Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Thứ hai: Thông tin tài chính của khách hàng doanh nghiệp rõ ràng, được thể hiện qua báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

- Thứ hai: Thông tin tài chính của khách hàng doanh nghiệp rõ ràng, được thể hiện qua báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Tải bản đầy đủ - 0trang

19



Do đó để thực hiện tốt nội dung hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh

nghiệp, trước hết phải hiểu được quan điểm hạn chế và hạn chế rủi ro tín dụng

trong cho vay là gì?

Theo cách hiểu thơng thường thì hạn chế là các hoạt động nhằm phòng ngừa

để giảm thiểu khả năng xảy ra sự việc khơng mong muốn nào đó và đưa ra các biện

pháp xử lý sự việc đó khi đã xảy ra.

Vậy, hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay được hiểu là các hoạt động mà

ngân hàng đưa ra nhằm phòng ngừa để giảm thiểu khả năng xuất hiện rủi ro tín

dụng trong cho vay và đưa ra các biện pháp xử lý khi rủi ro tín dụng đã xảy ra.

Với quan niệm đó, việc hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp

tại các ngân hàng thương mại bao gồm những nội dung sau:

1.3.2.1 Phòng ngừa rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp

Hiện nay trong hoạt động ngân hàng, lợi nhuận chủ yếu mang lại vẫn từ hoạt

động cho vay. Do đó một khi rủi ro tín dụng trong cho vay xảy ra thì ngân hàng sẽ

bị giảm lợi nhuận đáng kể. Và để hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay, nhất là rủi

ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp cần thực hiện ngăn ngừa rủi ro tín dụng

thơng qua việc Ngân hàng nâng cao hiệu quả công tác thẩm định trước khi cho vay,

đồng thời giám sát chặt chẽ các khoản giải ngân, các khoản nợ sau khi giải ngân,

phát hiện ra những dấu hiện của các khoản vay có vấn đề để ngăn ngừa và giảm

thiểu cụ thể như sau:

- Tổ chức thực hiện hoạt động cho vay theo quy trình cho vay: Quy trình

cho vay của ngân hàng nhằm mục đích giúp q trình cho vay tại ngân hàng diễn ra

một cách thống nhất, khoa học, hạn chế, phòng ngừa rủi ro và nâng cao chất lượng

tín dụng. Quy trình cho vay cũng xác định rõ ràng từng bộ phận thực hiện công việc

và trách nhiệm của các cán bộ liên quan trong quá trình cho vay.

Quy trình cho vay của ngân hàng bao gồm từ khâu tiếp thị khách hàng và lập

đề xuất cấp tín dụng cho đến khi thanh lý hợp đồng tín dụng phải tn thủ trình tự,

thủ tục cấp tín dụng.

Để hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay thì việc tách bạch các chức năng,

nhiệm vụ trong quy trình cho vay, mơ hình tổ chức tín dụng tại Chi nhánh phải được

xây dựng theo hướng: cần thiết phải có sự độc lập giữa các chức năng mà một cán



20



bộ tín dụng hiện đang thực hiện, phải tiến hành tách các bộ phận: chức năng bán

hàng (tiếp xúc khách hàng, tiếp thị…), chức năng phân tích tín dụng (phân tích,

thẩm định, dự báo, đánh giá khách hàng…) và chức năng tác nghiệp (xử lý hồ sơ,

theo dõi, giám sát khoản vay, thu nợ, thu lãi…).

Với quy trình này sẽ kiểm sốt độc lập từ khâu khởi tạo đến khâu thẩm định

rủi ro và khâu quản trị tín dụng. Đây là quy trình cho vay chuẩn theo thông lệ quốc

tế đã và đang được các ngân hàng các nước trên thế giới cũng như Việt Nam áp

dụng hiện nay.

