Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ - 0trang

8



- Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay theo đúng mục đích đã thỏa

thuận trong hợp đồng tín dụng: Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì do hai bên

ngân hàng và khách hàng thỏa thuận và ghi trong hợp đồng tín dụng. Đảm bảo sử

dụng vốn vay đúng mục đích thỏa thuận nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay

và khả năng thu hồi nợ vay sau này. Do vậy, về phía ngân hàng trước khi cho vay

cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốn của khách hàng sau đó phải kiểm tra xem khách

hàng có sử dụng vốn vay đúng mục đích khơng. Điều này rất quan trọng vì việc sử

dụng vốn đúng mục đích có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hồi nợ vay.

Về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao

hiệu quả sử dụng vốn vay, đồng thời giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng hồn trả

nợ vay cho ngân hàng. Từ đó, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng và

củng cố quan hệ vay vốn giữa khách hàng với ngân hàng sau này.

- Khách hàng phải có bảo đảm theo quy định của ngân hàng: Bảo đảm ở đây

là biện pháp cuối cùng của ngân hàng để thu hồi nợ sau khi khách hàng không trả

được nợ theo phương án vay vốn. Tùy theo mức độ tín nhiệm của khách hàng mà

ngân hàng quyết định khách hàng thực hiện biện pháp bảo đảm tài sản hoặc khơng

có bảo đảm bằng tài sản hoặc kết hợp cho vay không có bảo đảm và cho vay có bảo

đảm bằng tài sản.

1.1.3 Phân loại cho vay của Ngân hàng thương mại

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác nhau như sau:

1.1.3.1 Căn cứ thời hạn cho vay

Ngân hàng xem xét quyết định cho khách hàng vay theo các thể loại ngắn

hạn, trung hạn, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch

vụ và các dự án đầu tư phát triển:

Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn vay đến 12 tháng, mục đích

bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp hoặc các nhu cầu chi tiêu

ngắn hạn của cá nhân trong nền kinh tế.

Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn vay trên 12 tháng đến 60

tháng, mục đích chủ yếu là sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc



9



đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới

có quy mơ nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh.

Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng trở lên,

mục đích để tài trợ cho các cơng trình, dự án lớn có thời hạn sử dụng lâu dài.

Việc phân chia các khoản vay theo thời hạn như trên có ý nghĩa quan trọng

đối với các ngân hàng trong việc quản lý tính an tồn và sinh lợi của tài sản.

1.1.3.2 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng

Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm

tiền vay như thế chấp, cầm cố tài sản hợp pháp của khách hàng, hoặc phải có sự bảo

lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có

thêm một nguồn thu thứ hai trong trường hợp khách hàng không thanh tốn được nợ

vay thơng qua phát mãi tài sản khách hàng đã thế chấp, cầm cố tại ngân hàng.

Cho vay khơng có bảo đảm bằng tài sản là loại cho vay khơng có tài sản thế

chấp, cầm cố mà việc cho vay của ngân hàng chỉ dựa vào uy tín và năng lực của bản

thân khách hàng vay vốn. Khách hàng vay vốn khơng có bảo đảm bằng tài sản phải

có các điều kiện sau:

- Có tín nhiệm đối với ngân hàng cho vay trong việc sử dụng vốn vay đúng

mục đích, thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi.

- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ khả thi, có khả

năng hồn trả nợ và phù hợp với quy định của pháp luật.

- Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ, đúng hạn.

1.1.3.3 Căn cứ theo phương thức cho vay

Ngân hàng thỏa thuận với khách hàng việc áp dụng các phương thức cho vay

sau đây:

Cho vay từng lần (cho vay theo món): Phương thức này áp dụng đối với

khách hàng có nhu cầu và đề nghị vay vốn từng lần, có quan hệ khơng thường

xun với Ngân hàng, có nguồn thu không ổn định; việc vay vốn của khách hàng

chỉ mang tính thời vụ hay mở rộng sản xuất như cho vay bù đắp thiếu hụt tài chính

tạm thời, cho vay hỗ trợ triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học, cơng nghệ….



