Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI

Tải bản đầy đủ - 0trang

11

hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất

thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp,

hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”

Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo

hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham

gia”.

- Khái niệm phí bảo hiểm xã hội: Theo Trần Quang Hùng và Mạc Văn

Tiến (1998): “Phí BHXH là khoản tiền đóng góp hàng tháng hoặc định kỳ của

những người tham gia BHXH cho Quỹ bảo hiểm xã hội”.

- Khái niệm trợ cấp bảo hiểm xã hội: Trợ cấp BHXH là khoản tiền từ

Quỹ BHXH được cơ quan hay tổ chức BHXH chi trả cho người được BHXH

khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc bị

mất việc làm và có đủ điều kiện hưởng theo quy định của pháp luật BHXH.

Trợ cấp BHXH có nhiều loại như trợ cấp một lần, trợ cấp lần đầu, trợ cấp

hàng tháng, trợ cấp ngắn hạn, trợ cấp dài hạn (Trần Quang Hùng và Mạc Văn

Tiến, 1998).

- Khái niệm người lao động: Quy định tại Điều 6 Bộ Luật Lao động

của Quốc hội (1994), “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả

năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự

quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”

b. Vai trò của bảo hiểm xã hội

- Đối với cá nhân người lao động và gia đình

+ Thứ nhất, ổn định thu nhập cho người lao động và gia đình. Khi tham

gia BHXH, BHXH TN, NLĐ phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH,

khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi

phí gia đình tăng lên, khi về già hết tuổi lao động hoặc phải ngừng làm việc



12

tạm thời. Do vậy thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế lâm vào tình

cảnh khó khăn, túng quẫn (Viet Nam Foundation, 2013)

+ Thứ hai, tạo được tâm lý yên tâm, tin tưởng. Khi đã tham gia BHXH

tự nguyện góp phần nâng cao đời sống tinh thần đem lại cuộc sống bình yên,

hạnh phúc cho người lao động, đặc biệt khi về già (Viet Nam Foundation,

2013)

- Đối với xã hội

+ Thứ nhất, tăng cường mối quan hệ giữa các bên. Nhà nước, người sử

dụng lao động và NLĐ có mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách

nhiệm, chia sẻ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH. Tuy nhiên mối

quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau. Người lao động tham gia

BHXH, BHXH tự nguyện với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng

thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. Người sử dụng lao

động tham gia BHXH là để tăng cường tình đồn kết và cùng chia sẻ rủi ro

cho NLĐ nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên

trong xã hội. Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của

BHXH.

+ Thứ hai, tạo điều kiện cho những người bất hạnh có thêm những điều

kiện, động lực cần thiết để khắc phục những biến cố trong cuộc sống, hoà

nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người

giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân - thiện - mỹ, nhờ đó có thể

chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng”. BHXH là yếu tố tạo nên sự hoà

đồng mọi người, khơng phân biệt chính kiến, tơn giáo chủng tộc, vị thế xã hội

đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội công bằng, văn minh.

+ Thứ ba, thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần

tương thân tương ái. Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố

quan trọng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị



13

nhân bản của con người, tạo điều kiện cho xã hội phát triển lành mạnh và bền

vững.

+ Thứ tư, thực hiện bình đẳng xã hội. Trên giác độ xã hội, BHXH TN là

một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho người lao động. Trên giác độ

kinh tế, BHXH TN là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên

trong cộng đồng. Nhờ sự điều tiết này người lao động được thực hiện bình

đẳng khơng phân biệt các tầng lớp trong xã hội (Viet Nam Foundation, 2013).

1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của BHXH tự nguyện

a. Khái niệm

Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo

hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng

và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã

hội”.

b. Đặc điểm

Bảo hiểm xã hội tự nguyện với tư cách là tiểu hệ thống của hệ thống

BHXH quốc gia, nên có những đặc điểm chung của BHXH. Ngồi ra, BHXH

TN có những đặc điểm cơ bản như: Bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng như

