Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ưu điểm, nhược điểm, nguyên nhân

Ưu điểm, nhược điểm, nguyên nhân

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề tốt nghiệp



hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà Đại hội VIII đã đề ra.

3.1.2. Cho vay kinh tế hộ góp phần vào sự nghiệp xố đói, giảm nghèo

Nhờ có vốn vay ưu đãi của NHNo&PTNT Hà Tĩnh, đã giúp cho 10850 hộ vượt

ngưỡng đói nghèo (theo chuẩn mực hộ nghèo tại quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 8

– 5 – 2005 của Thủ tường Chính phủ về về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho

giai đoạn 2006 – 2010 đã quy định hộ nghèo là hộ cò thu nhập từ 200 ngàn

đồng/người/tháng trở xuống đối với nông thôn và dưới 260 ngàn đồng/người/tháng

đối với thành thị). Một số điển hình tốt ở các địa phương có thể kể đến như sau:

+ Chị Hố ở xã Hương Đơ, Hương Khê, nhờ được vay vốn của NHNo&PTNT

120 triệu đồng, đã xây dựng trang trại diện tích 35 ha để trồng nhiều loại cây ăn quả

như: cam, bưởi, chanh, cây gió trầm…kết hợp với ni 40 tổ ong, thu nhập bình

quân hằng năm từ 50 đến 70 triệu đồng. Nhờ đó, chị khơng chỉ thốt nghèo, mà còn

có thu nhập khá, có điều kiện cho con đi học đại học, và hiện nay là một trong

những hộ giàu của xã Hương Đô.

+ Chị Thanh ở xã Sơn Lâm, huyện Hương Sơn đã vay số tiền 30 triệu đồng để

phát triển chăn ni bò, hiện nay thu nhập bình qn mỗi năm trên 20 triệu đồng.

+ Chị Tư ở xã Đức Hương, huyện Vũ Quang: Hằng năm đến mùa thu hoạch của

nông dân, chị vay Ngân hàng 50 triệu đồng để thu mua lạc, đỗ, ngô... của các hộ sản

xuất. Trước đây gia đình chị là hộ nghèo, nay thu lãi mỗi năm trên 15 triệu đồng, và

đã thoát nghèo.

+ Chị Hoa ở xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân vay Ngân hàng 45 triệu đồng đẻ

thu mua hải sản chế biến nước mắm, ruốc, cá khơ… Mỗi năm lãi ròng trên 12 triệu.

+ Anh Hồng ở xã Thạch Linh, Thành phố Hà Tĩnh vay vốn Ngân hàng 150 triệu

đồng để sản xuất đồ gỗ, giải quyết cho 7 lao động thường xun có việc làm, lãi

ròng mỗi năm trên 20 triệu đồng.

Mặt khác, thông qua chuyển tải vốn đến hộ nghèo NHNo&PTNT đã hình thành

mạng lưới, ban đại diện … qua đó thu hút vốn từ các tổ chức trong và ngoài nước

về cho hộ nghèo, làm cho nguồn vốn cho vay hộ nghèo càng thêm phong phú.

3.1.3. Cho vay hộ đã tạo nên mối gắn kết giữa NHNo&PTNT Hà Tĩnh với các tổ

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



46



Chuyên đề tốt nghiệp



chức Hội, giúp hoạt động của tổ chức Hội thêm phong phú và hữu ích

Để chuyển tải vốn đến hộ sản xuất kinh doanh nhanh nhất và thuận tiện nhất,

NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã mở rộng mạng lưới đến tận thôn, xã, phường, hình thành

các tổ vay vốn hoặc tổ liên gia, hình thành ban đại diện có cấp uỷ, chính quyền

phường, xã. Việc làm này đã tạo mối liên kết chặt chẽ giữa Ngân hàng với các đoàn

thể xã hội, với cấp uỷ và chính quyền các cấp, giữa hộ với các tổ liên gia.

Hội Nông dân thông qua tổ vay vốn đã làm cho hội có nội dung phong phú trong

hoạt động như cải tạo vườn tạp, cải tạo giống cây, giống con, kỹ thuật ni trồng…

từ đó, làm cho các hộ vay vốn trở thành những thành viên tích cực, gắn bó với Hội.

