Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết quả cho vay trực tiếp tới hộ sản xuất của NHNo&PTNT Hà Tĩnh

Kết quả cho vay trực tiếp tới hộ sản xuất của NHNo&PTNT Hà Tĩnh

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề tốt nghiệp



1998 là 82 ngàn hộ, với dư nợ 228 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 70% trong tổng dư nợ.

Cho vay hộ sản xuất đã đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn để sản xuất, kinh

doanh và đầu tư mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp. Việc khôi phục và phát

triển các ngành nghề truyền thống cũng được chú trọng, nhất là các ngành nghề

như: mộc Thái Yên (Đức Thọ). rèn Trung Lương (Hồng Lĩnh), sản xuất gạch ngói

và vật liệu xây dựng…

Để có nguồn vốn đầu tư cho kinh tế hộ, NHNo Hà Tĩnh đã tích cực tìm mọi giải

pháp để huy động vốn trên địa bàn, ngồi ra còn khai thác tối đa các nguồn tài trợ

uỷ thác đầu tư.

Hiệu quả đồng vốn tín dụng Ngân hàng thể hiện trên các mặt kinh tế - xã hội:

- Vốn NHNo&PTNT đã khắc phục dần tình trạng vay nặng lãi, bán lúa non ở

nơng dân, tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, góp phần xố đói, giảm

nghèo.

- Thơng qua sinh hoạt của các tổ vay vốn đã củng cố khối đoàn kết giúp đỡ nhau

trong cộng đồng, gắn bó hơn tình làng, nghĩa xóm, ổn định tình hình trật tự, trị an

trong thơn xóm, góp phần xây dựng nơng thơn mới.

- Khai thác tối đa tiềm năng đất đai và lao động trên địa bàn. Chuyển dịch cơ

cấu cây trồng, vât nuôi. Từ sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa chuyển sang

các cây có giá trị kinh tế cao như: lạc, đậu, mía, chè, cam, bưởi… hình thành nên

những vùng trồng cây ăn quả tập trung như: cam bù Hương Sơn, Bưởi Phúc Trạch

Hương Khê…

- Cho vay hộ sản xuất đã đầu tư đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào nơng

nghiệp như: chương trình lai sin hố đàn bò, nạc hố đàn lợn… Sản phẩm nơng

nghiệp khơng chỉ tiêu thụ ở thị trường trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngồi

và được khách hàng quốc tế ưa thích. Kinh tế trên địa bàn tăng trưởng nhanh, thu

nhập của người dân ngày càng được nâng cao, đời sống được cải thiện từng bước.

- Người dân đã quen với sản xuất hàng hố, biết tính tốn hiệu quả kinh tế, có ý

thức tiết kiệm chi tiêu, tích luỹ cho mở rộng đầu tư sản xuất, làm giàu cho gia đình

và góp phần làm giàu cho xã hội.

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



28



Chuyên đề tốt nghiệp



1.2. Giai đoạn 1999 – 2004

Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, nhu cầu về vốn cho các chương trình

như cải tạo vườn tạp; trồng cây lâu năm, cây ăn quả, cây lấy gỗ; cho vay mua các

máy móc, thiết bị, phương tiện sản xuất như: máy cày, máy bừa, máy tuốt lúa, công

nông… tăng cao nên tỷ trọng dư nợ trung hạn giai đoạn này lớn hơn nợ ngắn hạn.

Quyết định 67/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ “Về một số chính sách

tín dung Ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn” ra đời tạo điều kiện

thuận lợi cho cả khách hàng và Ngân hàng trong việc đi vay và cho vay hộ sản xuất.

Để thực hiện hiệu quả QĐ, NHNo Việt Nam đã cùng Trung ương Hội Nông dân,

Hội Liên hiệp phụ nữ ký kết các thông tư liên tịch số 2308, 02 cùng phối hợp để tạo

mạng lưới chuyển tải vốn đến thị trường Nông nghiệp, nông thôn, từng bước xã hội

hố cơng tác Ngân hàng. Riêng trong năm 2000 đã thành lập, củng cố hơn 7000 tổ

vay vốn thông qua các tổ chức Hội Phụ nữ, Hội Nông dân.

