Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các cấp, các ngành mà đặc biệt là cơ quan BHXH huyện và Hội nông dân huỵên cần phải phối hợp thật tốt để tác động đến người lao động trong việc thực hiện chính sách BHXH TN; Bởi vì, người dân trên địa bàn huyện là người trực tiếp thụ hưởng chính sách ...

Các cấp, các ngành mà đặc biệt là cơ quan BHXH huyện và Hội nông dân huỵên cần phải phối hợp thật tốt để tác động đến người lao động trong việc thực hiện chính sách BHXH TN; Bởi vì, người dân trên địa bàn huyện là người trực tiếp thụ hưởng chính sách ...

Tải bản đầy đủ - 0trang

75

việc thực hiện chính sách BHXH TN; Bởi vì, người dân trên địa bàn huyện là

người trực tiếp thụ hưởng chính sách BHXH TN khi rủi ro, về già.

Cho nên người nông dân cần phải ý thức được rằng tham gia BHXH TN

là lợi ích tương lai của chính mình. Các chương trình BHXH TN hiện nay

được nhà nước thiết kế, xây dựng và thực thi đều vì mục đích ASXH của

người lao động, khơng vì mục tiêu sinh lợi cho nhà nước.

Việc xây dựng quỹ BHXH tự nguyện là dựa trên cơ sở mức đóng góp

và mức thụ hưởng, tuy nhiên mức đóng góp, mức hưởng thụ hiện nay còn có

một số những bất cập (chẳng hạn như mức đóng, tỷ lệ đóng, mức tuổi tham

gia, mức hưởng v.v...), trong quá trình tham gia nếu phát hiện bất cập gì,

người tham gia có thể thơng qua các kênh khác nhau như gặp trực tiếp đại

diện cơ quan BHXH, qua báo đài, v.v...để đề xuất nguyện vọng vủa mình. Chỉ

có sự phản hồi trực tiếp của người lao động tham gia BHXH tự nguyện là cơ

sở khoa học và thực tiễn tốt nhất cho Nhà nước sửa đổi BHXH tự nguyện cho

phù hợp với thực tế. Nếu không đề đạt ý kiến, chương trình BHXH tự nguyện

này triển khai sẽ khó khăn và thậm chí sẽ khơng thành cơng trong thực tiễn.

Người dân phải có trách nhiêm tìm hiểu các quy định của pháp luật về

lao động, về chính sách BHXHTN, cần phải đọc rõ các điều quy định trong

luật, nghị định và hướng dẫn của các cơ quan, ban, ngành nếu thấy gì bất hợp

lý có thể u cầu sửa đổi bổ sung cho phù hợp, đồng thời người tham gia

cũng có quyền phản ảnh, khiếu nại, khiếu kiện hoặc đề nghị truy tố tập thể, cá

nhân có hành vi vi phạm luật lao động và các quy định về BHXH.

3.3. CÁC ĐIỀU KIỆN THỰC THI GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ

BHXH TỰ NGUYỆN CHO NGƯỜI DÂN

3.3.1. Nhóm điều kiện về pháp lý

Đây là điều kiện liên quan trực tiếp đến việc ban hành, thực hiện các chế

độ chính sách và sự quản lý của nhà nước đối với các loại hình BHXH. Vì



76

vậy vậy, các chế độ BHXH chẳng những cần được thể chế hoá thành luật

BHXH mà còn cần được thể chế hố trong các luật có liên quan với luật

BHXH, Nghị định, Thông tư. Nhằm tạo thành khung pháp lý đầy đủ và đồng

bộ" để bảo vệ quyền lợi và điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong việc ban

hành và thực hiện chính sách BHXHTN.

Huyện ủy, HĐND, UBND huyện phải ban hành Nghị quyết, chỉ thị chỉ

đạo và có cơ chế chính sách hỗ trợ cho người dân tham gia BHXH tự nguyện

bằng tỷ lệ nhất định, nhằm tạo điều kiện cho người dân tham gia BHXH TN.

Có cơ chế chính sách cho vay từ nguồn vốn Ngân hàng chính sách xã hội

để nộp tiền BHXH TN khi bị rủi ro do thiên tai bất khả kháng.

3.3.2. Nhóm điều kiện về kinh tế

Điều kiện kinh tế là điều kiện tiên quyết và trực tiếp để NLĐ có thể tham

gia BHXH TN được hay khơng. Vì vậy, điều kiện kinh tế cho việc ban hành

và thực hiện loại hình BHXH TN chính là việc giải bài toán về tổ chức sản

xuất, kinh doanh, dịch vụ và phân phối thu nhập trong nền kinh tế nói chung

và trong từng gia đình người lao động nói riêng, sao cho có hiệu quả và thiết

thực. Người dân lao động chỉ khi nào đảm bảo được mức sống của mình và

gia đình mình từ trung bình và khá trở lên, có tích luỹ mới có thể có phần dư

ra để tham gia đóng góp vào quỹ BHXH TN.