Hội Phụ nữ nhờ tổ vay vốn để hướng dẫn chị em làm kinh tế. Ngồi sinh hoạt

đều đặn để được vay vốn, Hội còn có thêm cơ hội để tuyên truyền thêm cho chị em

về các chính sách như: sinh đẻ có kế hoạch, ni dạy con tốt,xây dựng gia đình văn

hố…

Nhờ có mối liên kết này, các Đoàn thể xã hội đã trở nên gắn kết với nhau vì lợi

ích riêng và vì lợi ích cộng đồng. Các phong trào thi đua làm giàu, thi đua u nước,

phong trào xây dựng thơn xóm văn hoá, khu phố văn hoá dược phát triển,…

3.1.4. Do tác động cho vay hộ sản xuất đã buộc NHNo&PTNT Hà Tĩnh phải

nâng cao chiến lược cho vay hộ để mở rộng hoạt động, phục vụ và đáp ứng yêu cầu

phát triển của nền kinh tế.

Trước yêu cầu của phát triển kinh tế, các hộ đã liên kết với nhau trong sản xuất,

kinh doanh, tiêu thụ. Cho vay hộ đã mở ra hướng sản xuất tập trung như vùng sản

xuất cây công nghiệp, vùng sản xuất ngư nghiệp, vùng lương thực… Ngược lại, các

hộ, các vùng kinh doanh mở rộng đã thôi thúc NHNo&PTNT Hà Tĩnh cải tiến, mở

rộng, nâng cao chiến lược cho vay để thích ứng với điều kiện mới. Ngân hàng đã

phải mở rộng mạng lưới, cải tiến nghiệp vụ, nâng mức cho vay, nâng giá trị tài sản

thế chấp, bỏ bớt các thủ tục phiền hà, thay đổi phong cách phục vụ…

3.1.5. Cho vay hộ đã phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nơng

nghiệp và nơng thơn

Trong q trình phát triển nơng nghiệp theo hướng thị trường đã hình thành các

nhóm hộ khác nhau

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



47



Chuyên đề tốt nghiệp



- Nhóm hộ sản xuất, kinh doanh nơng nghiệp

Từ khi có “khốn 10”, kinh tế hộ nơng dân đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ,

được pháp luật cho phép thuê lao động, được vay vốn, được quyết định trồng cây gì,

ni con gì và quyết định bán sản phẩm đi đâu, cho ai… nhiều hộ đã thoát khỏi tình

trạng sản xuất tự cung tự cấp, độc canh cây lúa, chuyển sang đa dạng hoá hoạt động

sản xuất theo lợi thế vùng và nhu cầu thị trường.

Trong quá trình phát triển đã có một bộ phận tiên tiến đã đầu tư mở rộng sản

xuất kinh doanh theo hướng phát triển kinh tế trang trại, từ đó các nguồn lực như

đất đai, vốn và lao động… được sử dụng ngày càng có hiệu quả cao. Nhờ chính

sách giao các quyền sử dụng đất lâu dài đến hộ sản xuất, chủ trương khuyến khích

phát triển kinh tế trang trại với nghị quyết 03/2000 của Chính phủ về “kinh tế trang

trại” và chính sách cho vay vốn, nên những năm gần đây, số lượng trang trại quy mơ

vừa và nhỏ trong tồn Tỉnh đã tăng lên rõ rệt.

Trong số các hộ nông dân SXKD giỏi, có 23% hộ nơng dân có thu nhập cao từ

kinh tế VAC và sản xuất nông nghiệp thuần t. Lợi nhuận từ mơ hình này tuy

khơng lớn song nó có ý nghĩa nhiều đối với các hộ nơng dân làm nơng nghiệp, đó là

họ biết kết hợp hài hố giữa các nhân tố như: Có hệ số sử dụng ruộng đất cao, mức

độ đầu tư thâm canh hợp lý, biết sử dụng đồng vốn hiệu quả, giống cây, giống con

có năng suất cao, áp dụng đung quy trình kỹ thuật. Tiêu biểu như mơ hình cánh

đồng cho thu nhập 50 triệu đồng/ha/năm ở chi hội nông dân xóm Trung Phú, xã

Thạch Trung, mơ hình kinh tế VAC của ông Mại - Thạch Hạ, ông Minh ởThạch

Quý cho thu nhập 15 – 25 triệu đồng một năm.

