Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hải Vân được tổ chức theo mô hình trực tuyến và tham mưu, Giám đốc điều hành trực tiếp mọi hoạt động của ngân hàng, các Phó Giám đốc giúp việc cho Giám đốc chỉ đạo một số hoạt động của Chi nhánh. Trưởng

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hải Vân được tổ chức theo mô hình trực tuyến và tham mưu, Giám đốc điều hành trực tiếp mọi hoạt động của ngân hàng, các Phó Giám đốc giúp việc cho Giám đốc chỉ đạo một số hoạt động của Chi nhánh. Trưởng

Tải bản đầy đủ - 0trang

34



nghiệp, xây dựng thương mại, điện, dịch vụ, du lịch ...

 Phòng quan hệ khách hàng cá nhân: Phục vụ khách hàng là tư nhân, hộ gia

đình, các nhu cầu tiêu dùng cá nhân ...

Khối quản lý rủi ro: gồm Phòng quản lý rủi ro: Trực tiếp thực hiện cơng tác

thẩm định, tái thẩm định theo quy định của nhà nước và các quy trình nghiệp vụ liên

quan (quy trình thẩm định, cho vay và quản lý tín dụng ...), các yêu cầu nghiệp vụ

về quản lý rủi ro tín dụng của chi nhánh, đánh giá tài sản bảo đảm nợ (tính pháp lý,

giá trị), có ý kiến độc lập (đồng ý hoặc không đồng ý hoặc đưa ra các điều kiện) về

quyết định cấp tín dụng, phê duyệt khoản vay cho khách hàng. Giám sát đánh giá

chất lượng tín dụng, quản lý các khoản nợ xấu (phát hiện, phân tích nguyên nhân,

đề xuất biện pháp quản lý, phương án xử lý, trình xử lý và đơn đốc thu hồi sau xử

lý). Ngồi ra còn thực hiện cơng tác kiểm tra nội bộ theo chương trình. Giám sát và

kiểm tra trực tiếp việc thực hiện quy chế, quy trình nghiệp vụ, quy trình ISO trong

hoạt động kinh doanh.

Khối tác nghiệp: bao gồm Phòng Quản trị tín dụng, Phòng giao dịch khách

hàng và Phòng quản lý dịch vụ kho quỹ.

 Phòng quản trị tín dụng: Trực tiếp giải ngân cho khách hàng theo yêu cầu

của phòng quan hệ khách hàng, theo dõi quá trình cho vay, thực hiện nhiệm vụ thu

hồi nợ gốc, lãi vay ... cho đến khi tất toán hợp đồng tín dụng đối với mỗi khách hàng.

 Phòng giao dịch khách hàng: Trực tiếp thực hiện các giao dịch đối với

khách hàng là doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức khác tại quầy giao dịch.

 Phòng quản lý dịch vụ kho quỹ: Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ về quản

lý kho tiền và quỹ nghiệp vụ (Tiền mặt, hồ sơ tài sản thế chấp, cầm cố, chứng từ có

giá ...) Thực hiện thu chi lưu động đối với các khách hàng là tổ chức, cá nhân có

nhu cầu theo lệnh của giám đốc.

Khối trực thuộc: gồm các phòng giao dịch: Trực tiếp thực hiện các giao dịch

đối với khách hàng tại phòng giao dịch. Huy động vốn bằng đồng Việt Nam và

ngoại tệ của các tổ chức kinh tế và cá nhân. Tổ chức thực hiện cho vay, bảo lãnh đối

với các tổ chức kinh tế, cá nhân trong phạm vi giao quyền của giám đốc.



35



Khối quản lý nội bộ: bao gồm Phòng Kế hoạch tổng hợp, Phòng Tài chính

kế tốn và Phòng tổ chức nhân sự và văn phòng.

 Phòng kế hoạch tổng hợp: Trực tiếp tổ chức quản lý hoạt động huy động

vốn, cân đối nguồn vốn và các quan hệ về vốn của chi nhánh. Thực hiện các nghiệp

vụ kinh doanh tiền tệ theo quy định và trình giáo đốc giao hạn mức mua bán ngoại

tệ cho các phòng liên quan. Tham mưu, giúp việc giám đốc: tổng hợp, xây dựng kế

hoạch kinh doanh, kế hoạch phát triển trung và dài hạn của chi nhánh.

 Phòng tài chính kế tốn: Thực hiện cơng tác kế tốn, tài chính cho tồn bộ

hoạt động của chi nhánh. Thực hiện công tác hậu kiểm đối với tồn bộ hoạt động tài

chính chi nhánh. Thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính thơng qua cơng tác lập kế

hoạch tài chính, theo dõi tình hình thực hiện.

 Phòng tổ chức nhân sự và văn phòng: Trực tiếp thực hiện chế độ tiền

lương, chế độ bảo hiểm, quản lý lao động. Đầu mối đề xuất, tham mưu với giám

đốc chi nhánh và thực hiện kế hoạch phát triển nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, Phòng

cũng trực tiếp thực hiện cơng tác quản lý hành chính văn phòng (quản lý con dấu,

văn thư, in ấn, lưu trữ, bảo mật ...). Trực tiếp mua sắm, quản lý, bảo quản tài sản của

chi nhánh về mặt hiện vật, phối hợp với phòng tài chính kế tốn trong việc quản lý

tài sản bảo đảm.

