Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂY GIANG

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂY GIANG

Tải bản đầy đủ - 0trang

32

Avương và xã Dang.

Tiềm năng phát triển của Tây Giang

Sở hữu hệ sinh thái rừng hoang sơ, quyến rũ như rừng cây pơ mu, đỗ

quyên, rừng lim cổ thụ…, Tây Giang đang từng bước đưa vào khai thác du

lịch. Trong đó, hơn 50ha rừng đỗ quyên được xem là điểm nhấn với lễ hội

hoa đỗ quyên định kỳ được tổ chức. Khơng chỉ có ưu thế về thiên nhiên

hoang sơ kỳ vĩ, khí hậu mát mẻ quanh năm, Tây Giang cũng là vùng đất giàu

bản sắc văn hóa tộc người Cơ Tu. Đây là yếu tố để địa phương này ưu tiên

đầu tư loại hình du lịch cộng đồng sinh thái phù hợp với đặc thù văn hóa bản

làng vùng cao. Có thể kể đến làng văn hóa thơn Pơ’ning, khu dân cư Arớch

(xã Lăng), các thôn của xã A Nông, làng du lịch sinh thái Azứt (Bhalêê), thôn

Arầng I (A Xan), thôn biên giới Ch’nốc (Ch’Ơm)…

2.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội:

Về kinh tế

Trong năm 2017, lĩnh vực như: nông-lâm-thủy sản đạt trên 118 tỷ đồng

tăng 7,41%, công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp và xây dựng đạt gần 147 tỷ

đồng tăng 11,01% so với năm 2016. Về lĩnh vực trồng trọt và chăn ni cũng

đạt một số kết quả. Tồn huyện có tổng diện tích gieo trồng 2.973 ha, trong

đó có 892 ha diện tích lúa nước cả năm. Tổng đàn gia súc trên địa bàn huyện

10.564 con đạt 81,26% kế hoạch năm. Công tác quản lý bảo vệ rừng được tập

trung chỉ đạo, nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho

người dân về tầm quan trọng rừng, đến nay trên địa bàn khơng có vụ cháy

rừng nào xảy ra. Cùng với đó, Tây Giang đã hoàn thành Đồ án quy hoạch

tổng thể phát triển du lịch huyện Tây Giang từ nay đến năm 2025. Về lĩnh vực

tài nguyên môi trường huyện cũng đã giao đất để xây dựng nhà ở cho 7 hộ gia

đình tại khu làng truyền thống Cơtu huyện với tổng diện tích 1.205m2.

Về cơ sở hạ tầng

Khi mới tái lập toàn huyện chỉ có hơn 15km đường giao thơng, bằng sự



33

quyết tâm, nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân, sau 15 năm tái lập,

đến nay 100% xã, thôn bản đã có đường giao thơng đến tận nơi, với tổng

chiều dài gần 400km. Có điện lưới sử dụng, có sóng điện thoại, có 2 trường

THPT, 4 trường THCS, và hệ thống các trường mầm non, Tiểu học, 100% xã

có Trạm xá, và Trung tâm y tế huyện là Bệnh viện vệ tinh của Bệnh viện Đà

Nẵng. Trong những năm qua, huyện đã quy hoạch, sắp xếp, bố trí tái định cư

cho 84/95 thơn bản, hợp với văn hóa truyền thống dân tộc Cơ Tu, mở rộng

sản xuất, chăn nuôi theo hướng tập trung và khoa học. Tổng vốn đầu tư xã hội

trong 15 năm qua là 4.200 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 20

triệu đồng một năm. Thành cơng nhất là huyện đã tích cực triển khai xây

dựng nơng thơn mới, được nhân dân đồng tình ủng hộ, trở thành điểm sáng

trên vùng biên cương phía Tây tỉnh Quảng Nam.

Về xã hội

a. Đặc điểm dân cư:

Huyện Tây Giang có tổng số dân là 18.540 người với 3.213 hộ ; mật độ

dân số khoảng 20 người/km2. Dân cư phân bố thưa thớt, khơng đồng đều, có

tới 92% dân số trong huyện là dân tộc C’tu.

Bảng 2.1. Tình hình dân số của huyện Tây Giang (2012- 2016)

Đơn vị tính: người

Năm

2012

2013

Tổng số

17,384

17,698

Phân theo giới tính

Nam

8,793

8,977

Nữ

8,591

8,721

Phân theo thành thị, nơng thôn

Nông thôn

17,384

17,698

Thành thị

-



2014

18,024



2015

18,272



2016

18,540



9,146

8,878



9,289

9,413



9,414

9,126



18,024

-



18,272

-



18,540



(Nguồn: Chi cục thống kê huyên Tây Giang)



34

Số liệu từ bảng 2.1 cho thấy huyện Tây Giang có lưc lượng lao động

không quá nhiều so với những nơi khác và hầu hết sống ở nông thôn.