- Nhóm hộ sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp:

Trong lĩnh vực phi nông nghiệp, nhiều hộ kinh doanh cá thể ở các làng nghề

truyền thống và làng nghề mới đã thực sự vươn lên sau một thời gian khó khăn do

khơng chuyển hướng kịp với những thay đổi lớn của thị trường. Đa số các hộ này

nhận gia công cho các cơ sở sản xuất lớn, một số tự tổ chức sản xuất kinh doanh

độc lập, tự bỏ vốn đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị, tự tìm kiếm thị

trường, khách hàng và trực tiếp tiêu thụ sản phẩm:

+ 65% số hộ nông dân SXKD giỏi theo mơ hình phát triển ngành nghề tiểu thủ

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



48



Chuyên đề tốt nghiệp



công nghiệp - Dịch vụ. Những mơ hình này cho tu nhập lớn và có số hộ triển khai

nhiều nhất. Tiêu biểu như hộ anh Thanh, anh Chân ở Thạch Đồng, hộ anh Kỳ ở

Thạch Hạ, hộ anh Lâm ở Hà Huy Tập, hộ chị Thảo ở Thạch Bình…

+ 12% số hộ nơng dân SXKD giỏi biết kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và

nuôi trồng thuỷ sản. Đây là những hộ nông dân thế chấp nguồn vốn lớn của Ngân

hàng để phục vụ sản xuất. Những hộ sản xuất này ngoài sự cố gắng nỗ lực vươn lên

mạnh mẽ của mỗi cá nhân trong gia đình, họ còn được hỗ trợ đắc lực từ tổ chức Hội

và chính quyề cơ sở. Điển hình về mảng kinh tế này có ơng Thảo - Thạch Hạ, anh

Hồng - Thạch Trung…

3.1.6. Tiềm lực kinh tế và khả năng sản xuất của kinh tế hộ không ngừng được

nâng cao

- Kinh tế hộ đã góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông – lâm –

ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường, từng bước hình thành

và phát triển các vùng sản xuất hàng hố lớn tâp trung có hiệu quả

- Kinh tế hộ nơng dân đã góp phần tích cực và quan trọng trong chuyển dịch cơ

cấu nơng thơn, giảm dần tình trạng thuần nông, tăng ngành nghề thương mại, dich

vụ, khôi phục và phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền

thống.

- Phát triển kinh tế hộ đã nâng cao đời sống và thu nhập của các hộ gia đình,

nhờ sự đa dạng về các nguồn thu từ việc mở rộng và phát triển sản xuất, kinh

doanh.

- Kinh tế hộ với sự đầu tư của Nhà nước và sự tích luỹ của hộ để mở rộng sản

xuất, áp dụng công nghệ… được tăng cường, tạo tiền đề quan trọng cho việc liên

kết, hợp tác sản xuất kinh doanh ngày một có hiệu quả.

3.2. Nhược điểm

3.2.1. Định kỳ trả nợ vẫn còn cứng nhắc

Định kỳ trả nợ đối với hộ sản xuất được NHNo&PTNT Hà Tĩnh quy định như sau:

- Thu nợ gốc:

* Với món vay ngắn hạn (thời hạn dưới 12 tháng): Thu nợ gốc một lần khi đến hạn.



Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



49



Chuyên đề tốt nghiệp



* Với món vay trung hạn (thời hạn từ 12 đến 60 tháng): Phân kỳ trả nợ nhiều

lần: 6 tháng hoặc 1 năm một lần do bên cho vay và hộ vay thoả thuận.

- Thu lãi: Theo định kỳ hằng tháng hoặc hằng quý.