- Thực hiện tốt phân tích tín dụng – cơ sở hình thành khoản cho vay tốt:

Phân tích tín dụng là q trình đánh giá khách hàng về các điều kiện vay vốn và

hoàn trả nợ vay, trên cơ sở đó ra quyết định cho vay và giám sát khoản vay của ngân

hàng. Mục đích phân tích tín dụng nhằm: hạn chế thông tin bất cân xứng, đánh giá

đúng thực trạng rủi ro của khách hàng, xác định đúng nhu cầu vay của khách hàng,

đưa ra quyết định chính xác về việc có cho vay hay khơng?

Phòng tín dụng của các ngân hàng phải chịu trách nhiệm về việc phân tích và

đưa ra những đánh giá đối với hầu hết các đơn xin vay.

Khi xem xét một đơn xin vay, phòng tín dụng phải tiến hành xem xét 6 khía

cạnh của một đề nghị vay vốn: tư cách (Character), năng lực (Capacity), dòng tiền

(Cash), tài sản bảo đảm (Collateral), các điều kiện (Conditions), sự kiểm soát

(Control) . Tất cả phải thỏa mãn các yêu cầu đối với một khoản cho vay tốt theo quan

điểm của người cho vay.

+ Tư cách: Tinh thần trách nhiệm, tính trung thực, mục đích vay vốn nghiêm

túc, kế hoạch trả nợ rõ ràng là những tiêu chuẩn tạo nên tư cách khách hàng vay

vốn. Cán bộ QHKH phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng, mục đích vay

của khách hàng có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay

không, đồng thời xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ; còn

khách hàng mới thì cần thu thập thơng tin từ nhiều nguồn khác như Trung tâm

phòng ngừa rủi ro …

+ Năng lực: Khách hàng phải có đủ năng lực vay vốn và có đủ năng lực

pháp lý trong việc ký kết hợp đồng tín dụng, ngồi ra người đại diện cho cơng ty ký



21



kết hợp đồng tín dụng phải là người được ủy quyền hợp pháp của công ty. Một hợp

đồng tín dụng được ký kết bởi người khơng được ủy quyền có thể sẽ khơng thu hồi

được nợ, tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng.

+ Dòng tiền: Tiêu chí dòng tiền của doanh nghiệp tập trung vào câu hỏi:

Doanh nghiệp có khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ? Nhìn chung, doanh nghiệp có ba

khả năng để tạo ra tiền là: luồng tiền từ doanh thu bán hàng, bán thanh lý tài sản,

phát hành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn. Bất cứ nguồn thu nào từ ba khả

năng này đều có thể sử dụng để trả nợ vay cho ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng ưu

tiên hơn cả là khả năng thứ nhất và coi đây là nguồn thu đầu tiên và căn bản để trả

nợ vay ngân hàng vì việc bán thanh lý tài sản có thể làm cho năng lực doanh nghiệp

trở nên yếu đi và việc bán tài sản cũng rủi ro. Ngoài ra, một sự thiếu hụt luồng tiền

là biểu ẩn chứa một sự suy giảm trong kinh doanh của doanh nghiệp, khiến cho

quan hệ tín dụng trở nên có vấn đề.

+ Tài sản thế chấp: Khi đánh giá khía cạnh bảo đảm tiền vay, cán bộ tín

dụng phải kiểm tra khách hàng có sở hữu hợp pháp tài sản có chất lượng để hỗ trợ

khoản vay. Phải đặc biệt chú ý đến những yếu tố nhạy cảm như: điều kiện và mức

độ chuyên dụng của tài sản thế chấp. Ngân hàng cần cân nhắc loại tài sản bảo đảm,

phương pháp định giá thích hợp, phải có các biện pháp để đảm bảo quyền sở hữu rõ

ràng đối với tài sản bảo đảm trong trường hợp khách hàng không trả được nợ.

+ Các điều kiện: Cán bộ tín dụng cần phải biết được xu hướng hiện hành về

công việc kinh doanh cũng như khi điều kiện kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng đến

khoản tín dụng. Để đánh giá xu hướng ngành và điều kiện kinh tế có ảnh hưởng

đến hoạt động kinh doanh của khách hàng, hầu hết các ngân hàng đều duy trì các

dữ liệu thơng tin gồm các mẫu báo cáo có liên quan, các bài tạp chí và các báo cáo

nghiên cứu.