Bảng 2.2. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của huyện Tây Giang

(2012- 2016)

Đơn vị tính: Người

Năm



2012



Tổng số



2013



2014



2015



2016



9,933



10,377



10,806



11,116



11,501



Nam



5,082



5,334



5,573



5,722



5,931



Nữ



4,851



5,043



5,233



5,394



5,570



Phân theo giới tính



(Nguồn: Chi cục thống kê huỵên Tây Giang)

Ở bảng 2.2 cho thấy tổng dân số trong độ tuổi lao động là 11.501 người,

trong đó nữ là 5.570 người. Đa số nhân dân sống bằng nghề nông, sản xuất

nương rẫy là chủ yếu, thu nhập thấp, tự cung tự cấp, chưa tạo thành hàng hóa

để bn bán, trao đổi. Lao động đã qua đào tạo còn ít, hầu hết chưa qua đào

tạo gây khó khăn cho việc phát triển nơng nghiệp, nơng thơn theo hướng cơng

nghiệp hóa.

Bảng 2.3. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của huyện Tây Giang

(2012- 2016)

Đơn vị tính: Người

Năm



2012



Tổng số



2013



2014



2015



2016



9,933



10,377



10,806



11,116



11,501



Nam



5,082



5,334



5,573



5,722



5,931



Nữ



4,851



5,043



5,233



5,394



5,570



Phân theo giới tính



(Nguồn: Chi cục thống kê huỵên Tây Giang)



35

Kinh tế phát triển là động lực thúc đẩy phát triển đời sống văn hoá – xã

hội. Hệ thống trường học được đầu tư từ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và

học từng bước được hồn thiện; chất lượng giáo dục có tiến bộ. Mạng lưới

trường lớp được mở rộng, 100% xã đã có lớp mẫu giáo, tồn huyện có 23 đơn

vị trường học; đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và

THCS; tỷ lệ trẻ em 06 tuổi vào lớp 1 hằng năm đạt 100 %.

Công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được quan tâm đúng

mức, điều kiện khám chữa bệnh của người dân được cải thiện đáng kể. Thực

hiện có hiệu quả các Chương trình mục tiêu Y tế quốc gia, hoàn thành chiến

dịch “Tăng cường tuyên truyền, vận động, lồng ghép dịch vụ chăm sóc Sức

khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình” .

Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh cơng tác khơi phục, bảo tồn và phát huy các

giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể được huyện không ngừng đầu tư như: Làng

truyền thống, nhà mồ Cơtu, thơn văn hố Pơr’ning, Tà vàng, sưu tầm văn hoá

làng, chữ viết Cơtu, làn điệu dân ca, dân vũ…

Tình hình an ninh biên giới và trật tự an toàn xã hội được giữ vững An

ninh kinh tế, an ninh nơng thơn và tình hình dân tộc khơng xảy ra vấn đề gì

phức tạp làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị của địa phương. Các ngành

chức năng triển khai thực hiện tốt các Chỉ thị của Huyện ủy về nhiệm vụ quốc

phòng và an ninh trật tự năm 2017, phát huy vai trò của người có uy tín, già

làng trưởng bản tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc..

2.1.3. Nhận thức của người dân và khả năng thu nhập

- Nhận thức của người dân:

Do BHXH tự nguyện được áp dụng với đối tượng là người dân, nên trình

độ nhận thức khơng đồng đều lại có thói quen về tâm lý có tiền là chi tiêu cho

đời sống sinh hoạt hiện tại ít quan tâm đến tiết kiệm để đề phòng rủi ro xảy ra

Nhận thức về chính sách BHXH tự nguyện ở người dân còn hạn chế.