UBND tỉnh, huyện cần có chính sách xóa đói, giảm nghèo, chính sách

việc làm cho người lao động, hỗ trợ vay vốn để đầu tư sản xuất nhằm tạo

nguồn thu nhập, cải thiện đời sống và tham gia BHXH tự nguyện.

3.3.3. Nhóm điều kiện về tổ chức quản lý và cán bộ

Một trong những điều kiện có tính chất quyết định để ban hành chính

sách và thực hiện sự nghiệp BHXH TN là vấn đề tổ chức và cán bộ. Điều kiện

này thể hiện chủ yếu ở các mặt sau:

- Bộ máy quản lý sự nghiệp BHXH TN từ tỉnh đến huyện phải thật tinh



77

gọn, phương thức và quy trình thực hiện nghiệp vụ quản lý phải đơn giản,

thuận lợi và tạo điều kiện cho người dân tham gia dễ dàng. Bộ máy này phải

được nhà nước quy định cụ thể, rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn.

- Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là linh hồn, là hạt nhân của tổ chức.

Bộ máy mạnh hay yếu, phát huy hiệu quả cao hay thấp là tuỳ thuộc vào vấn đề

cán bộ. Do đó đối với đội ngũ cán bộ thực hiện sự nghiệp BHXHTN phải đảm

bảo các yêu cầu tối thiểu về chuyên môn nghiệp vụ và đặc biệt phải là người có

đạo đức trong sáng, có tinh thần phục vụ tận tuỵ đối với NLĐ, tất cả vì sự

nghiệp BHXH của tồn dân. Chỉ có như vậy, sự nghiệp BHXHTN mới có thể

thực hiện và phát triển được ở huyện Tây Giang một cách có hiệu quả.

Mạng lưới làm công tác BHXH TN cho người dân phải mở rộng và bao

phủ trên các địa bàn từ thôn, bản để thực hiện công tác tuyên truyền, đồng

thời thực hiện công tác khai thác mở rộng đối tượng tham gia BHXH TN.

Xây dựng đội ngũ cán bộ làm cơng tác BHXH TN cho người dân phải có

chun mơn nắm vững được chủ trương, chính sách về BHXHTN, có tinh

thần trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao

3.4. CÁC KIẾN NGHỊ

- Các cấp ủy Đảng, chính quyền cần tăng cường hơn nữa việc tiếp tục chỉ

đạo thực hiện Nghị quyết số 21 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo

của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020.

- Thay đổi mức đóng BHXH TN, có thể đóng theo mức tiền lương cơ sở,

tiền lương cơ sở hoặc đóng theo chuẩn vùng nghèo, đặc biệt là các vùng kinh

tế đặc biệt khó khăn của tỉnh. Như vậy, mức đóng hàng tháng bằng 22% thu

nhập củ NLĐ lựa chọn đóng BHXH, tỷ lệ 22% được lấy như người đóng

BHXH bắt buộc. Mức đóng BHXH TN có thể được thay đổi linh hoạt theo

thu nhập của người đóng bảo hiểm. Tuy nhiên thấp nhất bằng mức chuẩn

nghèo của hộ dân ở khu vực nông thôn và thành thị được Nhà nước quy định.



78

Từ kết quả điều tra nghiên cứu cho thấy, đa số NLĐ cho rằng mức đóng

phí như hiện nay là cao so với thu nhập của họ (chiếm 65,71%), ngoài ra khả

năng lựa chọn mức phí tham gia BHXH tự nguyện phụ thuộc chủ yếu vào thu

nhập của NLĐ vì vậy với mức đóng tối thiểu hàng tháng bằng mức lương cơ

sở (mức quy định hiện hành với mức đóng tối thiểu hàng tháng bằng 22%

lương cơ sở) như hiện nay sẽ là rào cản lớn đối với NLĐ.

- Hỗ trợ người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, đặc biệt là nơng dân

và những người có kinh tế khó khăn

Như đã phân tích thu thập của NLĐ có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết

định tham gia BHXH TN của NLĐ. Thu nhập không ổn định và thấp là trở

ngại lớn nhất trong việc quyết định lựa chọn của NLĐ tham gia BHXH TN.

Thêm vào đó mức đóng phí tham gia BHXH TN cao là hai nguyên nhân chủ

yếu hạn chế khả năng tham gia BHXH TN của NLĐ.

- Phát triển thêm quyền lợi được hưởng khi tham gia BHXH tự nguyện,

hiện tại chỉ có hai chế độ là hưu trí và tử tuất, còn BHXH BB có 5 chế độ là

hưu trí, tử tuất, thai sản, ốm đau, tai nạn lao động được chi trả.