Từ năm 1999 đến năm 2004 đã xho vay 583.98 lượt hộ vay với doanh số cho vay

4.542 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 70% doanh sô cho vay của chi nhánh. Doanh số thu nợ

3.529 tỷ đồng, trong đó cho vay qua tổ 2.060 tỷ đồng với hơn 250 ngàn lượt hộ.

Bảng 8: Kết quả cho vay môt số ngành nghề sản xuất

của NHNo&PTNT Hà Tĩnh giai đoan 1999 – 2004

Loại hình sản xuất

Nông, lâm, ngư, diêm nghiệp

Thủ công nghiệp

Thuỷ hải sản

Thương mại, dịch vụ

Cho vay đời sống

Ngành nghề khác



Số lượt hộ

Doanh số cho vay (tỷ đồng)

355.264

2.967

25.406

568

21.365

581

49.851

823

39.368

962

92.244

1.359



Vốn của Ngân hàng đã góp phần cải tạo được hàng ngàn ha vườn tạp để trồng

cây ăn quả, cây lấy gỗ (Kỳ Anh, Hương Sơn, Hương Khê, Đức Thọ), cải tạo và xây

dựng mới 7.500 ha ao hồ đầm để nuôi trồng thuỷ sản xuất khẩu (Kỳ Anh, Nghi

Xuân, Thạch Hà, Cẩm Xuyên), hình thành nên những vùng sản xuất tập trung, phát

triển mạnh kinh tế hàng hoá trên địa bàn tỉnh.



Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



29



Chun đề tốt nghiệp



Ngồi ra, NHNo Hà Tĩnh còn tiến hành khảo sát, phân loại 1.200 trang trại, thiết

lập quan hệ tín dụng với các trang trại nhằm khai khai thác tốt hơn tiềm năng kinh

tế vườn; rừng.

Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, nhu cầu vay vốn để đầu tư ứng dụng các

tiến bộ công nghệ vào sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng. Mức vay vốn tăng dần

lên theo từng thời kỳ, phù hợp với nhu cầu về đầu tư sản xuất. Từ bình quân 0,4

triệu/lượt hộ năm 1991 tăng lên 4 triệu/lượt hộ năm 1995, năm 2000 bình quân 5

triệu/lượt hộ và năm 2004 lên tới 9 triệu/lượt hộ vay. Cho vay sản xuất nông nghiệp

chủ yếu chủ yếu tập trung: cải tạo vườn tạp, trồng các loại cây cơng nghiệp có giá

trị cao …Cho vay ngành thuỷ hải sản chủ yếu tập trung xây dựng , cải tạo các ao

đầm nuôi thuỷ sản xuất khẩu. Chỉ tính riêng năm 2003, nhằm đổi mới cơng nghệ, kỹ

thuật đối với đối với sản xuất nông nghiệp, NHNo Hà Tĩnh đã cho vay 308 dự án

trung hạn; trong đó có 35 dự án đánh bắt, 41 dự án nuôi trồng thuỷ sản, 93 dự án

nuôi hươu, 78 dự án ni trâu bò, 61 dự án khơi phục và phát triển làng nghề, cho

27 ngàn hộ vay nhập giống ngô lai mới năng suất cao…

Cùng với việc mở rộng cho vay hộ cả quy mô và chiều sâu NHNo Hà Tĩnh đã

mở rộng cho vay nhu cầu đời sống đối với cá nhân, hộ gia đình, cho vay hợp tác lao

động nước ngoài, nhất là các thị trường như: Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan… Tính

đến cuối năm 2004, dư nợ cho vay đời sống lên tới 263 tỷ đồng với 18.935 khách

hàng vay; dư nợ cho vay đi xuất khẩu lao động 36 tỷ, số khách hàng vay gồm 2.585

hộ.

Bên cạnh cho hộ sản xuất vay kinh doanh, tiêu dùng… NHNo đã thực hiện cho vay

xố đói giảm nghèo có hiệu quả. Tính đến cuối năm 2002 đã cho vay 266 tỷ đồng xố

đói giảm nghèo với hơn 145 ngàn lượt hộ, góp phần giảm tỷ lệ hộ đói nghèo.

Cho vay hộ sản xuất kinh doanh đã thực sự góp phần đổi mới nhiều mặt đời

sống kinh tế xã hội trong toàn tỉnh:

- Sản lượng lương thực tăng nhanh. Bộ mặt nông thôn khang trang hơn, đời sống

vật chất tinh thần của người dân được nâng cao.