BHXH, dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia

bảo hiểm; Đòi hỏi tất cả mọi người tham gia và bao trùm bởi một hệ thống

được quy định mà các mức đóng góp tạo nên một quỹ chung; Các thành viên

được hưởng chế độ khi họ gặp các sự cố, các “rủi ro xã hội” được bảo hiểm

và đủ điều kiện để hưởng; Chi phí cho các chế độ được chi trả bởi nguồn quỹ

BHXH tự nguyện; Nguồn quỹ được hình thành từ các mức đóng góp của

người tham gia, trong BHXH TN chủ yếu là người lao động, với một phần hỗ

trợ của nhà nước; Đòi hỏi tham gia tự nguyện nhưng dựa trên những mức phí

xác định; Các mức đóng góp được đưa vào một quỹ BHXH TN và các chế độ



14

được chi trả từ đó; Phần “nhàn rỗi tương đối” của Quỹ được đầu tư để kiếm

lợi nhuận; Các chế độ được bảo đảm trên cơ sở các hồ sơ đóng góp khơng liên

quan đến tài sản cũng như thu nhập của người hưởng BHXH TN; Các mức

đóng góp và mức hưởng bằng một tỷ lệ với thu nhập (Trần Quang Hùng,

1993).

1.1.3. Những quy định cơ bản về chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện ở

Việt Nam

Luật bảo hiểm xã hội được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 đã dành chương

IV (từ Điều 69 đến điều 79) mục 2 chương VI (từ Điều 98 đến Điều 101) và

một số điều khoản có liên quan để quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Những quy định này chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành

chế độ BHXH TN chính thức ở nước ta (Chính phủ, 2006)

a. Đối tượng áp dụng bảo hiểm xã hội tự nguyện

Quy định tại Điều 2 và Điều 9 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28

tháng 12 năm 2007 của Chính phủ: Người tham gia BHXH TN là công dân

Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc diện áp dụng của pháp luật về

BHXH bắt buộc, bao gồm: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động

có thời hạn dưới 3 tháng; Cán bộ không chuyên trách cấp xã, ở thôn và tổ dân

phố; Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, kể cả xã

viên không hưởng tiền lương, tiền công trong các hợp tác xã, liên hợp hợp tác

xã; Người lao động tự tạo việc làm; Người lao động làm việc có thời hạn ở

nước ngồi mà trước đó chưa tham gia BHXH BB hoặc đã nhận BHXH một

lần (Chính phủ, 2007).

b. Quyền và trách nhiệm của người tham gia Bảo hiểm xã hội tự

nguyện

- Quyền của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện:



15

Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày

28/12/2007 của Chính phủ: Người tham gia BHXH TN có các quyền sau đây:

Được cấp sổ bảo hiểm xã hội; Nhận lương hưu hoặc trợ cấp BHXH TN

đầy đủ, kịp thời, thuận tiện theo quy định; Hưởng bảo hiểm y tế khi đang

hưởng lương hưu; Yêu cầu tổ chức BHXH cung cấp thơng tin về việc đóng,

quyền được hưởng chế độ, thủ tục thực hiện BHXH; Khiếu nại, tố cáo với cơ

quan Nhà nước, cá nhân có thẩm quyền khi quyền lợi hợp pháp của mình bị vi

phạm hoặc tổ chức, cá nhân thực hiện BHXH tự nguyện có hành vi vi phạm

pháp luật về BHXH; Ủy quyền cho người khác nhận lương hưu và trợ cấp

BHXH tự nguyện.

- Trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện:

Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định; Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ

BHXH TN; Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội theo đúng quy định (Chính phủ, 2007).

c. Phương thức đóng và mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện

- Phương thức đóng: Người tham gia BHXH tự nguyện được đăng ký

với tổ chức BHXH theo một trong 3 phương thức là: Đóng hàng tháng; đóng

hàng quý; đóng 6 tháng một lần. Trường hợp đóng hàng tháng thì đóng trong

thời hạn của 15 ngày đầu; đóng hàng q thì đóng trong thời hạn của 45 ngày

đầu và đóng 6 tháng một lần thì đóng trong thời hạn của 3 tháng đầu.

- Mức đóng BHXH TN hàng tháng (cho mỗi tháng): Mức đóng BHXH

hàng tháng của người tham gia BHXH TN bằng tỷ lệ phần trăm đóng BHXH

TN nhân với mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH của người tham gia

BHXH TN lựa chọn.

Tỷ lệ phần trăm



Mức đóng

=

hằng tháng



đóng BHXH tự

nguyện



x



Mức thu nhập tháng người tham

gia BHXH tự nguyện lựa chọn



16

- Tỷ lệ đóng BHXH tự nguyện: Từ tháng 01/2008 – 12/2009 = 16%; Từ

tháng 01/2010 – 12/2011 = 18%; Từ tháng 01/2012 – 12/2013 = 20%; Từ

tháng 01/2014 trở đi = 22%

Mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH TN của người tham gia

BHXH tự nguyện lựa chọn (gọi tắt là Mức thu nhập tháng): thấp nhất bằng

lương tối thiểu chung, cao nhất bằng 20 lần lương tối thiểu chung.