+ Sự kiểm soát: Đánh giá những thay đổi trong luật pháp và quy chế có ảnh

hưởng xấu đến người vay? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu

chuẩn của ngân hàng về chất lượng tín dụng.

- Kiểm tra và giám sát việc sử dụng vốn vay: Việc kiểm tra sử dụng vốn

vay nhằm đảm bảo cho vốn vay phát huy được hiệu quả như mong đợi, ràng buộc



22



khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích và tuân theo các quy định của ngân hàng.

Ngân hàng sẽ kiểm tra tình hình lạm phát dẫn đến tăng chi phí hoặc hàng hóa của

doanh nghiệp bị giảm sức mua, do cạnh tranh gia tăng, doanh nghiệp mất dần thị

phần, doanh nghiệp yếu kém về mặt quản trị dẫn đến sai lầm về chiến lược kinh

doanh.

Ngân hàng xây dựng cơ chế kiểm soát, giám sát các khoản vay đã cho vay

thông qua thực hiện việc kiểm tra sử dụng vốn vay sau khi giải ngân, kiểm tra hoạt

động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay theo định kỳ. Cụ thể: sau khi giải

ngân cán bộ tín dụng thường xun đi thực tế kiểm tra tình hình doanh nghiệp,

nhằm bảo đảm doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích đã cam kết và hạn chế rủi

ro cho vốn vay. Việc kiểm tra này có thể thực hiện định kỳ (tháng, quý) hoặc đột

xuất tùy theo tình hình cụ thể. Mỗi lần kiểm tra, cán bộ tín dụng phải lập báo cáo

tình hình thực hiện khoản vay của khách hàng. Việc đi kiểm tra thực tế khách hàng

thường xuyên là cách tốt nhất để phát hiện nhanh chóng những dấu hiệu nợ có vấn

đề, những lần đi thực tế này ln phải kiểm tra tình hình thực tế khoản vay và sổ

sách của khách hàng. Khi phát hiện có dấu hiệu nợ có vấn đề, cán bộ tín dụng phải

báo cáo kịp thời và trình cấp có thẩm quyền xử lý.

Ngồi ra, ngân hàng còn sử dụng các hệ thống giám sát khác như hệ thống

thông tin tín dụng, thơng tin trên thị trường chứng khốn, thơng tin từ các đối thủ

cạnh tranh, các cơ quan quản lý... nhằm phát hiện kịp thời ngăn ngừa các khoản nợ

có vấn đề, nợ xấu xảy ra.

- Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro

Việc đánh giá và phân loại nợ nhằm đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng

để thực hiện trích lập dự phòng rủi ro phục vụ cơng tác quản lý chất lượng tín dụng

và đánh giá tình hình kinh doanh của Ngân hàng. Thực hiện việc phân loại nợ theo

quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống Đốc Ngân hàng Nhà

nước. Phân loại nợ được chia thành 5 nhóm: Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn, Nhóm 2:

Nợ cần chú ý, Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, Nhóm 4: Nợ nghi ngờ, Nhóm 5: Nợ có

khả năng mất vốn,

Nợ nhóm 3,4,5 được xếp là nợ xấu.



23



Trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng, rủi ro tín dụng là điều khó có thể tránh

khỏi, vì vậy ngân hàng đã đặt ra vấn đề là phải có một quỹ dự phòng để đảm bảo an

tồn để giảm tổn thất, tránh cho ngân hàng khỏi rơi vào tình thế khó khăn khi rủi ro

xảy ra.

Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất

có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng khơng thực hiện nghĩa vụ theo

cam kết. Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch tốn vào chi phí hoạt

động của tổ chức tín dụng. Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng cụ thể và Dự

phòng chung.

Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các

khoản nợ quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 Quy định này để dự phòng cho những tổn

thất có thể xảy ra.

Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất

chưa xác định được trong q trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và

trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các tổ chức tín dụng khi chất lượng

các khoản nợ suy giảm

Việc trích lập dự phòng rủi ro thực hiện trên cơ sở số dư nợ gốc, phân loại

nợ, giá trị của tài sản bảo đảm, tỷ lệ trích lập DPRR. Tỉ lệ trích lập DPRR thực hiện

theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN. Tỉ lệ trích lập

dự phòng rủi ro cụ thể tuỳ theo nhóm nợ : Nợ nhóm 1: 0%, Nợ nhóm 2: 5%, Nợ

nhóm 3: 20%, Nợ nhóm 4: 50%, Nợ nhóm 5: 100%.

1.3.2.2 Biện pháp xử lý rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp

Khi rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp xảy ra làm phát sinh nợ xấu,

ngân hàng sẽ thực hiện các biện pháp xử lý nhằm thu hồi nợ như sau:

- Cho vay duy trì hoạt động doanh nghiệp và cơ cấu lại thời hạn trả nợ

Sau khi phân tích thực trạng tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh,

phương án/dự án đầu tư của khách hàng đang gặp khó khăn do thiếu vốn, ảnh

hưởng đến việc thu nợ của ngân hàng thì ngân hàng sẽ áp dụng biện pháp cho vay

duy trì hoạt động doanh nghiệp. Đây là quá trình thực hiện cho vay hỗ trợ hoạt động

sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp có hiện trạng kinh doanh, tài chính kém

nhưng có khả năng phục hồi.



24



Cơ cấu lại thời hạn trả nợ được áp dụng khi khách hàng có khó khăn tài

chính tạm thời, khơng có khả năng trả nợ đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín

dụng và các thỏa thuận bổ sung do nguyên nhân khách quan, có văn bản để nghị cơ

cấu lại thời hạn trả nợ, được ngân hàng đánh giá có khả năng trả nợ trong thời gian

đề nghị cơ cấu lại thì có thể xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ.

Việc đề xuất cho vay duy trì hoạt động doanh nghiệp hay cơ cấu lại thời hạn

trả nợ chỉ được áp dụng cho các khoản nợ thuộc nhóm 3 và nhóm 4 và đối với các

khách hàng được quyết định tiếp tục duy trì quan hệ. Khi đã có quyết định tiếp tục

duy trì quan hệ với đối tượng khách hàng này, khoản nợ có thể được quản lý thơng

qua việc giám sát chặt chẽ, nhằm đảm bảo rằng bên vay thực thi các hành động cần

thiết để cải thiện tình hình của họ. Đặc biệt, trong trường hợp không trả được nợ lần

đầu, ngân hàng cần có hành động cương quyết để thuyết phục khách hàng trong

việc thực thi các biện pháp cứng rắn để củng cố vị thế của khách hàng. Ngân hàng

duy trì mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng để giám sát tiến trình quản lý nợ. Trên

cơ sở đó, ngân hàng có thể áp dụng các phương pháp:

Điều chỉnh kỳ hạn nợ: Được thực hiện thông qua việc hoãn hoặc/và giảm

khối lượng nợ gốc phải thanh tốn của kỳ hạn trả nợ, nhưng khơng được giảm tổng

số nợ phải trả.

Gia hạn nợ: Đây là phương án tránh áp lực trả nợ của khách hàng để hỗ trợ

khách hàng tiếp tục kinh doanh. Ngân hàng cũng có thể xem xét cấp thêm tín dụng

giúp khách hàng vượt qua khó khăn đồng thời tạo khả năng thu hồi các khoản nợ

trước.

