Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thực trạng rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại BIDV Hải Vân phân theo ngành kinh tế

Thực trạng rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại BIDV Hải Vân phân theo ngành kinh tế

Tải bản đầy đủ - 0trang

44



Bảng 2.7 Cơ cấu rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp phân theo ngành kinh tế

ĐVT:Triệu đồng, %



Ngành điện

Ngành công nghiệp



2.375



4,09



1.923



2.700



0,49



1.206



0,65



chế biến và khai thác

Ngành Thương mại



5.100



0,9



7.480



dịch vụ

Ngành khác



554



0,75

3,3

1,68

0,06



0



0



430



597 0,06



1.508



1,39



2.540



2,3 1.571 1,61 1.547



1.286



0,21



8.854



0



0



266



DPRRTỷ lệ trích



Trích DPRR



1,78 1.150



1,27



1,48 5.983 0,55 12.131



1,21 9.354



0,56 13.664



0,89



0,75



0,85



0,1 2.100



0,86



294



2,2



2,17



0,04 1.614



Nguồn: Báo cáo hoạt động tín dụng của BIDV Hải Vân năm 2008-2011



629



3 5.430



0,96



584



0,9



nợ xấuTỷ lệ



Nợ xấu



2,01 7.596



270



291 0,03



125



Năm 2011

DPRRTỷ lệ trích



1,35 6.918 4,48 5.100

0,75



Trích DPRR



3.270



nợ xấuTỷ lệ



0,79



Nợ xấu



DPRRTỷ lệ trích



303



Trích DPRR



0



2,1 1.760



Năm 2010



Tỷ lệ nợ xóa



0



Nợ xóa



1,43 4.672



0,54



nợ xấuTỷ lệ



4.100



2.230



Nợ xấu



nợ xấuTỷ lệ



Tỷ lệ nợ xóa

0,16



DPRRTỷ lệ trích



80.200



Năm 2009

Trích DPRR



Ngành xây dựng



Nợ xấu



Chỉ tiêu



Nợ xóa



Năm 2008



45

Qua bảng số liệu cho thấy, rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại

BIDV Hải Vân chỉ tập trung vào một số ngành nghề cơ bản điển hình như: ngành

xây dựng, thương mại dịch vụ là chủ yếu. Do tình hình kinh tế khó khăn, hoạt động

kinh doanh khơng đem lại hiệu quả cao, nhiều cơng trình vẫn còn dở dang, khơng thực

hiện quyết tốn được nên cơng nợ chậm thanh tốn nhiều, vốn quay vòng chậm, trong

khi nhu cầu vốn không đủ đáp ứng cho các doanh nghiệp dẫn đến doanh nghiệp không

đủ nguồn để trả nợ cho ngân hàng. Các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực VLXD

cũng bị ảnh hưởng trực tiếp do hàng tồn kho tăng, cơng nợ chậm thu hồi, do đó nợ xấu

đối tượng doanh nghiệp này cũng cao hơn.

2.2.2 Thực trạng cơng tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại

Ngân hàng Đầu tư vàPhát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân

Mục tiêu tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh

Hải Vân là đầu tư vào những ngành, các thành phần kinh tế có mức độ rủi ro thấp. Bố

trí cơ cấu vốn hợp lý, phù hợp với cơ cấu kinh tế của thành phố Đà Nẵng. Tập trung

nâng cao chất lượng tín dụng, tăng cường quản lý rủi ro tín dụng trong cho vay, giảm

dần dư nợ cho các doanh nghiệp có tình hình tài chính yếu kém và ưu tiên tập trung tín

dụng ngắn hạn xuất nhập khẩu. Đa dạng hóa sản phẩm cho vay theo nguyên tắc đảm

bảo đạt kế hoạch lợi nhuận được giao, đồng thời giảm thiểu và hạn chế tối đa rủi ro qua

việc đa dạng hóa đối tượng khách hàng.