Mỗi hộ sản xuất thường có số ruộng đất hay đối tượng sản xuất theo mùa vụ, vụ

này kế vụ khác, chi phí có thể chồng lên nhau giữa vụ trước và vụ sau. Lâu nay,

Ngân hàng vẫn thu nợ theo vụ, Để đối phó lại, người sản xuất “tạm trả” một thời

gian ngắn sau đó lại làm thủ tục vay vụ sau. Nhưng chính thời gian vay để “tạm trả”

này lại là thời gian người dân phải đi vay nặng lãi…

3.2.2. Vốn tín dụng còn mang tính dàn trải đều trên diện rộng

Mơ hình kinh tế trang trại trên địa bàn phát triển chậm, chưa có cấp nào, ngành

nào đứng ra cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại cho các hộ dân. Do đó, Ngân

hàng khơng thể mở rộng cho vay đối với các trang trại, mặc dù tiềm năng, lợi thế

phát triển trang trại là khơng nhỏ trên địa bàn Hà Tĩnh.

Mơ hình sản xuất kinh doanh giỏi ngày càng tăng. Tuy nhiên, trong điều kiện

“thiên thời, địa lợi” như hiện nay thì sự phát triển đó còn ở mức độ thấp, chưa đồng

đều ở các địa phương… Ngân hàng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vốn đủ và hợp

lý cho các hộ sản xuất này.

3.2.3. Công tác thu hồi nợ chưa đạt hiệu quả cao. Rủi ro trong vốn tín dụng cho

vay hộ sản xuất vẫn ln tiềm ẩn

Chỉ tính riêng cho vay hộ nhằm phát triển một số chương trình kinh tế tại địa

phương, từ năm 2005 – 2008, số nợ quá hạn đã lên tới 25.268 triệu đồng, trong đó

gần 35% là nợ xấu, nợ khó đòi.

Cơng tác thu hồi nợ thông qua Tổ vay vốn và các tổ chức Hội vẫn còn nhiều vấn

đề. Một số cán bộ tổ vay vốn, cán bộ Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… đã lợi dụng sự tín

nhiệm của Ngân hàng để thu nợ bất chính như: Năm 2005, ơng Trần Hữu Duy - tổ

trưởng tổ vay vốn thôn Trung Thành, xã Cẩm Nam, huyện Cẩm Xuyên thu nợ, thu lãi

và vay ké số tiền là 90,6 triệu đồng rồi bỏ đi khỏi địa phương, đến 31 – 12 – 2007,

Ngân hàng mới thu hồi được 55,6 triệu đồng, còn 35 triệu đồng chưa thu hồi được. Hay

năm 2006, bà Phạm Thị Vinh, hội phó Hội Phụ nữ xã Cẩm Thăng, huyện Cẩm Xuyên

đã thu nợ, thu lãi không nộp và vay ké số tiền là 282,6 triệu đồng nhưng đến cuối năm

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



50



Chuyên đề tốt nghiệp



2007 NHNo&PTNT huyện Cẩm Xuyên mới thu hồi được 26,6 triệu đồng…

3.2.4. Công tác kiện tồn tổ trưởng tổ vay vốn vẫn còn nhiều vấn đề

Cơng tác kiện tồn các tổ trưởng tổ vay vốn ở một số xã, phường chưa đúng

theo văn bản ký kết - tổ trưởng vay vốn không phải là cán bộ Hội nên gặp nhiều khó

khăn trong bồi dưỡng nghiệp vụ, cập nhật thông tin, giao ban hội ý, chia sẻ kinh

nghiệm… đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc tham mưu, tiếp thu chủ trương của cấp

trên cũng như triển khai thực hiện nhiệm vụ ở cơ sở.

Qua kiểm tra, lại có một số tổ trưởng vay vốn gặp khó khăn trong cơng tác quản

lý, giám sát hiệu quả khi các hộ kinh doanh vay vốn không thông qua tổ vay vốn.

3.3. Nguyên nhân của các nhược điểm

3.3.1.Công tác cán bộ còn nhiều bất cập

- Trình độ của cán bộ tín dụng còn nhiều hạn chế. Cán bộ tín dụng cho vay hộ

sản xuất kinh doanh mới chỉ biết cho vay thu nợ đơn thuần, chưa có đủ trình độ để

tham gia các chương trình, dự án quy mơ vừa và lớn trong sản xuất, chế biến, kinh

doanh, đặc biệt là trong các lĩnh vực đòi hỏi kỹ thuật cao.

