Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu. Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành các loại khác nhau.

Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu. Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành các loại khác nhau.

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



người vay bị chết, mất tích và các biến động ngồi dự kiến khác làm thất thốt vốn

vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. Rủi ro chủ

quan do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vơ tình

hay cố ý làm thất thốt vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác.

Ngồi ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo cơ

cấu các loại hình rủi ro, theo đối tượng sử dụng vốn vay…

1.2.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng

- Đối với ngân hàng:

Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng khơng thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi

cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn,

điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi. Khi khơng thu được nợ

thì vòng quay vốn tín dụng giảm làm ngân hàng kinh doanh khơng có hiệu quả. Khi

gặp phải rủi ro tín dụng ngân hàng thường rơi vào tình trạng mất khả năng thanh

khoản, làm mất lòng tin người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng, bị cấp

trên khiển trách. Đối với cấp dưới, do gặp phải rủi ro tín dụng nên khơng có tiền trả

lương cho nhân viên vì thế những người có năng lực sẽ thun chuyển cơng tác, gây

khó khăn cho ngân hàng.

Nói tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau:

nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng

nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân

hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài khơng khắc phục được, ngân

hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ

thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết

sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho

vay.

- Đối với nền kinh tế:

Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, các ngành và

các cá nhân, vì vậy khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì

người gởi tiền ở các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền

ở các ngân hàng khác, làm cho tồn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn. Ngân

hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản suất kinh doanh của doanh nghiệp,



14



khơng có tiền trả lương dẫn đến đời sống cơng nhân gặp khó khăn. Hơn nữa, sự

hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến tồn bộ nền kinh tế. Nó làm

cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất

ổn định. Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày

nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Kinh nghiệm cho ta thấy cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997) và mới đây là

cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra ở Mỹ bắt đầu từ năm 2007 đã làm rung chuyển

toàn cầu. Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh

nên rủi ro tín dụng tại một nước ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước có

liên quan.

1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

1.2.4.1 Nguyên nhân khách quan

Sự tác động của các yếu tố khách quan bên ngồi thường khó dự đốn, khó

kiểm sốt, gây ra những thiệt hại lớn cho khách hàng, ngân hàng và thường bao

gồm các loại sau:

- Sự thay đổi chính sách của Nhà nước

Khi các chính sách kinh tế vĩ mơ có những thay đổi bất thường, không đồng

bộ tạo ra một môi trường pháp lý và mơi trường hoạt động bất ổn, khơng thể dự

đốn trước tác động đến các khách hàng vay vốn gặp khó khăn trong kinh doanh

dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ cho ngân hàng.

Hệ thống luật pháp là cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động tài chính ngân

hàng. Một hệ thống luật hồn chỉnh là yêu cầu quan trọng cho sự phát triển của hoạt

động ngân hàng. Sự thiếu chặt chẽ, hoàn chỉnh của môi trường pháp luật tác động

xấu tới hoạt động ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng trong cho vay ngân hàng

nói riêng. Kẽ hở của hệ thống văn bản pháp luật tạo điều kiện cho khách hàng lừa

đảo, chiếm dụng vốn ngân hàng, chây ỳ không chịu trả nợ hoặc gây khó khăn cho

q trình thu hồi nợ của ngân hàng.

- Môi trường tự nhiên

Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng tới hoạt động sản



15



xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nơng nghiệp. Điều kiện tự nhiên là yếu

tố khó dự đốn, nó thường xảy ra bất ngờ với thiệt hại lớn nằm ngồi tầm kiểm sốt

của con người. Vì vậy khi có thiên tai, lũ lụt xảy ra, khách hàng cùng ngân hàng sẽ

có nguy cơ tổn thất lớn, phương án kinh doanh bị đổ bể, doanh nghiệp không có

nguồn thu... điều đó đồng nghĩa với ngân hàng phải cùng chia sẻ rủi ro với khách

hàng của mình.

- Mơi trường kinh tế xã hội

Hoạt động kinh doanh tín dụng phụ thuộc rất nhiều vào thói quen, truyền

thống, tập quán của người dân. Những yếu tố đó nhiều khi gây khó khăn và hạn chế

việc mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Nhóm tác động bất khả kháng như biến động thị trường, thay đổi về lãi suất,

tỷ giá, ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực gây ra cho

các khách hàng những gánh nặng nợ nần khơng đáng có.