- Cải tạo, trồng mới được trên 3.000 ha cây ăn quả: Bưởi Phúc Trạch (Hương

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



30



Chuyên đề tốt nghiệp



Khê), cam bù (Hương Sơn)…

- Phát triển mạnh chăn ni đàn hươu, trâu, bò, lợn. dê…

- Từng bước khơi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống; ngoài ra còn

phát triển thêm các ngành nghề mới, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến sản phẩm

nông nghiệp.

- Thương mại dịch vụ phát triển, đặc biệt là du lịch biển tại các khu du lịch:

Thiên Cầm, Thạch Hải, Xuân Thành…

1.3. Giai đoạn 2005 – 2008

Sau 15 năm thực hiện cho vay hộ sản xuất, NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã rút ra

được nhiều bài học kinh nghiệm thiết thực. Vì vậy, cơng tác cho vay hộ giai đoạn

này đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận:

- NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã xác định đúng chiến lược kinh doanh, chiến lược

khách hàng, xây dựng chiến lược thị phần và thị trường thích hợp, với phương

châm: lấy nông nghiệp, nông thôn làm thị trường chủ yếu với khách hàng tiềm

năng, khách hàng chính là hộ sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở khai thác các thế

mạnh về mạng lưới hoạt động, Ngân hàng đã bố trí cơ cấu đầu tư hợp lý, đáp ứng

kịp thời nhu cầu vay vốn của các hộ sản xuất kinh doanh.

- Ngân hàng thường xuyên bám sát các chương trình kinh tế địa phương như:

chương trình chăn ni bò, chương trình ni trồng thuỷ sản, chương trình phát triển

doanh nghiệp, chương trình xuất khẩu lao động… để tập trung ưu tiên nguồn vốn cho

vay thuận lợi, kịp thời, giúp các hộ thực hiện mục tiêu sản xuất, kinh doanh hiệu quả.

- Thường xuyên cải tiến biện pháp tổ chức cho vay, cải tiến thủ tục bộ hồ sơ cho

vay đúng quy chế, đồng thời tạo thuận lợi cho các hộ vay vốn được tiếp cận nguồn

vốn tín dụng một cách kịp thời nhất.

- Tiếp tục phối hợp với Hội Nông dân và Hội Phu nữ để củng cố mạng lưới tổ

vay vốn, nâng cao chất lượng hoạt động tổ, lồng ghép ngày càng nhiều chương trình

hoạt động của các tổ chức Hội với hoạt động của Ngân hàng, góp phần thực hiện xã

hội hoá nhanh hoạt động Ngân hàng.

- Đặc biệt, thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính Phủ, NHNN và

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



31



Chuyên đề tốt nghiệp



NHNo&PTNT Việt Nam, NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã tiến hành hỗ trợ lãi suất đối

với các hộ vay vốn. Kết quả cụ thể tính đến ngày 30 tháng 2 năm 2009 như sau:

+Tổng số hộ được hỗ trợ lãi suất: 1840 hộ.

+ Doanh số cho vay hộ được hỗ trợ lãi suất: 1978.840,8 triệu đồng.

+ Dư nợ cho vay hộ được hỗ trợ lãi suất: 1978.840,8 triệu đồng.

+ Lãi suất được hỗ trợ: Chưa phát sinh.

+ Tổng số bộ hồ sơ đề nghị hỗ trợ lãi suất đã nhận trong tháng: 1840 bộ.

+ Số hồ sơ đã được hỗ trợ lãi suất: Chưa phát sinh.

+ Số bộ hồ sơ đã được thẩm định nhưng khơng giải quyết: Khơng.

Chính sách hỗ trợ lãi suất là một chính sách rât thiết thực, nhằm giúp các hộ ổn

định và mở rộng hoạt động SXKD trong đièu kiện nền kinh tế còn gặp nhiều khó

khăn. Nhưng qua kết quả trong một tháng đầu thực hiện, đã bộc lộ một số khó khăn,

vướng mắc như: Khách hàng đúng đối tượng được hỗ trợ lãi suất nhưng khơng tập

hợp được đủ bộ chứng từ hóa đơn tài chính, hàng hố mua bán trên thị trường thực

tế phát sinh nhưng khơng có đủ chứng từ xuất nhập hàng hố; Khách hàng chủ yếu

là hộ nơng dân vay món nhỏ, trong một món vay tồn tại cả đối tượng được hỗ trợ và

không được hỗ trợ nên khó bóc tách; Nhiều khách hàng khơng nhận thức được cơ

chế chính sách; Khối lượng cơng việc tăng lên rất nhiều, chi phí lớn…



Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



32



Chuyên đề tốt nghiệp



Bảng 9: Tình hình dư nợ hộ SXKD qua các năm 2005-2008

Chỉ tiêu

Năm

2005

2006

2007

2008



Dư nợ hộ SXKD Tổng dư nợ

(tỷ đồng)