36

Theo kết quả điều tra ở trên cho thấy người nông dân thiếu thông tin là một

phần là do các cấp, các ngành, mà chủ công là cơ quan BHXH các cấp chưa

làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức dẫn đến người dân chưa

được tiếp cận một cách đầy đủ về chủ trương chính sách BHXH TN, chưa

hiểu biết về BHXH tự nguyện chiếm tỷ lệ khá cao từ 20% đến trên 50%, ; bởi

vì trình độ dân trí của nơng dân còn thấp lại khơng đồng đều, phần lớn là lao

động phổ thông không qua đào tạo. Với kết quả đạt được trong 5 năm qua về

đối tượng người nông dân trên địa bàn huyện tham gia BHXH tự nguyện mới

đạt 0,0087% trên tổng số lao động trên 15 tuổi. Điều đó chứng tỏ cơng tác

tuyên truyền để làm thay đối thói quen, nhận thức cho người dân trong thời

gian qua của ngành BHXH là chưa tốt, bên cạnh đó là do nhận thức của người

dân thường có thói quen tự bảo hiểm theo kiểu truyền thống “trẻ cậy cha, già

cậy con” chưa được tiếp cận làm quen với các dịch vụ công, phúc lợi xã hội,

lại phải đối mặt với những khó khăn trước mắt nên chưa có tư tưởng lo xa.

Đây là một trong những nhân tố làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chính

sách BHXH tự nguyện tại địa phương trong thời gian qua .

Thu nhập của người dân

Độ bao phủ của BHXHTN đối với lao động khu vực nông nghiệp và phi

nông nghiệp muốn tăng lên chủ yếu là phải dựa trên cơ sở phát triển kinh tế,

tăng thu nhập, nâng cao mức sống người dân để từ đó phát sinh (kích thích)

nhu cầu thiết thực và khả năng tham gia BHXH đối với họ; Song hiện nay

kinh tế xã hội của huyện có phát triển nhưng thu nhập bình quân đầu người

năm 2017 của người dân vẫn còn rất thấp khoảng dưới 1.500.000

đồng/người/tháng chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ của nhà nước nên đời sống của

người dân vẫn còn khó khăn, thiên tai dịch bệnh thường xun xảy ra, thu

nhập thiếu ổn định. Đây là nguyên nhân cơ bản làm cho đối tượng tham gia

chưa đạt yêu cầu đề ra.



37

- Ngoài ra, với những đối tượng khá và giàu (chiếm tỉ lệ rất ít trên địa bàn

huyện) lý do chưa tham gia chủ yếu là thiếu thông tin, tiếp đến là chưa có nhu

cầu tham gia vì bản thân họ chủ quan với thu nhập khá trong gia đình nên chưa

ý thức đến rủi ro, tuổi già... Phần lớn số còn lại sẽ khó khăn trong việc đóng

BHXH. Ở đây rõ ràng, việc thực hiện chính sách BHXH trên nguyên tắc công

bằng và tiến bộ xã hội, đặc biệt cho nhóm người nghèo và yếu thế là vấn đề rất

nan giải, nếu khơng có chính sách hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng xã hội.

Khi đã quyết định tham gia BHXH TN, đối tượng sẽ xem xét dựa trên

thu nhập của họ. Kết quả khảo sát cho thấy trong số đối tượng khảo sát có

60% cho rằng mức đóng hiện tại là cao so với thu nhập của họ, 34% cho rằng

mức đóng 22% hiện tại là hợp lý và 6% các đối tượng khảo sát còn lại cho

rằng mức đóng hiện tại là thấp so với thu nhập.

2.1.4. Thực hiện chính sách về bảo hiểm xã hội

Trong những năm qua chủ truơng chính sách của Đảng và pháp luật của

Nhà nước về BHXH nói chung và BHXH tự nguyện cho nơng dân nói riêng

chưa được các cấp, các ngành quan tâm đúng mức, sự phối hợp chưa thường

xuyên, thiếu đồng bộ, không xây dựng được kế hoạch, chương trình phối hợp

tun truyền, chính vì vậy mà đa số người dân ở nông thôn chưa được tiếp

cận một cách đầy đủ về chủ trương, chính sách, chưa hiểu biết về chế độ,

BHXH tự nguyện. Thậm chí, rất nhiều người còn nhầm lẫn BHXH với những

loại hình bảo hiểm khác như: Bảo Việt, Bảo hiểm nhân thọ….

Việc xây dựng ban hành chủ trương chính sách pháp luật về BHXH tự

nguyện cho nông dân là vấn đề rộng lớn và hết sức cần thiết vì nó liên quan đến

hàng triệu lao động tự do và ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế xã hội –

chính trị của tỉnh. Trong thời gian qua, nhà nước, Bộ, ngành chưa ban hành có hệ

thống các văn bản pháp Luật đầy đủ tồn diện và có tính khả thi cao.

Các văn bản ban hành của tỉnh hiện đang triển khai thực hiện BHXH tự



38

nguyện chưa được đầy đủ, thiếu đồng bộ…làm ảnh hưởng đến kết qủa thực hiện.