Cán bộ Ngân hàng phần lớn được đào tạo trong thời bao cấp, chưa được đào tạo

lại, chưa quen với tư duy kinh tế mới, thiếu năng động, chưa chịu khó nghiên cứu,

nâng cao nhận thức để phù hợp với u cầu mới; chấp hành các quy trình nghiệp vụ

tín dụng chưa nghiêm túc. Một số cán bộ tín dụng chưa tính tốn hiệu quả đầu tư

khi cho vay, cho vay thiếu đồng bộ, phân tán, chưa quan tâm đúng mức việc kiểm

tra trước, trong và sau khi cho vay dẫn đến sử dụng vốn khơng có hiệu quả, khơng

có nguồn thu để trả nợ, nợ quá hạn tăng nhanh…

- Số lượng cán bộ tín dụng chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Nếu như người

dân vay được một món nợ của Ngân hàng mất rất nhiều thời gian thì cường độ lao

động của Ngân hàng lại quá cao. Hai trạng thái trái ngược đó có chung một nguyên

nhân là khách hàng quá đông, trong khi đội ngũ cán bộ tín dụng lại quá ít. Tỷ lệ cán

bộ tín dụng Ngân hàng còn thấp, chiếm 40% tổng số cán bộ Ngân hàng.

Các Ngân hàng khác cho vay một khoản thường là hàng trăm, có khi hàng tỷ

đồng thì NHNo&PTNT lại thường cho vay những khoản nhỏ dưới mười triệu đồng,

có khi chỉ vài ba triệu đồng. Thời gian bỏ ra nhiều mà hiệu quả sinh lời một món

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



51



Chuyên đề tốt nghiệp



vay không đáng bao nhiêu. Hiện mỗi Ngân hàng cấp III phụ trách 8 – 9 xã, bán kính

hoạt động trên dưới 10 km với 9 – 10 nhân viên, bao gồm cả tín dụng, kế toán ngân

quỹ và người phu trách với trên dưới 4000 hộ vay, nhân viên Ngân hàng phải làm

việc hết năng suất mới có thể đáp ứng được, vì vậy việc khách hàng phải chờ đợi là

điều khó tránh khỏi.

3.3.2. Thủ tục vay vốn còn rườm rà và cứng nhắc

Hiện nay, những thủ tục vay vốn và lập hồ sơ đa số đều theo quy định chung của

Ngân hàng Trung ương, đơi lúc khơng phù hợp với tình hình cụ thể của địa phương

và không đáp ứng được sự thay đổi nhanh chóng của thời cuộc.

Các loại cho vay đảm bảo chắc chắn thu hồi vốn như thế chấp bằng giấy tờ có

giá, trích thu nhập hàng tháng (lương, phụ cấp) vẫn còn nhiều rắc rối.

Các món vay, thậm chí là món vay nhỏ, cũng đều phải qua Giám đốc duyệt, đôi

lúc là không cần thiết.

Để được vay vốn, các hộ phải lập hồ sơ gồm những loại giấy tờ sau:

- Đối với hộ vay vốn dưới 10 triệu: Không cần tài sản thế chấp hoặc cầm cố,

nhưng phải có các giấy tờ sau:

* Phải được bảo lãnh của các tổ chức xã hội tại nơi cư trú như: Hội Nơng dân,

Hội Phụ nữ…

* Phải có văn bản cam kết mục đích sử dụng vốn đề ra được phương án sản

xuất, kinh doanh.

* Phải có đơn đề nghi vay vốn

* Có hợp đồng vay vốn: Có xác nhận của chính quyền địa phương.

- Đối với hộ vay trên 10 triệu:

* Phải có tài sản thế chấp, cầm cố

* Có dự án khả thi.

* Có đơn vay vốn.

* Có hợp đồng vay vốn.

* Có bản thế chấp tài sản và uỷ quyền cho Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp nếu không

thực hiện đúng hợp đồng cam kết như: không trả được nợ và lãi, nợ quá hạn, nợ xấu…

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



52



Chuyên đề tốt nghiệp



* Phải có chứng nhận của địa phương, của phòng tài ngun môi trường huyện,

thị, thành phố chứng nhận tài sản thế chấp là hợp lệ.