Mức thu nhập tháng = Lmin + m × 50.000 (đồng/tháng)

Trong đó: Lmin: là mức lương tối thiểu chung; m: là số nguyên lớn hơn

hoặc bằng 0 (do người tham gia lựa chọn).

- Đăng ký lại phương thức đóng BHXH tự nguyện: Người tham gia

BHXH TN được đăng ký lại phương thức đóng hoặc mức thu nhập tháng làm

căn cứ đóng BHXH với tổ chức BHXH nhưng ít nhất là sau 6 tháng kể từ lần

đăng ký trước (Chính phủ, 2007).

1.1.4. Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội tự nguyện

Cũng theo tác giả Trần Quang Hùng (1993) BHXH tự nguyện có 7

nguyên tắc:

- Nguyên tắc 1. Mọi người lao động đều có quyền tham gia BHXH TN

khi chưa tham gia BHXH bắt buộc và quyền được hưởng BHXH khi phát

sinh các nhu cầu được BHXH

Quyền được bảo hiểm xã hội của người lao động là một trong những

biểu hiện cụ thể của quyền con người. Nhưng khi muốn xây dựng hệ thống

BHXH thì đầu tiên, Nhà nước phải tạo điều kiện và môi trường về KT-XH, về

chính sách và luật pháp, về tổ chức và cơ chế quản lí cần thiết. Biểu hiện cụ

thể quyền được BHXH của người lao động là việc họ được hưởng trợ cấp

BHXH khi có nhu cầu phát sinh, theo các chế độ xác định. Các chế độ này

gắn với các trường hợp người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động

hoặc mất việc làm do đó bị giảm hoặc mất nguồn sinh sống. Trong nền kinh



17

tế thị trường các trường hợp đó có thể có rất nhiều và xảy ra một cách ngẫu

nhiên. Về nguyên lí thì mọi trường hợp như thế, người lao động đều phải

được BHXH, nhưng giữa nguyên lí với thực tiễn ln ln có một khoảng

cách rất xa

- Ngun tắc 2. Bảo hiểm xã hội tự nguyện phải dựa trên sự đóng góp tự

nguyện của người tham gia bảo hiểm để hình thành nguồn quỹ BHXH TN.

Đây là ngun tắc có tính bản chất của BHXH trong nền kinh tế thị

trường. Để hình thành nguồn quỹ BHXH TN để chi trả trợ cấp bảo hiểm cần

phải có sự đóng góp của người tham gia BHXH. Những người tham gia

BHXH muốn được hưởng BHXH thì phải thực hiện trách nhiệm đóng góp tài

chính của mình cho Quỹ BHXH. Quỹ BHXH khơng phải là cái có sẵn, nên,

trước hết phải tìm cách tạo ra nó. Nếu khơng có sự đóng góp này thì chính

sách BHXH có hay đến mấy cũng khơng bao giờ có BHXH trong thực tiễn.

Vì vậy, thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính BHXH là điều kiện cơ bản

nhất để người lao động được hưởng quyền BHXH.

- Nguyên tắc 3. Nhà nước có trách nhiệm phải BHXH đối với người lao

động, người lao động cũng có trách nhiệm phải tự BHXH cho mình.

Đây là mối quan hệ trong nền kinh tế thị trường, trong đó, Nhà nước có

vai trò quản lý vĩ mô mọi hoạt động KT-XH trên phạm vi cả nước. Với vai trò

này, Nhà nước có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng thời

cũng có mọi cơng cụ cần thiết để thực hiện vai trò của mình.

Đối với người lao động, khi gặp phải những rủi ro không mong muốn và

không phải hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết đó là

rủi ro của bản thân. Vì thế, nếu muốn được BHXH tức là muốn nhiều người

khác hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều người khác thì tự

mình phải gánh chịu trực tiếp. Điều đó có nghĩa là bản thân người lao động

phải có trách nhiệm tham gia BHXH TN để tự bảo hiểm cho mình.



18

- Nguyên tắc 4. San sẻ rủi ro theo quy luật số lớn.

Nguyên tắc này dựa trên nguyên lý của BHXH là lấy số đông bù số ít.