1241

1479

2174

2613



(2) (tỷ đồng)

1476

1790

2631

3074



Tỷ trọng (3)(%)

(3)=(1)*100/(2)

84,08

82,63

82,63

85,00



Qua bảng 9 và biểu đồ 1 ta nhận thấy: Dư nợ hộ tăng đều qua các năm, năm

2006 tăng so với năm 2005 là:1479 – 1241 = 238 tỷ đồng, tương ứng 19,18%; năm

2007 tăng so với năm 2006 là: 2174 - 1479 = 695 tỷ đồng, tương ứng 46,99%; năm

2008 tăng so với năm 2007 là: 2613 - 2174 = 439 tỷ đồng, tương ứng 20,19 %. Và

dư nợ hộ đều chiếm một tỷ trọng lớn (hơn 80%) trong tổng dư nợ. Điều đó chứng tỏ

cho vay hộ sản xuất là một hoạt động khá quan trọng, đóng góp nhiều vào kết quả

hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Hà Tĩnh.



Bảng 10: Bình quân dư nợ một hộ thời kỳ 2005-2008

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



33



Chuyên đề tốt nghiệp



Chỉ tiêu

Năm

2005

2006

2007

2008



Số hộ dư nợ Tổng dư nợ cho vay Bình quân dư nợ một

(hộ)

100930

109499

103727

102016



hộ (triệu đồng)

hộ (triệu đồng/hộ)

1241000

12,30

1479000

13,51

2174000

20,96

2613000

25,61



Nhận xét: Với nhiều chính sách linh hoạt và phù hợp, giai đoạn này,

NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã mạnh dạn hơn trong cơng tác cho các hộ. Bình qn dư

nợ của các hộ tăng đều qua các năm. Đặc biệt, năm 2008, trong điều kiện nền kinh

tế gặp nhiều khó khăn, số dư nợ bình quân vẫn lên tới trên 25 triệu đồng/hộ. Nhờ đó

các hộ có thêm điều kiện đầu tư vào phát triển sản xuất, chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ

sang sản xuất hàng hoá, làm ăn lớn,… Từ đó, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị

trường.

Bảng 11: Dư nợ cho vay đối với một số chương trình kinh tế tại

địa phương năm giai đoạn 2005 -2008

Chỉ tiêu

Cho vay kinh tế trang trại

Cho vay trồng chè

Mua sắm nông cụ

Thuỷ hải sản

Cho vay xuất khẩu lao động

Cho vay nhu cầu đời sống

Tổng



Số dư nợ



Số hộ dư Nợ quá hạn



(triệu đồng)

nợ

(triệu đồng)

36889

534

92

1314

917

53

69883

5129

1925

233483

12154

3789

126569

8558

5745

1650382

69026

13664

2118520

96368

25268



Từ bảng 11 có thể thấy: Cơng tác cho vay hộ sản xuất đã thực sự bám sát các

chương trình kinh tế địa phương để cho vay nhiều loại đối tượng, đa dạng hố cơ

cấu đầu tư, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật ni theo hướng

sản xuất hàng hóa, giúp các hộ tăng thu nhập, xố đói giảm nghèo, xây dựng nơng

thơn mới.