* Sau khi có đủ thủ tục phải có báo cáo thẩm định của cán bộ tín dụng về tài sản

thế chấp, trình Ban giám đốc ký, duyệt rồi mới đưcợ vay.

Và thông thường, tất cả thủ tục này, người dân phải tự đi làm. Với khách hàng

vay hộ đa số là hộ nơng dân, trình độ và khả năng hiểu biết về pháp luật và các lĩnh

vực liên quan còn nhiều hạn chế, họ có nhiều bỡ ngỡ, lại phải đi lại nhiều nơi, nên

gặp rất nhiều khó khăn trong việc làm các thủ tục giấy tờ. Và để được vay một

khoản, thường người dân cũng phải mất từ 5 đến 7 ngày để hoàn thành các thủ tục

này, điều này nhiều khi làm lỡ mất cơ hội sản xuất kinh doanh của người dân, làm

mất tính hiệu quả của đồng vốn.

Mặt khác, thực tế hiện nay xu thế sản xuất kinh doanh của bà con nông dân ngày

càng phát triển mạnh, với quy mô ngày một mở rộng. Vì vậy, việc cho vay với số

vốn 10 triệu đồng mới không phải thế chấp như hiện nay là không phù hợp.

3.3.3. Sự phối kết hợp giữa NHNo&PTNT Hà Tĩnh với các cấp chính quyền địa

phương chưa thật chặt chẽ

Hiện nay, vẫn chưa có hợp đồng ràng buộc giữa Ngân hàng với chính quyền địa

phương và các tổ chức đứng ra vay vốn. Vẫn chưa có các hình thức để thúc đẩy

chính quyền địa phương vào cuộc trong công tác huy động cũng như thu hồi vốn.

3.3.4. Cơng tác thẩm định dự án cho vay chưa tốt

Có lúc, có nơi còn có tình trạng nể nang, khơng kiên quyết. Nhiều dự án khơng

khả thi, nhưng có “quen biết” với cán bộ tín dụng nên vẫn được phê duyệt cho vay.

Đến khi được vay lại không phát huy được hiệu quả, khơng thu hồi được vốn…

Quy trình thẩm định vẫn còn nhiều vấn đề khúc mắc ảnh hưởng không nhỏ đến

tiến độ cho vay, đến việc sản xuất kinh doanh của các hộ.

Hiện nay, theo quy định chung, để cho vay, Ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định

các vấn đề sau: thẩm định tư cách pháp nhân, thẩm định năng lực quản lý, thẩm

định tình hình tài chính, thẩm định phương án vay vốn, và thẩm định uy tín khách

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



53



Chuyên đề tốt nghiệp



hàng. Tuy nhiên, với công tác cho vay hộ, đối tượng vay chủ yếu là người nông dân

hoặc các hộ kinh doanh nhỏ lẻ, nếu thực hiện theo quy trình chung sẽ gặp rất nhiều

vấn đề; đặc biệt, để đạt được những tiêu chuẩn vay vốn, sẽ là một khó khăn lớn với

người đi vay.



Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



54



Chuyên đề tốt nghiệp



CHƯƠNG III

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA NHNo&PTNT HÀ TĨNH

VỀ VIỆC CHO VAY HỘ SẢN XUẤT

1. Định hướng của NHNo&PTNT Hà Tĩnh về việc cho vay hộ sản xuất

* Mục tiêu chung: Năm 2009 được xác định là năm mà hoạt động kinh doanh

của NHNo&PTNT Hà Tĩnh sẽ gặp nhiều khó khăn, thách thức do tình hình kinh tế

diễn biến khó lường. Để góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của

địa phương và hoàn thành chỉ tiêu kinh doanh của mình, NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã

đặt ra mục tiêu:

- Nguồn vốn nội tệ huy động trên địa bàn: Tăng 30% so với năm 2008, đạt trên

4000 tỷ đồng.

- Nguồn vốn ngoại tệ huy động: Tăng tối thiểu 10%, đạt trên 20 triệu USD &

EURO.