Chuyển vốn vay ngắn hạn sang vay trung và dài hạn: Giải pháp này có thể

được xem xét áp dụng tuỳ thuộc vào thiện chí trả nợ vay của khách hàng và tuân thủ

theo các quy định hiện hành của Nhà nước và của từng ngân hàng. Việc ngân hàng

chuyển dư nợ ngắn hạn sang cho vay trung dài hạn do doanh nghiệp sử dụng nguồn

ngắn hạn đầu tư tài sản cố định nhằm giúp doanh nghiệp giảm áp lực trả nợ đến hạn

và ngân hàng có điều kiện thu hồi dần được nguồn vốn đã cho vay phù hợp với

nguồn thu của dự án.



25



Đây không phải là biện pháp tốt vì nó mang tính mạo hiểm cao. Nếu Ngân

hàng đánh giá không đúng thực trạng khách hàng, nguyên nhân không trả được nợ

mà thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng thì sẽ tiềm ẩn rủi ro khách

hàng không trả nợ cho ngân hàng mà sử dụng tiền vào mục đích khác hoặc trả nợ

cho các tổ chức, cá nhân khác, ngân hàng khơng có khả năng thu hồi nợ.

- Xử lý tài sản bảo đảm tiền vay

Đối với những khoản nợ xấu khơng thể cơ cấu lại nợ, khách hàng khơng có

phương án khắc phục khả thi, chây ỳ trong việc trả nợ… NHTM chủ động xử lý tài

sản đảm bảo nợ vay kể cả tài sản là bất động sản bao gồm đất đai, tài sản gắn liền

với đất thuộc quyền định đoạt của ngân hàng theo các hình thức sau: Tự bán công

khai trên thị trường; Bán qua Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản; Bán cho Công

ty mua bán nợ của Nhà nước. Phương thức xử lý tài sản bảo đảm thực hiện theo

thoả thuận tại hợp đồng bảo đảm hoặc thoả thuận của hai bên, nếu hai bên khơng

thoả thuận được thì xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với các khoản cho vay có sự bảo lãnh của bên thứ 3: Ngân hàng yêu cầu

bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên vay. Trường hợp bên bảo lãnh

không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay, ngân hàng chủ động xử lý tài sản bảo đảm cho

nghĩa vụ được bảo lãnh tương tự như các tài sản thế chấp, cầm cố của bên vay.

Xử lý tài sản bảo đảm được xem là nguồn thứ nợ thứ hai của ngân hàng và

là nguồn thu nợ hết sức quan trọng, đảm bảo khả năng thu hồi nợ cho ngân hàng khi

xảy ra rủi ro.

- Bán các khoản nợ

Biện pháp này được ngân hàng sử dụng đối với các khoản nợ mà ngân hàng

không có phương án thu nợ hoặc muốn rút ngắn thời gian thu được nợ. Ngân hàng

sẽ chuyển quyền đòi nợ cho một tổ chức tín dụng hoặc tổ chức hoặc cá nhân khác

có chức năng theo quy định để sớm thu hồi vốn của mình. Khi bán các khoản nợ

xấu, ngân hàng thường chấp nhận bán với giá thấp hơn giá trị khoản nợ để thu hồi

vốn nhanh và tránh ảnh hưởng tới những khoản nợ còn lại. Để thực hiện có hiệu quả

biện pháp này, bên cạnh việc nhanh chóng đưa các khoản nợ xấu ra khỏi bảng tổng



26



kết tài sản, các ngân hàng thường thành lập một tổ chức có tính chun mơn hố

cao gọi là Cơng ty quản lý nợ và khai thác tài sản. Công ty này sẽ tiếp nhận các

khoản nợ và thực hiện mua bán tiếp theo.