Hiệu quả của công tác cho vay hộ đối với các chương trình kinh tế tại địa

phương thể hiện trên các mặt cụ thể sau:

- Hoạt động cho vay kinh tế trang trại: Với các chính sách giao đất, khốn rừng,

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



34



Chuyên đề tốt nghiệp



đấu thầu và khai hoang, phục hoá, phát triển kinh tế hộ, nhiều hộ đã có tích luỹ vốn,

có lao động, kinh nghiệm sản xuất, quản lý, mở rộng quy mô sản xuất hàng hố,

hình thành các trang trại. Thực hiện nghị quyết số 03/2000/NP-CP ngày 02/2/2000

của chính phủ về đầu tư và phát triển kinh tế trang trại, quyết định 423/2000/QĐNHNN1 ngày 22/9/2000 của thống đốc ngân hàng nhà nước về chính sách tín dụng

đối với kinh tế trang trại, giai đoạn này, NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã cho vay hộ đối

với 1235 trang trại. Ngân hàng đã cho các chủ trang trại vay vốn cải tạo vườn tạp,

trồng cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc…

Nhờ được vay vốn của Ngân hàng, giá trị sản phẩm hàng hoá của các trang trại

ngày một tăng cao. Năm 2008, giá trị hàng hoá, dịch vụ bình quân một trang trại

ước đạt 119,2 triệu đồng. Loại hình trang trại có giá trị hàng hố cao nhất là trang

trại chăn ni, đạt bình qn 169,8 triệu đồng/trang trại; thấp nhất là trang trại trồng

trọt đạt bình quân 83,1 triệu đồng. Tỉ suất hàng hoá dịch vụ bán ra bình quân một

trang trại đạt trên 80%. Thu nhập bình quân đạt 43,6 triệu đồng/trang trại, cao gấp

3,2 lần so với các hộ dân khác trong tỉnh.

Hiện nay, các trang trại đã sử dụng 6793 lao động, bình quân 5,5 lao động/trang

trại, trong đó lao động của chủ trang trại chiếm tỷ lệ khoảng 44%, còn lại là lao

động thuê ngoài. Việc thu hút lao động, giải quyết việc làm của các trang trại đã làm

giảm bớt áp lực do thiếu việc làm, góp phần tăng tích luỹ, xố đói giảm nghèo ở

vùng nơng thơn.

Đặc biệt, trong các năm 2005, 2006, 2007, khơng có chủ trang trại nào quá hạn

nợ. Năm 2008, do điều kiện kinh tế khó khăn, có một số chủ đã nợ quá hạn, dù khơng

đáng kể, tuy nhiên NHNo&PTNT Hà Tĩnh cũng nên có biện pháp quan tâm kịp thời

để loại hình kinh tế này có điều kiện phát triển, tương xứng với tiềm năng của mình.

- Hoạt động cho vay trồng chè: Với chủ trương phát triển kinh tế, đặc biệt ở

những vùng kinh tế mới, NHNo&PTNT đã mạnh dạn cho các hộ vay trồng chè, và

bước đầu có nhiều kết quả khả quan. Trong giai đoạn này, Ngân hàng đã cho vay

trồng chè trên 1500 lượt hộ, đầu tư cải tạo và trồng mới trên 5000 ha vườn chè, thu

hút trên 1000 lao động. Thu nhập bình quân của lao động trồng chè trên 950 nghìn



Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



35



Chuyên đề tốt nghiệp



đồng/lao động.

Trong các năm 2005, 2006, 2007, hoàn toàn khơng có nợ q hạn. Tuy nhiên,

năm 2008, tất cả các hộ vay đều quá hạn, đây là một biểu hiện đáng lo ngại, Ngân

hàng cần có biện pháp kịp thời khắc phục, để có thể thu hồi nguồn vốn của mình,

mà vẫn đảm bảo phát triển vùng kinh tế mới.

- Về cho vay mua sắm nông cụ: Ngân hàng đã đầu tư vốn, giúp các hộ có điều

kiện cải tạo, mua sắm nơng cụ, máy móc, phương tiện. Nhờ nguồn vốn của Ngân

hàng, các hộ đã mua mới được hơn 1000 chiếc máy cày, 380 máy bừa, trên 400

công nông…

- Cho vay ngành thuỷ hải sản chủ yếu tập trung vào cải tạo ao đầm nuôi trồng

thuỷ hải sản. Trong năm 2008, NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã đầu tư cho lĩnh vực khai

thác thuỷ sản là 11.458 triệu đồng để đóng mới, mua sắm và sữa chứa 127 tàu đánh

cá, phục vụ cho 158 hộ dân có phương tiện khai thác thuỷ sản. Đầu tư nuôi trồng

thuỷ sản là 90.325 triệu đồng để san ủi và cải tạo 408 ha đìa tơm. Trong giai đoạn

này, sản lượng khai thác và nuôi trồng thuỷ sản đạt trên 11.350 tấn/năm; đạt 124%

kế hoạch. Thu nhập của lao động trong ngành thuỷ hải sản ước đạt trên 1,2 triệu

đồng/lao động/tháng.