BHXH tự nguyện chỉ thực hiện 2 chế độ, hưu trí và tử tuất khác với

BHXH bắt buộc nên chưa thu hút được người tham gia

Mức đóng của người dân tham gia tự nguyện cao.

Quỹ BHXH tự nguyện ra đời và thực hiện được gần 10 năm, nhưng

ngành BHXH chưa xây dựng được quy chế quản lý và đầu tư tăng trưởng. Từ

những nguyên nhân trên nên đã tác động và làm ảnh hưởng đến việc thực hiện

chính sách cũng như phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện.

2.2 THỰC TRANG PHÁT TRIỂN BHXH TỰ NGUYỆN TRÊN ĐỊA

BÀN HUYỆN TÂY GIANG

2.2.1. Thực trạng phát triển về số lượng BHXHTN

Theo báo cáo thu BHXH TN trong 5 năm của BHXH huyện Tây Giang,

số thu BHXH của huyện đã tăng khá, từ 19,3 tỷ đồng năm 2013 đã tăng lên

28,3 tỷ đồng năm 2017, tức tăng 9 tỷ đống bảng 2.1.

Số liệu trên Bảng 2.1 cũng cho thấy số thu BHXHTN cũng tăng khá, từ

mức 376 triệu đồng năm 2013 đã tăng lên 1115 triệu đồng năm 2017, tăng

379 triệu đồng.

Tăng trưởng số thu BHXHTN tăng không đều, năm 2013 là 13,6%, năm

2014 là 43.6%, năm 2015 là 17.2% năm 2016 là 9.2% và năm 2017 là 61.4%.

Nhưng trung bình là 29% năm cao hơn so với 11.9% của tổng thu BHXH

chung. Điều này dẫn tới Tỷ lệ số thu BHXH TN/Số thu BHXH tăng dần thời

gian qua, từ 1,94% năm 2013 đã tăng lên 3.93% năm 2017, tăng gần 2%. Có

thể thấy số thu BHXH TN qua các năm luôn cao hơn mức BHXH Quảng

Nam giao. Tuy nhiên, số thu BHXH TN vẫn chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng

thu BHXH.



39

Bảng 2.4. Số thu và tốc độ tăng số thu BHXH và BHXH tự nguyện trên địa

bàn huyện Tây Giang

2013



2014



2015



2016



2017



Số thu (Triệu đồng)

BHXH

BHXH tự nguyện



19350



22933



25966



27425



28351



376



540



633



691



1115



Tỷ lệ tăng số thu (%)

BHXH



15.5



18.5



13.2



5.6



3.4



BHXH tự nguyện



13.6



43.6



17.2



9.2



61.4



1,94



2,37



2,44



2,52



3,93



Tỷ lệ số thu BHXH

TN/Số thu BHXH



(Nguồn: Bảo hiểm xã hội huỵên Tây Giang)

SỐ THU BHXH VÀ BHXH TỰ NGUYỆN 2012 - 2016

30,000

25,966



Triệu đồng



25,000

20,000



27,425



28,351



22,933

19,350

Số thu BHXH



15,000



Số thu BHXH tự nguyện



10,000

5,000

376



540



633



691



1,115



0

2012



2013



2014



2015



2016



Biểu đồ 2.1: Số thu BHXH và BHXH TN trên đại bàn huyện Tây Giang

2012- 2016



40

Số thu BHXHTN ngày càng tăng của người dân đang tham gia đóng

BHXHTN để hưởng khi về già cũng ngày một tăng. Chọn mức đóng trung

bình đóng BHXHTN của người dân hiện nay cũng cao hơn mức lương tối

thiểu chung của nhà nước quy định.

Như vậy, quy mô số lượng BHXHTN đang có dấu hiệu khởi sắc và tăng

nhanh hơn so với số thu BHXH chung.

Để thấy kỹ hơn, hay xem xét số lượng người tham gia BHXHTN trong

những năm qua ở huyện. Đây mới là một tiêu chí quan trọng cần phải xem xét.