- Khởi kiện ra tòa để thu hồi nợ

Biện pháp kiện khách hàng ra tồ để đòi nợ được ngân hàng lựa chọn khi các

biện pháp trên vẫn khơng thu hồi được nợ. Ngân hàng có thể nhờ toà án can thiệp

buộc khách hàng trả nợ, chuyển giao tài sản đảm bảo tiền vay, phát mại tài sản của

khách hàng hoặc nếu khách hàng là doanh nghiệp không trả được nợ và ngân hàng

với tư cách là chủ nợ chính có thể làm đơn xin tòa mở thủ tục tuyên bố phá sản

doanh nghiệp theo luật phá sản. Theo quy định của luật này, kể từ ngày tòa quyết

định mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản thì các khoản nợ chưa tới hạn được coi

là tới hạn, các chủ nợ bắt đầu khơng được tính lãi đối với các khoản nợ này. Việc

ngừng tính lãi (dù nợ chưa trả) là khơng có lợi cho ngân hàng. Cho nên, yêu cầu phá

sản doanh nghiệp là biện pháp cuối cùng để ngân hàng thu hồi nợ.

Trên thực tế, việc phải sử dụng đến giải pháp này thường không đem lại hiệu

quả cao cho việc đòi nợ của ngân hàng vì thủ tục rắc rối, khách hàng thường là

khơng còn khả năng trả nợ, tài sản đảm bảo có tranh chấp về pháp lý hoặc không đủ

giá trị bù đắp cho khoản vay, việc xử lý tài sản hoặc thu hồi nợ thông qua cơ quan

Thi hành án thường mất nhiều thời gian, tốn kém về chi phí ...

- Sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để xử lý

Sử dụng quỹ dự phòng rủi ro là việc ngân hàng sử dụng dự phòng rủi ro để

bù đắp tổn thất đối với những khoản nợ. Quỹ dự phòng rủi ro là khoản tiền được

trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức

tín dụng khơng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Những trường hợp được xử lý từ

quỹ dự phòng rủi ro là khi khách hàng vay vốn và bên được bảo lãnh vay vốn là

những tổ chức bị giải thể, phá sản hoặc cá nhân bị chết, mất tích hoặc không thực

hiện được các nghĩa vụ nợ do bất khả kháng và những khoản nợ thuộc nhóm 5 - Nợ

có khả năng mất vốn.

Thực chất của biện pháp này là ngân hàng sử dụng nội lực của mình để khắc



27



phục gánh nặng nợ xấu nên ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng. Việc

sử dụng quá nhiều giải pháp này làm giảm thu nhập của ngân hàng trong khi vốn

cho vay vẫn khơng thu hồi được. Vì vậy, ngân hàng nên chú trọng vào các biện

pháp thu hồi nợ có tính triệt để hơn.

- Khoanh nợ, xóa nợ

Đối với những khoản rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp phát sinh

do các khoản vay theo chính sách của Chính phủ, hoặc do khách hàng gặp phải

những rủi ro bất khả kháng như: bão, lũ lụt, các đại dịch…làm cho khách hàng rơi

vào trình trạng khó khăn không trả được nợ. Sau khi áp dụng các biện pháp mà vẫn

không thu hồi được nợ. Trên cơ sở chủ trương, chỉ đạo, hướng dẫn của Nhà nước và

Chính phủ về việc khoanh nợ hay xóa nợ cho khách hàng tùy vào mức độ khó khăn

của từng khách hàng. Biện pháp này có hạn chế là thủ tục, trình tự xử lý phức tạp,

kéo dài, có sự tham gia của nhiều cơ quan chức năng, không thể áp dụng thường

xun vì vốn ngân sách có hạn, việc xử lý một khối lượng lớn nợ xấu rất tốn kém làm

giảm ngân sách đầu tư cho các lĩnh vực khác, gây ảnh hưởng toàn bộ nền kinh tế.