Để thực hiện mục tiêu của chi nhánh trong việc quản lý rủi ro tín dụng trong cho

vay doanh nghiệp nhằm hạn chế rủi ro xảy ra, thực tế công tác hạn chế rủi ro tín dụng

trong cho vay doanh nghiệp được thực hiện tại chi nhánh thông qua các nghiệp vụ về

cơng tác phòng ngừa rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp và sử dụng các biện

pháp xử lý khi rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp như sau:

2.2.2.1 Phòng ngừa rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp

Chi nhánh thực hiện phòng ngừa rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp

như sau:

 Tổ chức thực hiện hoạt động cho vay theo quy trình cho vay

Về cơ cấu tổ chức bộ máy thực hiện quy trình cho vay doanh nghệp tại Chi



46

nhánh đã có sự tách biệt độc lập trong q trình cấp tín dụng từ khâu thẩm định, phê

duyệt cho đến khâu giải ngân và thu nợ.

Quy trình phê duyệt này dựa trên nguyên tắc phân chia các chức năng của bộ

phận tín dụng thành 03 bộ phận độc lập:

- Phòng Quan hệ khách hàng (QHKH): thực hiện chức năng bán hàng. Phòng

Quan hệ khách hàng là đầu mối tiếp xúc với khách hàng, trên cơ sở những yêu cầu

của khách hàng, phòng Quan hệ khách hàng tiến hành thu thập thông tin, lập báo

cáo đề xuất tín dụng và chuyển sang phòng Quản lý rủi ro.

- Phòng Quản lý rủi ro: thực hiện chức năng quản lý rủi ro chung. Trên cơ sở

các báo cáo đề xuất tín dụng của phòng Quan hệ khách hàng, phòng Quản lý rủi ro

thực hiện báo cáo đánh giá rủi ro độc lập, báo cáo phản biện và trình cấp có thẩm

quyền (Giám Đốc hoặc Hội đồng tín dụng) phê duyệt.

- Phòng Quản trị tín dụng: thực hiện chức năng tác nghiệp. Chịu trách nhiệm

kiểm tra, giám sát và thực hiện q trình giải ngân tín dụng theo các quyết định cấp

tín dụng và điều kiện phê duyệt tín dụng.

Quy trình cấp tín dụng tại Chi nhánh Hải Vân thực hiện trên cở sở quy định

phân cấp uỷ quyền của BIDV và quy trình cấp tín dụng của ngành, cụ thể như sau:

- Các Phòng quan hệ khách hàng tiếp nhận hồ sơ trực tiếp từ khách hàng,

hướng dẫn khách hàng bổ sung đầy đủ hồ sơ theo quy định, các phòng giao dịch của

Chi nhánh Hải Vân hiện nay chưa thực hiện chức năng, nhiệm vụ cấp tín dụng, do

đó đối với các khách hàng liên hệ tại Phòng Giao dịch, phòng Giao dịch có chức

năng tiếp nhận đề nghị, yêu cầu từ khách hàng và chuyển giao cho Phòng quan hệ

khách hàng để thực hiện liên hệ trực tiếp với khách hàng. Theo quy trình cấp tín

dụng và mức uỷ quyền phán quyết theo từng đối tượng khách hàng, Chi nhánh Hải

Vân đã phân cấp uỷ quyền đến cấp trưởng Phòng, Phó trưởng Phòng.

- Đối với các khoản vay thuộc mức phán quyết của các Phòng Quan hệ

khách hàng, các Phòng tự xem xét thẩm định khoản vay và quyết định cấp tín dụng

theo quy định.

- Đối với các khoản vay vượt mức phán quyết của Phòng Quan hệ khách



47

hàng nhưng trong mức phán quyết của Phó Giám đốc Quan hệ khách hàng thì

Phòng Quan hệ khách hàng và trình Phó Giám đốc Quan hệ khách hàng.

- Đối với các khoản vay vượt mức phán quyết của Phó Giám đốc Quan hệ

khách hàng, bắt buộc phải chuyển hồ sơ cho Phòng Quản lý rủi ro có ý kiến và trên

cơ sở tờ trình mà Phòng Quan hệ khách hàng đã đề xuất tín dụng đã được Phó giám

đốc Quan hệ khách hàng phê duyệt, tờ trình của Phòng quản lý rủi ro tín dụng trình

Giám đốc Chi nhánh phê duyệt với điều kiện khoản vay thuộc trong mức uỷ quyền

phán quyết của Giám đốc Chi nhánh.

