụng hợp

lý, hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay Chi nhánh cần phải đáp ứng được các mục

tiêu sau:

Một là: Giảm thiểu rủi ro tín dụng trên cơ sở nâng cao chất lượng tín dụng

nhưng đảm bảo tăng trưởng theo chính sách và định hướng tín dụng đã đề ra. Mục



68

tiêu về chất lượng tín dụng tại Chi nhánh là tỷ lệ nợ xấu dưới 3%. Nợ xấu được phân

loại theo tiêu chuẩn phân loại nợ của Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Hai là: Phân tán rủi ro trong danh mục đầu tư tín dụng theo định hướng lựa

chọn những ngành nghề, lĩnh vực và nhóm khách hàng có khả năng phát triển tốt và

đạt hiệu quả; không đầu tư quá mạnh, đầu tư theo phong trào vào một nhóm ngành

hàng/khách hàng cho dù ngành nghề/khách hàng đó đang có sự tăng trưởng và phát

triển mạnh mẽ nhưng có khả năng bão hòa hoặc cung vượt cầu trong tương lai. Phát

triển nền khách hàng trên cơ sở lựa chọn, sàng lọc khách hàng tốt, xếp hạng từ

nhóm A trở lên, ưu tiên phát triển tín dụng bán lẻ, tài trợ vốn cho các doanh nghiệp

nhỏ và vừa kết hợp với việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ đi kèm, đảm bảo

mức tăng trưởng tín dụng hợp lý.

Ba là: Tập trung gia tăng khả năng kiểm sốt, phòng ngừa rủi ro tín dụng

trong hoạt động của Chi nhánh thông qua nâng cao chất lượng thẩm định, tăng

cường năng lực tự giám sát và quản trị rủi ro tín dụng nội bộ.

Bốn là: Củng cố và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Ngân hàng theo

hướng chú trọng đào tào, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức về pháp

luật, đạo đức nghề nghiệp và ý thức phòng ngừa rủi ro.

Năm là: Tăng cường công tác quản lý khách hàng, giám sát chặt chẽ các

khoản nợ tồn đọng. Xây dựng các biện pháp để thu hồi các khoản nợ xấu và nợ đã

được xử lý rủi ro.

3.2 Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân

hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân

3.2.1 Hồn thện các giải pháp nhằm phòng ngừa rủi ro tín dụng trong cho vay

doanh nghiệp

 Tổ chức giám sát nợ một cách đầy đủ, chặt chẽ, có hiệu quả thơng qua

hoạt động phân tích, phân loại nợ theo định kỳ, qua đó phòng ngừa và hạn chế

rủi ro tín dụng trong cho vay

Để việc quản lý rủi ro tín dụng trong cho vay được kịp thời, đạt được hiệu

quả cao thì khâu dự báo, cảnh báo, phát hiện sớm rủi ro tín dụng trong cho vay phát



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.16 Bảng cơ cấu các nhóm nợ xấu doanh nghiệp tại BIDV Hải Vân giai đoạn 2008- 2011

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×