Ngoài những biện pháp trên, ngân hàng có thể sử dụng các biện pháp xử lý

rủi ro nhằm chuyển giao rủi ro tín dụng trong cho vay cho một vài đối tượng khác

chịu một phần hoặc hồn tồn tổn thất xảy ra. Hình thức này bao gồm:

Chuyển nợ thành vốn góp cổ phần: Bên cạnh các giải pháp xử lý thu hồi nợ

xấu nêu trên, Ngân hàng cần phối hợp những biện pháp xử lý nợ khác có tính chủ

động và linh hoạt cao như: Tư vấn cho khách hàng về các đối tác có quan hệ kinh tế

để tránh xảy ra những vụ lừa đảo, hoặc các hợp đồng vô hiệu dẫn đến rủi ro cho

khách hàng (cũng là cho cả Ngân hàng); Đẩy mạnh việc chuyển nợ vay thành vốn

góp vào những doanh nghiệp có triển vọng. Với hình thức này, Ngân hàng chuyển

số tiền từ hình thức cho vay sang hình thức góp vốn và tham gia vào điều hành hoạt

động của doanh nghiệp hoặc chọn thời điểm thích hợp để chuyển nhượng cổ phần.

Chứng khốn hóa: Chứng khốn hóa tức là Ngân hàng chuyển giao phần rủi

ro tín dụng cho người đầu tư chứng khốn, qua đó Ngân hàng sẽ giải phóng được

một số vốn lớn nằm trong quỹ dự phòng rủi ro khi tiến hành chứng khốn hóa các



28



khoản nợ xấu. Chứng khốn hóa các khoản nợ xấu giúp cho Ngân hàng có thể cơ

cấu lại danh mục đầu tư của mình, đồng thời có những dòng tiền để tiếp tục thực

hiện việc cho vay.

1.3.3 Tiêu chí đánh giá kết quả cơng tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay

doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại

1.3.3.1 Mức giảm tỷ lệ nợ xấu:

“Nợ xấu” là các khoản nợ thuộc các nhóm 3,4 và 5 và có các đặc trưng sau:

+ Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi đến hạn.

+ Tình hình tài chính của khách hàng đang có chiều hướng xấu.

+ Tài sản đảm bảo được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợ

gốc và lãi.

+ Thông thường là những khoản nợ đã được gia hạn nợ, hoặc những khoản

nợ quá hạn trên 90 ngày.

Tỷ lệ nợ xấu



=



Dư nợ xấu

Tổng dư nợ



x



100%



Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng.

Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này khơng

còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn.

1.3.3.2 Mức giảm tỷ lệ xóa nợ ròng:

Tỷ lệ xóa nợ ròng



=



Nợ xóa

Tổng dư nợ



x



100%



Đây là khoản nợ được xếp vào nhóm 5 trong một thời gian dài và doanh nghiệp

khơng còn khả năng chi trả nên ngân hàng phải xóa nợ bằng cách sử dụng nguồn dự

phòng rủi ro đã trích để thực hiện xóa nợ. Những khoản nợ này sau khi xóa sẽ được hạch

tốn ngoại bảng, khi có điều kiện sẽ thu nợ và được hạch toán vào thu nhập.

Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu chưa phải là căn cứ tin cậy để đánh giá mức độ rủi ro

mà Ngân hàng phải đối mặt. Thực tế, có những hợp đồng vốn do những nguyên

nhân nào đó khơng thực hiện việc trả nợ kịp thời (đúng theo hợp đồng), nhưng

Ngân hàng vẫn có thể thu hồi đầy đủ số nợ này. Xóa nợ ròng là một khoản cho vay



29



khơng còn giá trị và Ngân hàng đã đưa ra khỏi sổ sách (theo dõi ngoại bảng) được

gọi là khoản cho vay được xóa. Nếu một trong những khoản vay đó mà cuối cùng

ngân hàng thu được thì khoản thu nhập đó sẽ khấu trừ vào tổng các khoản xóa nợ

tạo thành khoản xóa nợ ròng. Khoản xóa nợ ròng là mức tổn thất thật sự, phản ánh

hơn về mức độ rủi ro, người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ nợ xóa ròng. Nếu tỷ lệ này

càng cao, điều này cho thấy hoạt động tín dụng của Ngân hàng có vấn đề, bị tổn thất

lớn, danh mục cho vay có chất lượng thấp và nguy cơ phá sản cao.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Thứ hai: Thông tin tài chính của khách hàng doanh nghiệp rõ ràng, được thể hiện qua báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x