- Trong trường hợp khoản vay vượt mức phán quyết của Giám đốc Chi

nhánh, trên cơ sở tờ trình của 2 phòng Quan hệ khách hàng và Quản lý rủi ro tín

dụng đã có ý kiến của Phó Giám đốc phụ trách Quan hệ khách hàng và Giám đốc

phụ trách quản lý rủi ro thì trình Hội đồng tín dụng Chi nhánh xem xét, quyết định.

- Trong trường hợp khoản vay vượt mức phán quyết của Hội đồng tín dụng

Chi nhánh, nếu đưa ra họp hội đồng tín dụng mà hội đồng đồng ý thì trình Ngân

hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam xem xét quyết định.

- Hội đồng tín dụng tại Chi nhánh bao gồm các thành phần sau: Giám đốc,

Phó Giám đốc phụ trách Quan hệ khách hàng, Phó Giám đốc phụ trách tác nghiệp,

Trưởng phòng Quan hệ khách hàng, Trưởng phòng Quản lý rủi ro, Trưởng phòng

Quản trị tín dụng, Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp và thành viên phòng Quản lý

rủi ro thư ký hội đồng tín dụng. Ngồi ra có thể mời thêm cán bộ quan hệ khách

hàng và cán bộ phòng quản lý rủi ro trực tiếp thẩm định khoản vay nhưng các cán

bộ này không biểu quyết ý kiến mà chỉ tham gia ý kiến làm rõ thêm nội dung trong

tờ trình.

 Thực hiện phân tích tín dụng

Hiện nay tại Chi nhánh, việc phân tích tín dụng nhằm kiểm sốt khoản vay

trước và trong khi cho vay chủ yếu được thực hiện thông qua:

- Tiếp xúc khách hàng:

Công tác này được Chi nhánh tiến hành khi tiếp nhận hồ sơ đề nghị vay vốn

của khách hàng. Thông qua việc tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, Chi nhánh có



48

thêm những thơng tin cần thiết làm cơ sở cho việc kiểm tra, đánh giá tính xác thực

về năng lực pháp lý, năng lực tài chính, mục đích vay vốn, hiệu quả …của khách

hàng, từ đó giúp cho cán bộ QHKH có thể phát hiện ra những rủi ro có thể xảy ra.

- Phân tích báo cáo tài chính của khách hàng:

Trên cơ sở báo cáo tài chính do khách hàng cần vay cung cấp, Cán bộ

QHKH sẽ tiến hành thẩm định mức độ tin cậy, tiếp đó sẽ đi vào phân tích sâu tình

hình tài chính của doanh nghiệp thơng qua các nhóm thơng số, chỉ tiêu liên quan

quy mơ và tính chắc chắn của các nguồn tài chính mà doanh nghiệp tạo ra để trả nợ

vay. Thông tin để thẩm định dự án đầu tư chủ yếu phải dựa trên nguồn thông tin từ

khách hàng. Số liệu trong báo cáo tài chính bên vay gửi cho Ngân hàng khơng đủ

độ chính xác. Tình trạng thơng tin như vậy làm cho nội dung của việc lập và thẩm

định tài chính dự án đầu tư của Ngân hàng không thể đánh giá một cách chính xác,

tạo nên xu hướng đơn giản hố trong việc phân tích, kết quả các chỉ tiêu thẩm định

cũng khơng đảm bảo tính chính xác.