10



Khách hàng có thể đề nghị được giải ngân một lần hay nhiều lần căn cứ vào nhu cầu

sử dụng vốn thực tế song tổng số tiền giải ngân không vượt quá số tiền cho vay đã

thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Cho vay theo hạn mức tín dụng: Phương thức cho vay theo hạn mức tín

dụng được áp dụng đối với các khách hàng có sản xuất kinh doanh ổn định, có hiệu

quả và có quan hệ tín dụng thường xuyên đối với Ngân hàng. Hạn mức cho vay đối

với khách hàng được tính tốn trên cơ sở nhu cầu vốn thực tế của khách hàng. Để

đảm bảo duy trì sản xuất kinh doanh ổn định, hàng năm hoặc theo nhu cầu mở rộng,

thu hẹp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của khách hàng, điều kiện vay vốn của khách

hàng Ngân hàng cùng khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy

trì trong một khoảng thời gian nhất định.

Cho vay theo dự án đầu tư: Phương thức này áp dụng đối với các khách

hàng vay vốn đủ điều kiện theo quy định để thực hiện các dự án đầu tư phát triển

sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Theo để nghị

của khách hàng, Ngân hàng sẽ giải ngân vốn một hoặc nhiều lần theo hợp đồng tín

dụng đã ký kết phù hợp với yêu cầu sử dụng vốn thực tế của khách hàng trong thời

hạn giải ngân đã thỏa thuận. Tổng số tiền giải ngần không vượt quá số tiền cho vay

của ngân hàng.

Cho vay trả góp: Theo phương thức cho vay này, tổng số tiền cho vay thực

tế không vượt quá số tiền cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, số tiền

vay được trả nợ thành nhiều kỳ hạn đều nhau với tổng số tiền trả nợ gốc và lãi của

mỗi kỳ hạn là bằng nhau, trong đó Ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận

số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn

trong thời hạn cho vay.

Cho vay hợp vốn: Ngân hàng cho vay cùng với một số tổ chức tín dụng,

hoặc chi nhánh của tổ chức tín dụng khác thực hiện việc cho vay một hoặc một

phần dự án, phương án, trong đó ngân hàng cho vay có thể là tổ chức đầu mối hoặc

là thành viên cho vay hợp vốn.



11



Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Ngân

hàng chấp nhận cho khách hàng được sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín

dụng để thanh tốn tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự

động hoặc điểm ứng tiền mặt tại các Ngân hàng.

Cho vay theo hạn mức thấu chi: Ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp

thuận cho khách hàng được chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách

hàng tại Ngân hàng trong khoảng thời gian nhất định, phù hợp với các quy đinh của

Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức

cung ứng dịch vụ thanh tốn.

Các phương thức cho vay khác: Ngồi các phương thức cho vay nêu trên,

Ngân hàng cho khách hàng vay vốn theo các phương thức cho vay khác mà pháp

luật không cấm, phù hợp với Quy chế cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

và điều kiện hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và đặc điểm của từng loại khách

hàng vay.

1.2 Rủi ro tín dụng trong cho vay của Ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay

Trong nền kinh tế thị trường, cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của

ngân hàng. Rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín

dụng. Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra. Khi ngân hàng rơi vào trạng

thái tài chính khó khăn nghiêm trọng thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động

tín dụng của ngân hàng. Do đó, có thể nói rằng rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp

và để đánh giá rủi ro tín dụng là việc làm khó khăn của ngân hàng. Rủi ro tín dụng

có thể xảy ra với bất kỳ khản tiền nào, bất cứ nơi nào và có thể xuất hiện trong các

mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, khách hàng là con nợ lại không thực

hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn.

Vậy Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong q trình cấp tín dụng của

ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả

nợ không đúng hạn cho ngân hàng.

Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc

Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử



12



dụng phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng

thù: “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ

chức tín dụng do khách hàng khơng thực hiện hoặc khơng có khả năng thực hiện

nghĩa vụ của mình theo cam kết”.

Rủi ro tín dụng trong cho vay là một loại rủi ro tín dụng, là rủi ro về sự tổn

thất tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp xuất phát từ người đi vay không thực hiện

nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán.

1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng

Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu

nghiên cứu. Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành các

loại khác nhau.

- Nếu căn cứ vào nguồn gốc phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia

thành các loại sau đây:

Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát

sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá

khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên quan đến q

trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của

ngân hàng); rủi ro bảo đảm (rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho

vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo…); rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quan đến

công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ

thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề).

Rủi ro danh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những

hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội

tại (xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh

vực kinh tế) và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào

một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định

hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao).

- Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi

ro thì rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. Rủi

ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×