2.1.2 Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi

nhánh Hải Vân:

2.1.2.1. Hoạt động huy động vốn:

Hoạt động huy động vốn là vấn đề then chốt và là cơ sở vững chắc thúc đẩy

hoạt động cho vay của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói chung và của

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân nói riêng.

Tình hình huy động vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi

nhánh Hải Vân trong thời gian qua thể hiện qua bảng số liệu sau:



36



Bảng 2.1 Cơ cấu nguồn vốn huy động giai đoạn 2009-2011

Đơn vị tính: triệu đồng

STT

1

2

2.1



2.1



Chỉ tiêu

Tổng huy động vốn

Cơ cấu huy động vốn

Theo kỳ hạn

- Ngắn hạn

- Trung và dài hạn

Theo đối tượng khách hàng

- Định chế tài chính

- Doanh nghiệp

- Cá nhân



Năm 2009

401.000



Năm 2010

622.100



Năm 2011

847.900



166.700

234.300



583.910

38.190



758.200

89.700



98.000

303.000



2.926

382.796

236.378



26.000

406.400

415.500



(Nguồn: Báo cáo tổng kết BIDV Hải Vân năm 2009-2011)

Qua bảng số liệu trên có thể thấy, nguồn vốn huy động tại Ngân hàng Đầu tư

và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân tăng trưởng mạnh trong giai đoạn từ

năm 2009-2011. Tính đến thời điểm 31/12/2011, tổng nguồn vốn huy động đạt

847,9 tỷ đồng, tăng 36% so với năm 2010 và tăng 112% so với năm 2009. Trong đó,

nguồn vốn ngắn hạn đạt 758,2 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 89%/tổng nguồn vốn, nguồn

vốn trung và dài hạn chiếm tỷ trọng 11%/tổng nguồn vốn. Trong cơ cấu nguồn vốn

của chi nhánh, tiền gửi doanh nghiệp chiếm tỷ trọng 47,9%/tổng nguồn vốn, tiền

gửi cá nhân chiếm tỷ trọng 49%/tổng nguồn vốn, tiền gửi các định chế tài chính

khơng đáng kể. Nguồn tiền gửi cá nhân chiếm tỷ trọng cao chứng tỏ Chi nhánh rất

chú trọng công tác huy động vốn, nhất là công tác tiếp thị tiền gửi của đối tượng

khách hàng cá nhân vì đây là nguồn tiền gửi mang tính ổn định cao hơn so với

nguồn tiền gửi của khách hàng doanh nghiệp và định chế tài chính, tạo tính bền

vững nguồn vốn cho Chi nhánh. Như vậy, có thể thấy nguồn vốn của Ngân hàng

Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân tăng trưởng tốt qua các năm.

Tuy nhiên, chi nhánh vẫn chưa thật sự chú trọng vào công tác huy động vốn trung

dài hạn, chưa đảm bảo tính ổn định và nguồn vốn để cho vay trung dài hạn.



37



2.1.2.2 Hoạt động cho vay

Bảng 2.2 Dư nợ cho vay giai đoạn 2009-2011

Đơn vị tính: triệu đồng, %



STT



Chỉ tiêu



Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011



Tăng trưởng (%)

10/09

11/10



Tổng dư nợ tín dụng

1.085.410 1.451.759 2.262.138 33.70% 55.80%

cuối kỳ

2 Cơ cấu tín dụng

2.1 Theo kỳ hạn

- Dư nợ cho vay

370.618 320.817 307.000 -13.40%

-5%

ngắn hạn

- Dư nợ cho vay

714.792 1.130.942 1.955.000 58.20% 73,0%

trung và dài hạn

Theo đối tượng khách

2.2

hàng

- Dư nợ của KH

0

0

ĐCTC

- Dư nợ của KHDN 1.033.100 1.367.829 2.120.230 32.40% 55,0%

- Dư nợ của KHCN

52.31

83.93

142 60.40% 69.0%

2.3 Theo ngành nghề

- Thương mại dịch vụ

510.286 1.000.085 1.573.146 96.10% 57.30%

(KS, KDL, CSHT)

- Xây dựng

179.105 109.708 100.615 -38.70% -8.30%

- Công nghiệp chế

122.147 132.254

90.365 8.20% -31.70%

biến và khai thác

Tỷ trọng DN nhóm

3

17,30%

9,80%

6,7% -7,5%

-3,1%

2 / Tổng DN

Tỷ trọng DN xấu/tổng

4

0,75%

0,43%

0,24% -0,32% -0,19%

DN

1



(Nguồn: Báo cáo tổng kết kết BIDV Hải Vân năm 2009-2011)

Trong 3 năm, dư nợ tín dụng tại Chi nhánh đều có mức tăng trưởng, năm sau

cao hơn năm trước với tốc độ tăng trưởng bình quân là trên 30%. Dư nợ tăng lên do

chi nhánh mở rộng các phòng giao dịch, đồng thời tích cực tìm kiếm khách hàng

nên số lượng khách hàng tăng lên. Tuy nhiên, dư nợ của chi nhánh về cơ cấu chưa

hợp lý, tỷ trọng dư nợ vay trung dài hạn trên tổng dư nợ vẫn còn ở mức rất cao và



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hải Vân được tổ chức theo mô hình trực tuyến và tham mưu, Giám đốc điều hành trực tiếp mọi hoạt động của ngân hàng, các Phó Giám đốc giúp việc cho Giám đốc chỉ đạo một số hoạt động của Chi nhánh. Trưởng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×