- Phân tích hồ sơ đề nghị vay vốn:

Phân tích hồ sơ đề nghị vay vốn được xem là phương pháp hữu hiệu để phát

hiện rủi ro. Qua việc phân tích hồ sơ đề nghị cấp tín dụng của khách hàng đã giúp

cho Chi nhánh biết được mục đích sử dụng vay vốn, có đúng đối tượng hay không,

hiệu quả của phương án kinh doanh như thế nào, thuận lợi hay khó khăn khi tài trợ

vốn...v.v. Điều này đã giúp Chi nhánh nhận thấy được các rủi ro có thể xảy ra khi

chấp nhận đề nghị vay vốn. Tuy nhiên, đối với những khách hàng truyền thống vay

vốn để bổ sung vốn lưu động thì cơng tác này thực hiện đơi lúc còn chủ quan, tiến

hành phân tích đánh giá chưa tồn diện, thẩm định cụ thể.

Ngồi ra, để kiểm tra tính trung thực trong hồ sơ vay vốn của khách hàng

phục vụ phân tích tín dụng một cách chính xác, Chi nhánh tiến hành khai thác và

kiểm tra các nguồn thông tin doanh nghiệp như: thu thập và cập nhật thông tin đối

với mỗi đối tượng khách hàng bao gồm thơng tin tài chính và phi tài chính, khả

năng cạnh tranh, lợi thế kinh doanh và tình hình tài sản đảm bảo. Nguồn thơng tin

có được từ khách hàng cung cấp, cơ quan chủ quản nhà nước, trung tâm thơng tin



49

tín dụng Ngân hàng Nhà nước, báo đài, internet…và các thông tin lưu trữ tại Chi

nhánh. Qua đó giúp cho cán bộ quan hệ khách hàng có thể phát hiện những nguy cơ

có thể gây ra rủi ro và đưa ra quyết định đúng đắn, kịp thời trong việc cấp tín dụng.

Tuy nhiên việc thu thập, phân tích đánh giá thơng tin phục vụ cho việc cảnh báo rủi

ro tùy thuộc vào kỹ năng phân tích, sự nhận định và khả năng dự báo của quan hệ

khách hàng và cán bộ quản lý rủi ro.

Như vậy, việc phân tích tín dụng trong cho vay đã được Chi nhánh triển khai.

Điều này đã giúp Chi nhánh phát hiện ra những dấu hiệu, nguy cơ dẫn đến rủi ro tín

dụng trong q trình thẩm định và xét duyệt cho vay. Tuy nhiên, việc phân tích hồ

sơ vay vốn và báo cáo cáo tài chính của các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa

chưa được quan tâm đúng mức mà quan tâm nhiều đến tài sản bảo đảm, việc phân

tích còn mang tính hình thức.

 Kiểm tra và giám sát việc sử dụng vốn vay

Sau khi khoản vay được xét duyệt và giải ngân, Chi nhánh tiến hành việc kiểm

tra và kiểm sốt khoản vay thơng qua việc kiểm tra thực tế khách hàng vay vốn.

Tùy thuộc vào tính chất và mức độ của từng khoản vay mà định kỳ hàng

tháng (đối với cho vay ngắn hạn) hoặc 6 tháng (đối với cho vay trung dài hạn), cán

bộ QHKH sẽ trực tiếp đến cơ sở kinh doanh của khách hàng để kiểm tra tình sử

dụng vốn vay, đánh giá hiệu quả của việc sử dụng vốn vay, kiểm tra thực trạng tài

sản đảm bảo, tiến độ thực hiện các dự án hay đánh giá lại hiệu quả khai thác các dự

án đầu tư.… Trên cơ sở đó, tiến hành phân tích đánh giá nhằm phát hiện kịp thời

những nguy cơ tiềm ẩn có thể dẫn đến rủi ro cho Chi nhánh.

Tuy nhiên, việc thực hiện kiểm tra thực tế của cán bộ QHKH nhiều lúc làm

cho có lệ. Các biên bản kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay sơ sài, chưa thể hiện

đầy đủ các nội dung kiểm tra theo yêu cầu do đó chưa phản ảnh hết thực trạng của

khoản vay trong biên bản. Bên cạnh đó, việc kiểm tra chưa được thường xuyên nên

chưa phản ánh kịp thời tình hình khách hàng cũng như tình hình của khoản vay.