79



KẾT LUẬN

BHXH là một chính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam với

chủ trương đảm bảo về mặt vật chất, tinh thần cho mọi người tham gia và

hưởng các chế độ BHXH ở mọi thành phần, khu vực kinh tế. BHXH tự

nguyện đóng vai trò quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của một quốc

gia trong điều kiện kinh tế thị trường, nhất là những quốc gia đang phát triển

có lực lượng lao động làm việc trong khu vực phi chính thức như nông dân,

người dân lao động tự do chiếm một tỷ lệ lớn.Vì vậy, cần từng bước mở rộng

vững chắc hệ thống BHXH và an sinh xã hội, tiến tới áp dụng chế độ BHXH

cho mọi người.

Có thể nói việc quy định và tổ chức thực hiện BHXH tự nguyện là một

chính sách nhân văn, thể hiện sự quan tâm đến đời sống người dân lao động.

Nhu cầu được chăm lo cuộc sống khi hết tuổi lao động là cần thiết và chính

đáng đối với tất cả mọi người khơng phân biệt giới tính, dân tộc và nơi cư trú.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với những người có mức thu nhập trung bình và

thấp. Tuy nhiên trên thực tế vẫn có những khó khăn khi triển khai loại hình

BHXH này, số lượng người tham gia còn thấp, sự hiểu biết của người dân về loại

hình BHXH tự nguyện còn hạn chế, cơng tác tổ chức thực hiện chưa hiệu

quả.v.v.

Với thực trạng đó, luận văn đã đi sâu vào phân tích, chứng minh làm rõ

thêm cơ sở lý luận về BHXH tự nguyện; đánh giá được thực trạng phát triển,

các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH tự nguyện huyện Tây Giang từ

đó đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm phát triển BHXH TN trên địa bàn

huyện, đảm bảo tính hiệu quả của loại hình BHXH hết sức thiết thực này.

Luận văn này hồn thành nhờ sự cố gắng của bản thân tác giả. Dù đã có

nhiều nỗ lực trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn để có thể đề ra các giải



80

pháp tốt hơn trong việc tăng cường công tác phát triển BHXH nói chung và

BHXH TN nói riêng trên địa bàn huyện Tây Giang nhưng do sự hạn chế về

kiến thức và kinh nghiệm nên luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót.

Tác giả mong muốn thầy cơ và các bạn góp ý để luận văn này hồn thiện hơn

để tác giả có thêm nhiều kiến thức nhằm vận dụng vào thực tế đơn vị mình

đang cơng tác.



PHỤ LỤC

PHIẾU KHẢO SÁT

Ý KIẾN NGƯỜI THAM GIA BHXH TỰ NGUYỆN

Kính chào Quý Ông (Bà)!

Tôi tên là: Nguyễn Thị Thanh Mây

Hiện là học viên cao học chuyên ngành Kinh tế phát triển, Trường đại

học Kinh tế Đà Nẵng. Tôi đang thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp “Phát

triển Bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Tây Giang, tỉnh

Quảng Nam”, để hoàn thành đề tài, rất mong nhận được sự quan tâm giúp đỡ

của Quý Ông (Bà) trong việc tham gia trả lời bảng câu hỏi này.

Tôi xin cam đoan tất cả những thơng tin mà Ơng (Bà) cung cấp trong

phiếu khảo sát, tơi chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu của đề tài, ngồi ra

tơi hồn tồn khơng sử dụng cho mục đích khác.

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ông (Bà)!

Nội dung:

1. Ông (Bà) cho biết giới tính của bản thân?

□ Nam



□ Nữ



2. Ơng (Bà)cho biết nghề nghiệp hiện tại?

□ Công nhân, nhân viên

□ Nông dân, nội trợ

□ Lao động tự do

□ Khác

3. Ông (Bà) biết đến BHXH TN thông qua kênh thông tin nào (có thể

lựa chọn nhiều kênh)?

□ Người thân, gia đình, bạn bè

□ Mạng xã hội (Internet)



□ Áp phích, pano tuyên truyền

□ Báo chí, truyền thanh, truyền hình

□ Đại lý bán BHXH TN

□ Khác

4. Vấn đề nào Ông (Bà) quan tâm nhất khi tham gia BHXH TN?

□ Mức đóng BHXH TN

□ Mức hưởng BHXH TN

□ Hồ sơ, thủ tục tham gia

□ Khác

5. Ông (Bà) có được tư vấn về quyền lợi được hưởng khi tham gia

BHXH TN?

□ Rất tốt



□ Không tốt



□ Tốt



□ Khơng được tư vấn



□ Chưa tốt

6. Ơng (Bà) cho rằng mức đóng BHXH TN hiện nay là thấp hay cao?