1.2.4.2 Ngun nhân chủ quan

Rủi ro tín dụng trong cho vay thường xảy ra do các nguyên nhân chủ quan sau:

- Trình độ yếu kém của đội ngũ cán bộ ngân hàng.

Chất lượng cán bộ làm cơng tác tín dụng đóng vai trò then chốt trong việc

sàng lọc được các khách hàng tốt, dự án tốt. Cán bộ tín dụng phải tiếp xúc với nhiều

khách hàng ở nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, nhiều vùng, lãnh thổ, thậm chí

nhiều quốc gia khác nhau. Để có được sự đánh giá chính xác về khách hàng, họ phải

thực sự am hiểu khách hàng, lĩnh vực ngành nghề mà khách hàng kinh doanh, môi

trường mà khách hàng sống. Cán bộ tín dụng phải có kỹ năng phân tích tổng thể và

chi tiết các thơng tin về khách hàng cũng như về dự án đề nghị vay vốn, đồng thời

mỗi cán bộ tín dụng cũng cần có khả năng dự báo các vấn đề liên quan đến khách

hàng vay vốn. Như vậy, cán bộ tín dụng cần phải được đào tạo bài bản và tự đào tạo

kỹ lưỡng và toàn diện.

Mặc khác, đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ tín dụng cũng rất quan trọng,

ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của các khoản cho vay. Rủi ro tín dụng trong cho

vay rất dễ phát sinh khi cán bộ tín dụng cố ý làm sai quy trình tín dụng hay bỏ sót



16



một vài bước trong quy trình để nhằm nhận được những khoản "bồi dưỡng" từ

khách hàng.

- Nạn tham nhũng, hối lộ trong hoạt động ngân hàng.

Cũng như các ngành kinh tế khác, nạn tham nhũng và hối lộ đã gây tổn thất

lớn cho hoạt động ngân hàng. Tình trạng tham nhũng làm suy yếu hệ thống tài

chính, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phân bổ các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế

và dẫn đến nợ xấu trong hệ thống ngân hàng.

Do vai trò trung gian tài chính trong nền kinh tế nên ngân hàng là nơi tập trung

nguồn lực tiền tệ của xã hội. Sự thoái hoá, biến chất của một số cán bộ ngân hàng tạo

cơ sở cho tệ nạn tham nhũng. Các vụ án tham nhũng, hối lộ có quy mơ lớn xảy ra đa

phần có sự tiếp tay của cán bộ ngân hàng. Khả năng thu hồi những khoản này rất

thấp. Vì vậy, việc hạn chế tệ nạn này là một biện pháp để ngân hàng ngăn chặn phát

sinh rủi ro tín dụng trong cho vay.

- Sự quản lý yếu kém của ngân hàng.

Sự quản lý yếu kém trong hoạt động ngân hàng thể hiện ở một số nội dung

như: chậm điều chỉnh, ban hành mới các cơ chế, chính sách phù hợp; chỉ đạo nghiệp

vụ không sâu sát, kịp thời; khơng có các chính sách phòng ngừa rủi ro hoặc có

nhưng khơng hồn thiện...

Rủi ro tín dụng trong cho vay có thể phát sinh từ tất cả các khâu trong q

trình cấp tín dụng của NHTM bao gồm: giai đoạn trước khi cho vay, giai đoạn giải

ngân và giai đoạn quản lý khoản vay của khách hàng.

Ở giai đoạn trước khi cho vay, việc không chấp hành nghiêm túc chế độ tín

dụng, điều kiện cho vay; xem xét, đánh giá khách hàng, khoản vay không kỹ, không

tốt sẽ dẫn đến phát sinh rủi ro trong tương lai.

Ở giai đoạn giải ngân và giai đoạn quản lý khoản vay: Giải ngân khơng tn

thủ theo quy định tín dụng; yếu kém trong kiểm sốt, theo dõi (khơng kiểm sốt

hoặc kiểm sốt khơng chặt chẽ mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, việc

kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của khách hàng bị



17



bng lỏng, việc kiểm sốt, theo dõi danh mục khoản vay khơng được thực thi một

cách có hiệu quả) sẽ dẫn đến khả năng phát sinh rủi ro trong tương lai.

- Nguyên nhân từ phía khách hàng.

Nhiều khách hàng có hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, giá thành cao,

doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu bằng vốn vay ngân hàng nên gặp rủi ro cao, và

kết quả là gây thiệt hại lớn cho vốn tín dụng.