Nhìn chung, có thể đánh giá việc kiểm tra giám sát quá trình vay vốn của

khách hàng tại Chi nhánh Hải Vân tập trung chủ yếu vào các bước kiểm tra trước và



50

trong khi cho vay thông qua việc phân tích tín dụng, còn đối với kiểm tra sau khi

cho vay được thực hiện nhưng chưa thường xuyên và chặt chẽ.

 Khắc phục, chỉnh sửa sau thanh tra, kiểm tra

Định kỳ Phòng kiểm tra kiểm sốt nội bộ của khu vực sẽ thực hiện các đợt

kiểm tra nhằm phát hiện những sai sót khách quan và chủ quan và kiến nghị Chi

nhánh chỉnh sửa kịp thời, đảm bảo an tồn tín dụng. Hiện nay,BIDV đã tách bộ

phận kiểm tra kiểm soát nội bộ ra khỏi các chi nhánh trực thuộc Hội sở chính là một

bước đổi mới trong q trình kiểm tra kiểm sốt nội bộ. Qua kiểm tra Chi nhánh đã

kịp thời chỉnh sửa, khắc phục các sai sót mà các Đồn kiểm tra phát hiện, đồng thời

tổ chức cho cán bộ học tập, rút kinh nghiệm, khơng lặp lại các sai sót đã được nêu ở

các hồ sơ mới.

 Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro

Hiện nay việc phân loại nợ của khách hàng doanh nghiệp tại Chi nhánh Hải

Vân thực hiện dựa vào kết quả chấm điểm khách hàng theo hệ thống xếp hạng tín

dụng nội bộ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

Bắt đầu từ quý IV/2006, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam đã thực

hiện việc phân loại nợ đối với khách hàng doanh nghiệp theo điều 7 Quyết định

493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005, theo đó BIDV đã ban hành các văn bản

hướng dẫn việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro trên cơ sở hệ thống xếp

hạng tín dụng nội bộ, cụ thể: các quyết định số 8598/QĐ-BNC ngày 20/10/2006,

9365/QĐ-BIDV ngày 27/11/2006, 4130/QĐ-QLTD4 ngày 23/07/2007. Hệ thống

xếp hạng tín dụng nội bộ nhằm đánh giá chất lượng tín dụng thơng qua phương

pháp đánh giá khách hàng bằng thang điểm thống nhất, hệ thống này sử dụng

phương pháp chấm điểm các nhóm chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của từng khách

hàng doanh nghiệp, kết hợp với phương pháp chuyên gia và phương pháp thống kê

để xếp hạng khách hàng. Trong mỗi nhóm chỉ tiêu tài chính hoặc phi tài chính sẽ bao

gồm nhiều chỉ tiêu nhỏ. Số lượng chỉ tiêu nhỏ, thang điểm và trọng số của mỗi chỉ

tiêu sẽ là khác nhau đối với mỗi loại khách hàng hay ngành nghề kinh tế. Mơ hình

chấm điểm và xếp hạng khách hàng doanh nghiệp được mơ tả qua mơ hình sau:



51

Bảng 2.8 Mô hình chấm điểm và xếp hạng khách hàng

KHÁCH HÀNG



NGÀNH KINH TẾ

Qui mơ



Loại hình sở hữu



Chỉ tiêu tài chính



Chỉ tiêu phi tài chính



TỔNG HỢP ĐIỂM VÀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG



AAA



AA



A



BBB



BB



B



CCC



CC



C



D



Hệ thống chấm điểm và xếp hạng khách hàng là tổ chức kinh tế được thực

hiện thông qua 6 bước: Xác định ngành kinh tế; Xác định qui mô; Xác định loại

hình sở hữu; Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính; Chấm điểm các chỉ tiêu phi tài

chính; Tổng hợp điểm và xếp hạng.