Bảng 2.5. Số lượng người và tốc độ tăng số lượng người tham gia BHXH

và BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Tây Giang

2013



2014



2015



2016



2017



Số lượng người (người)

BHXH TN

BHXH



186



211



208



224



325



1860



1990



2050



2208



2384



Tỷ lệ tăng số lượng người tham gia (%)

BHXHTN

BHXH



11.1



13.4



-1.4



7.7



45.1



8.2



7.0



3.0



7.7



8.0



(Nguồn: Bảo hiểm xã hội huỵên Tây Giang)

Khi xem xét tăng trưởng BHXHTN cần đánh giá những thay đổi số lượng

người tham gia đóng BHXH. Số liệu trên bảng 2.2. cho thấy số lượng người

tham gia BHXHTN đã tăng đáng kể. Năm 2013 là 186 người, năm 2014 là

211 người, năm 2015 là 208 người, năm 2016 là



224 và 2017 là 325 người.



41

Tốc độ tăng tuy biến thiên nhưng cao hơn mức tăng trưởng chung tham gia

BHXH.

Phát triển về số lượng BHXHTN cần thiết mở rộng đối tượng tham gia

BHXH. Là một địa phương mà nơng nghiệp còn chiếm vai trò quan trọng,

phần lớn lao động sống ở nơng thơn và làm việc trong nơng nghiệp thì cần

thiết quan tâm tới đối tượng này.

Bảng 2.6. Số lượng tham gia BHXH tự nguyện của nông dân trên địa bàn

huyện Tây Giang

2013



2014



2015



2016



2017



51



60



63



65



100



135



151



145



159



225



Số lượng người (người)

Đối tượng là nông dân

Đối tượng là Phi nông

nghiệp



Tỷ lệ tăng số lượng nông dân tham gia (%)

Đối tượng là nông dân



27.4



28.4



30.3



29.0



30.8



72.6



71.6



69.7



71.0



69.2



Đối tượng là Phi nông

nghiệp



(Nguồn: Bảo hiểm xã hội huỵên Tây Giang)

Xem xét các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, nông dân

tham gia còn khơng nhiều. Trong tổng số người tham gia BHXHTN của

huyện thì tỷ lệ là nơng dân tuy có tăng nhưng hiện chỉ chiếm 30.8%. Những

phân tích này đã chỉ ra rằng tiềm năng để phát triển BHXHTN ở huyện Tây

Giang còn khá lớn nếu tập trung mở rộng đối tượng tham gia là nơng dân.

Tuy nhiên cũng cần có những giải pháp phù hợp thì mới có thể thu hút được

đối tượng này.



42

Một số chính sách và biện pháp mà BHXH huyện đã thực hiện nhằm

phát triển BHXHTN ở đây.

Khảo sát nhu cầu tham gia BHXHTN

Đây là công tác quan trọng qua đá không chỉ biết nhu cầu mà còn xem

xét các yếu tố tác động tới hành vi của họ nhờ đó có các giải pháp để thay đổi

hành vi của họ

- BHXH nói chung, BHXHTN cho người dân nói riêng là nhằm đáp ứng

nhu cầu cơ bản và thiết thân của người lao động, do đó được nhà nước rất

quan tâm. Quan điểm, chủ trương của Đảng là đa dạng hóa các loại hình

BHXH và bảo hiểm tự nguyện khác, nhằm mở rộng cơ hội cho mọi người lao

động tham gia bảo hiểm, tiến tới BHXH cho tất cả những người lao động.

Chủ trương đó từng bước được thể chế hóa về mặt nhà nước. Đặc biệt là luật

BHXH về BHXH TN được ban hành và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm

2008, trong đó quy định BHXH tự nguyện đây là cơ sở pháp lý cao nhất để

lao động tự do chính thức tham gia BHXH.

- Nhu cầu tham gia BHXH của người dân ở huyện, kinh tế - xã hội của

huyện đã có nhiều phát triển nhưng chưa cao, đời sống nhân dân từng bước

được cải thiện cho nên nhu cầu về BHXH ngày càng đa dạng, phong phú và

ngày càng tăng. Tuy nhiên, nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện của người dân

chưa cao. Nếu chính sách BHXH tự nguyện cho khu vực này được thiết kế

mức đóng và hưởng hợp lý, linh hoạt, có sự hỗ trợ của cộng đồng và nhà

nước, nhất là cho đối tượng yếu thể, người nghèo thì khả năng tham gia của

người dân trên địa bàn huyện sẽ cao hơn.

- Từ khi Luật BHXH về BHXH tự nguyện có hiệu lực, dù mới chỉ có

khoảng 325 người tham gia trong khi đó dân số trong độ tuổi lao động từ 15

tuổi trở lên là 11.501 lao động. Đây là con số rất thấp so với tiềm năng lao

động trong nơng nghiệp hiện có của tỉnh, nhưng nhu cầu tham gia của người



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂY GIANG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×