Trong hoạt động BHXH, chỉ khi có đủ lớn số người tham gia thì khi đó

BHXH mới có ý nghĩa “đảm bảo”. Số lớn người tham gia BHXH sẽ tạo điều

kiện hình thành một nguồn quỹ đủ lớn với khoản đóng góp “đủ nhỏ” của mỗi

cá nhân. Mức đóng góp BHXH nhất là BHXH TN thường rất thấp nên phần

lớn những NLĐ trong nước đều có thể đóng góp dễ dàng. Nhưng điều quan

trọng là, sự đóng góp đó được thực hiện đều kỳ và là đóng góp của số đơng.

Nhờ số lớn người đóng góp mà khi một số trong tổng số người tham gia

BHXH TN phát sinh nhu cầu được BHXH TN (chẳng hạn như hưu trí tự

nguyện) thì quỹ BHXH TN có đủ khả năng chi trả các trợ cấp định kỳ, đảm

bảo cuộc sống cho người nghỉ hưu.

- Nguyên tắc 5. Kết hợp hài hoà các lợi ích, các khả năng và phương

thức đáp ứng nhu cầu bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Trong BHXH các bên tham gia đều có được những lợi ích. Nhưng lợi ích

nhận được khơng phải ln ln như nhau, thống nhất với nhau, mà trái lại có

lợi ích có lúc lại mâu thuẫn với nhau. Đối với người lao động, khi sử dụng thu

nhập của mình trước hết họ phải dành phần lớn chi cho các nhu cầu sinh sống

hàng ngày của bản thân và gia đình, phần còn lại mới có thể xem xét để đóng

phí bảo hiểm xã hội. Giả sử thu nhập của người lao động giữ ngun, nếu

đóng phí BHXH TN thấp thì lợi ích trước mắt của người lao động sẽ tăng lên

nhưng khi họ bị ốm đau, tai nạn, mất việc làm hay tuổi già thì đương nhiên

chỉ nhận được trợ cấp thấp. Nếu muốn được hưởng trợ cấp BHXH TN cao, lẽ

đương nhiên sẽ phải đóng phí BHXH TN cao hơn thì phần chi cho đời sống

hàng ngày lại phải giảm đi. Vì vậy, trong nghiên cứu xây dựng các thiết chế

hoặc trong điều hành BHXH TN cụ thể cần phải tìm ra những giải pháp để kết

hợp hài hồ lợi ích lâu dài của người lao động.



19

- Nguyên tắc 6. Bảo đảm tính thống nhất BHXH TN trên phạm vi cả nước,

đồng thời phải phát huy tính đa dạng, năng động của các bộ phận cấu thành.

Hệ thống BHXH của một nước thường gồm nhiều bộ phận cấu thành.

Trong đó, bộ phận lớn nhất do Nhà nước tổ chức và bảo hộ đặc biệt bao trùm

toàn bộ những người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và những NLĐ

thuộc khu vực kinh tế của đất nước (BHXH BB). Bên cạnh đó hệ thống/tiểu

hệ thống BHXH TN cũng do Nhà nước lập ra, nên phải được thực hiện thống

nhất trong cả nước.

- Nguyên tắc 7. Phát triển, mở rộng BHXH TN phải phù hợp với điều

kiện KT-XH trong từng giai đoạn phát triển và phù hợp với khả năng tham

gia của số đông người lao động.

Sự phát triển của BHXH TN biểu hiện trên nhiều mặt: Cơ cấu các bộ

phận của hệ thống, số lượng và cơ cấu các chế độ trợ cấp, mức trợ cấp, thời

hạn nghỉ việc để hưởng trợ cấp, mức đóng phí. Nếu khơng cân nhắc thận

trọng và lựa chọn bước đi hợp lý sẽ có thể phát sinh trục trặc khơng thể kiểm

sốt được.

1.2. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ

NGUYỆN

1.2.1. Phát triển

Phát triển là sự tăng trưởng gắn liền với sự hoàn thiện về cơ cấu và nâng

cao về chất lượng. Phát triển là sự tăng lên về quy mô, khối lượng của sự vật,

hiện tượng, nhưng đồng thời làm thay đổi về cấu trúc (thay đổi về chất) của

sự vật, hiện tượng đó. Phát triển là quá trình biến đổi của sự vật, hiện tượng.

Theo Nguyễn Đăng Hải (2011), thì phát triển chỉ sự trưởng thành, lớn

hơn về chất, về lượng. Nói cách khác, phát triển là tất cả các hoạt động tìm

kiếm nhằm tạo ra cái mới, có thể làm tăng về số lượng, làm cho tốt hơn về

chất lượng hoặc cả hai.