- Dư nợ: Tăng 25%, đạt 3850 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay hộ chiếm 85%,

tức 3272,5 tỷ đồng.

- Thu dịch vụ: Tăng 50%.

- Nợ quá hạn: dưới 3%. Nợ xấu dưới 2%.

- Hệ số tiền lương: tối thiểu 1,1.

- Cơng đồn đạt vững mạnh xuất sắc; các Đảng bộ, chi bộ đạt vững mạnh tiêu

biểu; 100% đơn vị đạt đơn vị văn hoá, tự vệ quyết thắng và an ninh vững mạnh.

Để góp phần vào mục tiêu chung đó, Ngân hàng đã xác định định hướng của

công tác cho vay hộ như sau:

- Khẳng định vai trò, vị trí của kinh tế hộ

Kinh tế hộ nông dân vẫn là bộ phận chủ yếu của sản xuất nông nghiệp, mà lực

lượng chủ yếu là “hộ sản xuất hàng hố”, khơng ngừng mở rộng quy mô sản xuất,

nâng cao chất lượng hoạt động, tiến tới sản xuất hàng hóa lớn. Do vậy, cần tiếp tục

đầu tư cho phát triển kinh tế hộ nói chung, đặc biệt là đối với kinh tế trang trại, tạo



Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



55



Chuyên đề tốt nghiệp



bước chuyển biến mới trong nông nghiệp và kinh tế nơng thơn, vừa thúc đẩy q

trình cơng nghiệp hố, hiện đại hoá, vừa chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế. Ngoài ra

cần tiếp tục khai thác thêm thị trường cho vay đi lao động hợp tác ở nước ngoài, cho

vay phục vụ nhu cầu đời sống; lựa chọn các dự án sản xuất hàng hố có hiệu quả để

tập trung đầu tư có trọng điểm, tiếp cận và đầu tư các dự án mới vùng kinh tế Vũng

Áng, Thạch Khê.

- Đầu tư phát triển chiều sâu, trước hết và cơ bản nhất là vốn

Chính sách trong thời gian tới cần tạo điều kiện về tín dụng, “vốn” cho kinh tế

hộ phát triển, thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tiếp tục tạo môi trường thuận

lợi cho quá trình tích tụ các yếu tố sản xuất, phát triển nhanh các trang trại gia đình

sản xuất hàng hố lớn. NHNo&PTNT Hà Tĩnh cần phải cung cấp, hỗ trợ tín dụng

cho nơng dân đầu tư phát triển sản xuất, xố đói giảm nghèo, phát triển sản xuất

hàng hố lơn theo hướng cơng nghiệp hố, hiên đại hố.

Hướng đầu tư chủ yếu là tăng đầu tư nhu cầu vốn trung hạn và dài hạn bằng các

nguồn vốn huy động tại địa phương và tranh thủ mọi nguồn vốn dự án Uỷ thác đầu

tư để cho vay.

- Thực hiện q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố, ứng dụng cơng nghệ mới

vào sản xuất

Thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và nâng cao hàm lượng công nghệ trong

sản phẩm. Để là được điều đó khơng chỉ phụ thuộc vào vốn, mà còn phụ thuộc lớn

vào sợ nỗ lực, bản lĩnh và tinh thần sáng tạo của các hộ nơng dân. Vì thế, Ngân

hàng không chỉ là người cho các hộ vay vốn, mà còn phải là người bạn đồng hành,

giúp đỡ các hộ nâng trong việc cao kiến thức về nông nghiệp, biết ứng dụng tiến bộ

kỹ thuật để nâng cao năng suất.

- Tăng cường sự hợp tác, liên kết, liên doanh của các hộ gia đình

Tuy hiện nay đã có sự liên kết, hợp tác liên doanh của hộ và chủ trang trại với

các thành phần kinh tế khác trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ… nhưng tỷ lệ còn

khá thấp, và tuỳ thuộc khá lớn vào trình độ, năng lực của chủ hộ… Và phần lớn sự

hợp tác này còn giản đơn, phổ biến trong một số khâu như: Thuỷ nông, bảo vệ thực

vật, giống cây trồng…

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



56



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ưu điểm, nhược điểm, nguyên nhân

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×