Theo quy định tại Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, việc chấm điểm khách

hàng thực hiện 5 lần trong năm vào tháng cuối cùng của mỗi quý và tháng 12

(31/03, 30/06, 30/09, 30/11, 31/12). Riêng đối với quý IV, thực hiện chấm điểm

khách hàng vào tháng 11. Đối với các tháng còn lại trong quý, không thực hiện

chấm điểm lại đối với các khách hàng đã được chấm điểm quý trước (kể cả đối với

khách hàng có báo cáo tài chính mới hoặc có những thông tin thay đổi khác).

Trên cơ sở chấm điểm khách hàng, mỗi khách hàng sẽ được xếp vào một

nhóm nào đó và áp dụng chính sách phù hợp. Căn cứ vào tổng số điểm đạt được,

khách hàng sẽ được phân loại vào một trong 10 mức xếp hạng như nhau: AAA, AA,

A, BBB, BB, B, CCC, CC, C, D.

Căn cứ vào kết quả xếp hạng, các khoản nợ của khách hàng sẽ được phân

loại vào các nhóm nợ tương ứng như sau:



52

Bảng 2.9 Bảng phân loại nợ theo xếp hạng tín dụng

Xếp hạng khách hàng theo Hệ thống



Phân loại nhóm nợ



xếp hạng tín dụng nội bộ

AAA

AA

A

BBB

BB

B

CCC

CC

C

D



Nợ nhóm 1

Nợ nhóm 2

Nợ nhóm 3

Nợ nhóm 4

Nợ nhóm 5



Hàng tháng, Chi nhánh phải thực hiện phân loại nợ theo kết quả xếp hạng

của kỳ xếp hạng gần nhất. Việc phân loại nợ của các tháng khơng trùng với kỳ xếp

hạng tín dụng nội bộ, sử dụng kết quả chấm điểm xếp hạng của kỳ xếp hạng tín

dụng nội bộ gần nhất (liền kề) để thực hiện phân loại nợ.

Hiện nay việc phân loại nợ theo Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tại BIDV

chỉ được thực hiện đối với những khách hàng có đủ thơng tin để xếp hạng tín dụng,

những khách hàng còn lại như khách hàng mới thành lập chưa đủ thơng tin để định

hạng thì việc phân loại nợ của những khách hàng này vẫn tuân theo Điều 6 Quyết

định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước.

Chi nhánh đã áp dụng chấm điểm khách hàng trong việc phân loại và đánh

giá khách hàng song công tác thực hiện chấm điểm theo hệ thống xếp hạng tín

dụng nội bộ vẫn còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Điều này được thể hiện ở chỗ, kết

quả chấm điểm và xếp loại doanh nghiệp nhìn chung vẫn còn phụ thuộc vào đánh

giá chủ quan, cảm tính và đơi khi mang tính hình thức của cán bộ QHKH, nhất là

các chỉ tiêu phi tài chính như về năng lực điều hành của người quản lý, độ nhạy

bén của Ban lãnh đạo, triển vọng phát triển của doanh nghiệp... dẫn đến việc chấm

điểm không chặt chẽ, phản ánh khơng chính xác số điểm khách hàng dẫn đến xếp

hạng khách hàng, ảnh hưởng đến kết quả phân loại nợ. Bên cạnh đó, thơng tin số

liệu khơng chính xác và thiếu sự minh bạch của báo cáo tài chính cũng ảnh hưởng



53

đến việc xếp hạng khách hàng. Cho nên, tại Chi nhánh có những khoản nợ chưa

quá hạn nhưng trên thực tế đã có nguy cơ gặp rủi ro cao, thậm chí dẫn đến bị mất

vốn...vẫn được đánh giá nợ đủ tiêu chuẩn, chưa được xếp vào diện nợ xấu để tiến

hành những biện pháp phòng ngừa.

Đến cuối năm 2011, có 78 doanh nghiệp vay vốn tại Chi nhánh được chấm

điểm và xếp loại phục vụ cho việc xây dựng giới hạn tín dụng, trong đó: nhóm 1:

48 doanh nghiệp, nhóm 2: 25 doanh nghiệp, nhóm 3,4: 3 doanh nghiệp, nhóm 5: 2

doanh nghiệp. Ngồi ra, có 7 đơn vị chưa đủ điều kiện xếp hạng nên theo quy định

của BIDV thì tạm phân vào nợ nhóm 2 để trích lập dự phòng, có chính sách tín

dụng trong thời gian chưa đủ điều kiện xếp hạng.