Tài chính của nhiều doanh nghiệp khơng minh bạch gây ra khó khăn trong

việc thẩm định, đánh giá doanh nghiệp.

Một số khách hàng có tư tưởng lợi dụng kẽ hở của pháp luật để tính tốn lừa

đảo, sử dụng vốn sai mục đích, vay khơng có ý định trả nợ. Trong đó, có giám đốc

doanh nghiệp nhà nước còn có những hành vi phạm pháp như chi tiêu lãng phí,

tham ơ hoặc có ý chuyển tài sản Nhà nước sang tài sản cá nhân, còn thất thốt, mất

mát vỡ nợ thì Nhà nước chịu.

1.3 Hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của NHTM

1.3.1 Khái quát khách hàng doanh nghiệp

1.3.1.1 Khái niệm doanh nghiệp

Theo Luật doanh nghiệp 2005 “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng,

có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của

pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [8].

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản,

có quyền và nghĩa vụ dân sự, hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự

chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế và chịu sự quản lý của Nhà nước bởi

Luật doanh nghiệp và các quy định của pháp luật.

Trong giao dịch với ngân hàng, khách hàng doanh nghiệp có đặc điểm sau:

- Thứ nhất: Trong ngân hàng, khách hàng doanh nghiệp là đối tượng khách

hàng thường chiếm tỷ trọng nhỏ về mặt số lượng nhưng chiếm tỷ trọng lớn về

doanh số giao dịch. Do vậy, giao dịch với khách hàng doanh nghiệp, ngân hàng có

thể tiết kiệm được chi phí giao dịch dựa vào lợi thế về quy mô giao dịch. Cụ thể khi

vay vốn khách hàng doanh nghiệp thường vay với những khoản vay có giá trị lớn,

quy mơ của từng hợp đồng vay lớn do đó ngân hàng tiết kiệm được chi phí tổ chức

cho vay.



18



- Thứ hai: Thơng tin tài chính của khách hàng doanh nghiệp rõ ràng, được

thể hiện qua báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

1.3.1.2 Đặc điểm rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp

Ngồi những ngun nhân gây ra rủi ro tín dụng thì hiện nay nguyên nhân

đặc thù dẫn đến rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp xuất phát từ đặc điểm

cho vay doanh nghiệp như sau:

- Các Ngân hàng thương mại cho vay doanh nghiệp với số tiền lớn, nên khi

phát sinh nợ quá hạn thì thường nợ quá hạn với món lớn, điều này có thể ảnh hưởng

đến tình hình hoạt động của các Ngân hàng nếu số lượng món vay “xấu” gia tăng

mà khơng có biện pháp xử lý kịp thời.

- Các doanh nghiệp thường đưa ra những báo cáo tài chính khơng đúng,

khơng chuẩn mực và chưa được kiểm tốn dẫn đến trong q trình phân tích và thẩm

định tín dụng khơng kỹ lưỡng, từ đó cán bộ tín dụng đưa ra những sai lầm trong

quyết định cho vay.

- Mặt khác, cũng có thể quyết định cho vay đúng đắn nhưng do thiếu kiểm tra

kiểm soát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn vay khơng đúng mục đích

nhưng ngân hàng vẫn khơng phát hiện để ngăn chặn kịp thời.

- Về phía ngân hàng, các ngân hàng chưa thật sự tin tưởng vào hoạt động

kinh doanh của một số doanh nghiệp dẫn đến ngân hàng thường hạn chế cho vay để

giảm thiểu rủi ro. Bên cạnh đó, các ngân hàng còn chưa hiểu và nắm bắt rõ được

đặc trưng hoạt động kinh doanh, nhu cầu của đối tượng khách hàng này, chính vì

vậy việc đánh giá phương án, dự án của doanh nghiệp chưa phù hợp, hiệu quả phục

vụ chưa cao.

Với thực tế nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp ngày càng tăng do các

doanh nghiệp này ngày càng mở rộng, phát triển, giữ một vị trí quan trọng trong sự

phát triển của nền kinh tế. Chính vì vậy việc hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay

doanh nghiệp là rất cần thiết đối với các ngân hàng thương mại.

1.3.2 Nội dung hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của NHTM

Qua các đặc điểm trình bày ở trên có thể thấy việc hạn chế rủi ro tín dụng

trong cho vay doanh nghiệp là rất cần thiết và là một trong những nhiệm vụ thường

xuyên và quan trọng của ngân hàng thương mại.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu. Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành các loại khác nhau.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×