20

1.2.2. Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện

Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện thể hiện quá trình thay đổi (tăng

lên) về số lượng tham gia, chất lượng bảo hiểm ở giai đoạn này so với giai

đoạn trước đó, sự thay đổi về cơ cấu đối tượng tham gia…

Qua đó, có thể hiểu rằng, sự phát triển BHXH TN trước hết là sự gia

tăng về số lượng người tham gia bảo hiểm, cơ cấu đối tượng được mở rộng,

đối tượng tham gia bảo hiểm ở nhiều tầng lớp lao động, ngành nghề khác

nhau. Đồng thời là sự gia tăng chất lượng dịch vụ BHXH TN và cải thiện các

chính sách BHXH TN trên phạm vi từ điểm cho đến toàn quốc gia.

Với khái niệm phát triển nêu trên, có thể hiểu phát triển BHXH TN theo

cả hai chiều: chiều rộng và chiều sâu:

Theo chiều rộng, phát triển BHXH TN là việc mở rộng độ “bao phủ“,

nghĩa là mở rộng các loại đối tượng tham gia BHXH, có thể từ nhóm lao động

nơng nghiệp, nơng dân, đến lao động tiểu thủ cơng nghiệp, lao động tự do (còn

gọi là lao động độc lập). Phát triển theo chiều rộng bao gồm cả việc mở rộng

các chế độ BHXH, trước hết là chế độ hưu trí, tiếp đến, khi có điều kiện (cả

khả năng tổ chức của cơ quan BHXH và khả năng tham gia của NLĐ) có thể là

các chế độ khác, như chế độ TNLĐ-BNN, chế độ bảo hiểm thất nghiệp... Phát

triển theo chiều rộng thường gắn với phát triển về quy mô và cơ cấu.

Theo chiều sâu, phát triển BHXH TN là việc nâng dần các mức đóng

góp, tương ứng là nâng dần các mức thụ hưởng BHXH, theo sự phát triển

KT-XH của đất nước và chất lượng cuộc sống của dân cư. Trước mắt mức

đóng góp có thể dựa trên mức lương tối thiểu chung của xã hội, tiến dần lên là

mức lương trung bình của xã hội và tiếp theo có thể là dựa trên mức thu nhập

thực tế của người lao động (khi đã đủ lớn). Phát triển theo chiều sâu còn bao

gồm cả nâng cao chất lượng dịch vụ BHXH TN của các cơ quan BHXH các

cấp. Phát triển BHXH theo chiều sâu thường gắn với phát triển về chất lượng.



21

1.3. NỘI DUNG PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

(BHXHTN)

1.3.1. Phát triển về số lượng

Mở rộng và phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là một quá

trình từ ban hành và triển khai thực thi cơ chế chính sách về BHXH của nhà

nước, thực hiện các giải pháp tạo động lực thúc đẩy người dân tham gia

BHXH tự nguyện nhằm làm gia tăng số người, số nhóm đối tượng tham gia

BHXH tự nguyện thơng qua nhiều phương thức tham gia, đóng góp….

Như vậy phát triển về số lượng người tham gia BHXHTN được thực

hiện trên cơ sở tăng về số lượng, tỷ lệ đảm bảo người tham gia BHXHTN

trong từng nhóm đối tượng, đảm bảo đối với các nhóm tham gia BHXHTN

bắt buộc đạt 100% số người tham gia, đối với nhóm đối tượng hiện tại đang

tham gia BHXHTN tự nguyện cần tiếp tục phân nhóm để đưa dần vào nhóm

tham gia BHYT bắt buộc theo lộ trình đồng thời xã hội hóa BHXHTN.

Trên cơ sở phân tích nhu cầu (qua khảo sát thực tế) của các nhóm đối

tượng tham gia BHXH TN, có thể mở rộng nhóm đối tượng tham gia BHXH

TN đối với những người chưa từng tham gia BHXH và gia tăng số lượng

người thuộc các nhóm đã tham gia BHXH TN.

- Đối với nhóm người đã và đang tham gia BHXH TN như đã phân tích

ở trên, có thể lựa chọn những đối tượng có thu nhập tương đối ổn định và phát

triển trong một số năm. Ví dụ có thể mở rộng đối với nhóm người làm việc

trong khu vực tiểu thủ công nghiệp; lao động độc lập nhưng thu nhập khá ổn

định như người dân bn bán, thợ làm tóc…

- Đối với nhóm chưa tham gia BHXH TN cần tăng cường tuyên truyền,

đồng thời tổ chức khảo sát để mở rộng độ bao phủ của nhóm như mở rộng đối

với nơng dân, lao động trong các trang trại, các cơ sở sản xuất cá thể nhỏ lẻ.

Tiêu chí xác định:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×