□ Cao

□ Hợp lý

□ Thấp

7. Ông (Bà) cho rằng phương thức đóng BHXH TN hiện nay đã phù

hợp hay chưa?

□ Phù hợp

□ Chưa phù hợp

8. Ông (Bà) cho biết thời gian đóng BHXH TN hiện nay có phù hợp

hay khơng?

□ Phù hợp

□ Chưa phù hợp



9. Ông (Bà) cho biết địa điểm đóng tiền phí tham gia BHXH TN có

thuận lợi khơng?

□ Thuận lợi

□ Khó khăn

10. Ơng (Bà) có thấy hài lòng về chế độ BHXH TN khơng?

□ Hài lòng

□ Khơng được hài lòng

Xin chân thành cảm ơn Ơng (Bà) đã tham gia khảo sát!



TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

[1]. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2017), Công văn số 1612/BHXH-TT ngày

19/5/2017về việc đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền phổ biến chính

sách BHXH, BHYT.

[2]. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2017), Công văn số 1856/BHXH-KHĐT

ngày 19/5/2017 về việc hướng dẫn tổ chức thực hiện dự toán chi

KCB BHYT năm 2017.

[3]. BHXH Quảng Nam, Báo cáo năm 2012, 2013, 2014, 2015, 2016.

[4]. BHXH Việt Nam (2016), Quyết định số 3588/QĐ-BHXH ngày

21/12/2016 ban hành quy trình lập, phân bổ và giao dự tốn thu,

chi các chế độ BHXH, BHYT, BHTN và chi phí quản lý BHXH,

BHYT, BHTN hàng năm.

[5]. Bộ Chính trị (2012), Nghị quyết số 21-ND/TW ngày 22/11/2012 tăng

cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai

đoạn

[6]. Cục thống kê Quảng Nam (2016), Niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam

2015, Nxb Thống Kê Hà Nội.

[7]. Hỏi đáp về chính sách Bảo hiểm xã hội (2009), Bảo hiểm xã hội Việt

Nam, NXB Lao động – Xã Hội, Hà Nội.

[8]. Hồ Chí Minh (2002), Hồ Chí Minh tồn tập. Tập 05 (162), Nxb Chính trị

Quốc Gia Hà Nội.

[9]. Lê Thị Thu Hương (2007), Bảo hiểm xã hội tự nguyện một số vấn đề lý

luận và thực tiễn áp dụng, Luận văn Thạc sĩ. Đại học Quốc gia Hà

Nội. 104 tr.



[10]. Vương Đình Huệ (2014), Hội thảo khoa học Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam

trong những năm đổi mới và Phát triển, Tổ chức ngày 19 tháng 9

năm 2014 tại Hà Nội.

[11]. Trần Quang Hùng (1993), Đổi mới chính sách bảo hiểm xã hội cho

người lao động trong các thành phần kinh tế ở Việt Nam, Đề tài cấp

nhà nước KX.04.05.02.

[12]. Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến (1998), Đổi mới chính sách bảo

hiểm xã hội đối với người lao động, NXB Chính trị Quốc gia.

[13]. PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải (2010), Giáo trình lý luận hành chính Nhà

nước, Hà Nội.

[14]. Phạm Thị Định, Nguyễn Văn Định (2015), Giáo trình Kinh tế Bảo hiểm,

Đại học kinh tế Quốc Dân.

[15]. Mạc Văn Tiến (2005), Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và

những vấn đề đặt ra, An sinh xã hội và phát triển nhân lực. NXB

Lao động - Xã Hội.

[16]. Trần Văn Toàn (2012), Tham gia BHXH tự nguyện khi ngừng tham gia

bảo hiểm xã hội bắt buộc, Truy cập ngày 5/4/2012 từ

http://baodientu.chinhphu.vn/Huong-dan-chinh-sach-phapluat/Tham-gia-BHXH-tu-nguyen-khi-ngung-tham-gia-BHXH-batbuoc/133911.vgp.

[17]. Phạm Đỗ Nhật Tân (2014a), “Đề xuất hoàn thiện chính sách bảo hiểm

xã hội tự nguyện”, Tạp chí Bảo hiểm xã hội. Số 256. tr. 16-18.

[18]. Nguyễn Xuân Vinh (2010), Kinh nghiệm quản lý bảo hiểm xã hội của

các nước và sự vận dụng vào Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học

cấp Bộ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các cấp, các ngành mà đặc biệt là cơ quan BHXH huyện và Hội nông dân huỵên cần phải phối hợp thật tốt để tác động đến người lao động trong việc thực hiện chính sách BHXH TN; Bởi vì, người dân trên địa bàn huyện là người trực tiếp thụ hưởng chính sách ...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×