Các chỉ tiêu về số dư nợ, số hộ dư nợ và số nợ quá hạn đều tăng lên tương xứng,

chứng tỏ việc cho vay này đang đi đúng hướng.

- Cho vay đời sống: Với chủ trương mở rộng cho vay hộ cả chiều rộng và chiều

sâu, nên Ngân hàng đã mở rộng hơn hoạt động cho vay nhu cầu đời sống. Trong

giai đoạn này, Ngân hàng đã cho trên 95.268 lượt hộ vay vốn, với số vốn hơn

2.578.896 triệu đồng

- Cho vay xuất khẩu lao động: Kết hợp với các trung tâm giới thiệu việc làm, các

trung tâm dạy nghề… Ngân hàng đã giúp nhiều hộ có điều kiện xuất khẩu lao động.

Từ năm 2005 đến năm 2008, Ngân hàng đã giới thiệu và cho 156.569 lượt hộ vay

vốn, với số tiền trên 186.597 triệu đồng. Thu nhập trung bình của một lao động đi

xuất khẩu lao động khoảng 300 USD/tháng. Nhờ đó, khơng ít gia đình đã thốt

nghèo, vươn lên có cuộc sống sung túc, hàng ngàn ngôi nhà khang trang được mọc

lên, thay thế những ngôi nhà tranh, mái lá trước đây.

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



36



Chuyên đề tốt nghiệp



Như vậy, trong các hoạt động cho vay hộ nhằm phát triển kinh tế tại địa phương,

mơ hình cho vay trang trại là mơ hình đem lại thu nhập bình qn cao nhất cho

người lao động. Tuy nhiên, hiện nay, số trang trại được vay vẫn chưa nhiều; Ngân

hàng nên chú ý hơn đến đối tượng này để nâng cao hơn nữa hiệu quả đầu tư.

Bảng 12: Tổng hợp dư nợ một số chương trình kinh tế tại địa phương

qua các năm

Chỉ tiêu

Năm

2005

2006

2007

2008



Số dư nợ (triệu đồng)

381045

433251

572808

731416



Nhận xét: Qua bảng 12 và biểu đồ 2 ta nhận thấy: Trong giai đoạn này, tình

hình dư nợ tăng đều và khá ổn định qua các năm. Năm 2008, số dư nợ của một số

chương trình kinh tế tại địa phương đạt 731.416 triệu đồng, tăng so với năm 2007

là 158.608 triệu đồng, tương ứng 27,69%. Trong một năm có nhiều khó khăn, tỷ

lệ dư nợ vẫn có mức độ tăng khá như vậy, đó là một nỗ lực lơn của

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



37



Chuyên đề tốt nghiệp



NHNo&PTNT Hà Tĩnh trong việc bám sát các chương trình kinh tế tại địa

phương, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình.

Bảng 13: Tình hình nợ quá hạn một số chương trình kinh tế tại địa phương

qua các năm

Năm



2005



Chỉ tiêu

Số nợ quá hạn

(triệu đồng)

Tăng trưởng tuyệt đối so với

năm 2005 (triệu đồng)

Tăng trưởng tương đối so với

năm 2005 (%)



5020



2006



2007



2008



5204



6033



9011



184



1013



3991



3,67



20,18



79,50



Nhận xét: Qua bảng 13 và biểu đồ 3 ta nhận thấy: tình hình nợ quá hạn của mốt

số chương trình kinh tế tại địa phương cũng tăng lên qua các năm. Tuy nhiên, năm

2008, tỷ lệ tăng này là khá cao, so với năm 2007 tăng 2.978 triệu đồng, tương ứng

49,36%. Mặc dù, dư nợ tăng, thì nợ quá hạn tăng lên cũng là một điều dễ hiểu,

nhưng tốc độ tăng nợ quá hạn cao hơn tốc độ tăng dư nợ lại là một vấn đề đáng lo

ngại. Mặc dù có nhiều lý do khách quan do tình hình khó khăn chung của nền kinh

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



38



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết quả cho vay trực tiếp tới hộ sản xuất của NHNo&PTNT Hà Tĩnh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×