Để bù đắp các tổn thất có thể xảy ra do khách hàng không thực hiện được

nghĩa vụ theo cam kết, vì vậy BIDV nói chung và BIDV Hải Vân nói riêng đã đặt ra

vấn đề là phải có một quỹ dự phòng để đảm bảo an tồn phòng ngừa rủi ro tránh

cho ngân hàng khỏi rơi vào tình thế khó khăn khi rủi ro xảy ra. Quỹ dự phòng được

trích từ nguồn lợi nhuận trước thuế, mức trích quỹ cần thiết tuỳ thuộc vào mức độ

rủi ro của tài sản và mức dư nợ của khoản vay.

Định kỳ hàng quý, trên cơ sở đánh giá phân loại nợ, Chi nhánh thực hiện

trích lập dự phòng rủi ro phục vụ cơng tác quản lý chất lượng tín dụng và đánh giá

tình hình kinh doanh của Ngân hàng, việc thực hiện trích lập dự phòng rủi ro gồm

dự phòng chung: 0,75% tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 và các

khoản cam kết ngoại bảng; dự phòng cụ thể: Nhóm 1: 0%, nhóm 2: 5%, nhóm 3:

20%, nhóm 4: 50%, nhóm 5: 100%. Mức trích lập dự phòng dựa trên cơ sở phân

loại khách hàng và tài sản bảo đảm.



54

Bảng 2.10 Trích lập dự phòng và xử lý rủi ro giai đoạn 2008- 2011

Đơn vị tính : triệu đồng



Chỉ tiêu



Năm 2008



Năm 2009



Năm 2010



Năm 2011



1. Trích lập dự phòng



14.360



15.360



19.487



22.614



2. Xử lý rủi ro



85.300



1.760



0



0



0



33.818



5.700



1.350



3. Thu hồi nợ xử lý rủi ro



(Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV Hải Vân năm 2008-2011).

Trích lập dự phòng rủi ro là quy định bắt buộc đối với tất cả các ngân hàng

nhằm đảm bảo an tồn trong hoạt động kinh doanh, khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân

hàng sẽ sử dụng nguồn dự phòng để bù đắp tổn thất. Việc xử lý rủi ro của các ngân

hàng cũng cho thấy được khả năng tài chính của ngân hàng đó. Năm 2008, Chi

nhánh khơng đủ khả năng trích lập dự phòng để xử lý nợ mà phải mượn nguồn của

trung ương.

2.2.2.2 Biện pháp xử lý rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp

 Cho vay duy trì hoạt động doanh nghiệp và cơ cấu lại thời hạn trả nợ

Bảng 2.11 Kết quả cho vay duy trì hoạt động và cơ cấu nợ của BIDV Hải Vân

Đơn vị: Triệu đồng



Chỉ tiêu

Cho vay duy trì hoạt

động doanh nghiệp

Cơ cấu lại nợ

Tổng cộng



Năm 2010

Tỷ trọng

Số tiền

(%)



Năm 2011

Tỷ trọng

Số tiền

(%)



Tăng, giảm

Số tiền



%



792



53,8



459



39,5



-333



-58



679



36,2



702



60,5



23



103



1.471



100



1.161



100



-310



79



(Nguồn: Báo cáo tổng kết của BIDV Hải Vân năm 2010-2011)

BIDV Hải Vân đã nhận thức, đánh giá và dự báo được tình hình nền kinh tế

trong nước bị ảnh hưởng của khủng hoảng thế giới, tác động trực tiếp đến khách

hàng gặp khó khăn trong kinh doanh, làm suy giảm khả năng trả nợ ngân hàng dẫn

đến nợ xấu. Vì vậy, BIDV Hải Vân đã thực hiện phân tích, đánh giá tình hình tài



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực trạng rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại BIDV Hải Vân phân theo ngành kinh tế

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×