Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 13: Tình hình nợ quá hạn một số chương trình kinh tế tại địa phương qua các năm

Bảng 13: Tình hình nợ quá hạn một số chương trình kinh tế tại địa phương qua các năm

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề tốt nghiệp



tế, nhưng Ngân hàng cũng nên sớm tìm ra cách giải quyết, nhằm sớm thu hồi lại

vốn, đảm bảo hiệu quả đầu tư.

2. Phân tích, đánh giá các giải pháp mà NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã thực

hiện trong công tác cho vay hộ sản xuất

Nhằm thực hiện tốt chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và

Nhà nước, góp phần đổi mới đời sống kinh tế xã hội của địa phương, NHNo&PTNT

Hà Tĩnh đã có nhiều biện pháp tích cực để mở rộng cho vay hộ, chuyển hướng đầu

tư: lấy nông nghiệp, nông thôn làm thị trường chủ yếu với khách hàng tiềm năng,

khách hàng chính là hộ sản xuất kinh doanh. Để thực hiện tốt công tác cho vay trực

tiếp hộ, NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã có nhiều giải pháp thiết thực:

2.1. Tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các cấp uỷ, chính quyền địa phương

và đoàn thể

NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã phối hợp chặt chẽ với các cấp, chính quyền địa

phương, các tổ chức đồn thể, triển khai kịp thời các chính sách của Đảng, Nhà

nước, các biện pháp nghiệp vụ của ngành nhằm xã hội hóa hoạt động của Ngân

hàng dưới các hình thức:

- Tổ chức họp dân (tất cả các phường, xã, thơn, xóm) phổ biến chủ trương chính

sách phát triển nơng nghiệp, nông thôn của Đảng, Nhà nước.

- Tuyên truyền sâu rộng chủ trương, chính sách của Nhà nước, cơ chế, biện pháp

nghiệp vụ của ngành đến tận từng hộ gia đình, từng người dân,… trên các phương

tiện thơng tin đại chúng như: đài phát thanh truyền hình địa phương, in ấn, phát các

tờ quảng cáo…

2.2. Tổ chức điều tra, khảo sát thị trường:

Ngân hàng đã tổ chức các cuộc điểu tra nắm chắc nhu cầu về vốn trong từng địa

phương, từng thời kỳ, từng ngành nghề kinh tế… Gắn hoạt động của Ngân hàng với

chủ trương phát triển kinh tế xã hội của địa phương từng thời kỳ, từng khu vực

nhằm phát huy thế mạnh kinh tế của từng vùng, từng ngành nghề, góp phần phát

triển kinh tế địa phương trên cơ sở đảm bảo cho vay an toàn, hiệu quả.



Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



39



Chuyên đề tốt nghiệp



Trong giai đoạn này, NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã tổ chức được 4 cuộc điều tra về

nhu cầu sử dụng vốn vay của các hộ trên quy mơ tồn Tỉnh, với kinh phí trên 20 tỷ

đồng. Thông qua các cuộc điều tra này, Ngân hàng đã xây dựng được các dự án đầu

tư cụ thể hằng năm cho từng phường, xã…và có biện pháp cân đối lại nguồn vốn

đầu tư cho từng địa phương.

Đặc biệt, trên cơ sở khảo sát nhu cầu vốn của giới tiểu thương và hình thức cho

vay trả góp, vay nóng của tư nhân trên thị trường, chủ yếu tại các chợ, Ngân hàng

đã mạnh dạn mở điểm cho vay dịch vụ mà phương thức thực hiện như của tư nhân

nhưng lãi suất theo quy định của Ngân hàng, thấp hơn nhiều so với tư nhân. Thủ tục

đơn giản chỉ cần hộ vay vốn có giấy phép kinh doanh, được ban quản lý chợ xác

nhận là có thể vay góp tại cửa hàng đến 5.000.000 đồng khơng phải thế chấp, và có

thể góp theo ngày, tuần, tháng hoặc vay nóng làm thương vụ từ 1 đến 10 ngày.

2.3. Tích cực chủ động tham gia các chương trình của địa phương có liên quan

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiếp xúc, giúp đỡ, cho vay và thu hồi

nợ, NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã tích cực tham gia các chương trình, giải pháp về phát

triển kinh tế - xã hội, xố đói, giảm nghèo do cấp uỷ, chính quyền các cấp đề ra. Kết

hợp với các tổ chức khuyến nông, khuyến lâm tổ chức các hội nghị phổ biến kinh

nghiệm sản xuất, áp dụng các tiến bộ về khoa học kỹ thuật và chuyển giao công

nghệ cho người sản xuất.

Cụ thể trong giai đoạn từ 2005 đến 2008, Ngân hàng đã cho 1235 trang trại

vay vốn; cho vay trồng chè trên 1500 lượt hộ, đầu tư cải tạo và trồng mới trên

5000 ha vườn chè; giúp các hộ mua mới được hơn 1000 chiếc máy cày, 380 máy

bừa, trên 400 công nông; đã cho vay đời sống trên 95.268 lượt hộ, với số vốn

hơn 2.578.896 triệu đồng; đã giới thiệu và cho vay xuất khẩu lao động đối với

156.569 lượt hộ, với số vốn trên 186.597 triệu đồng; và trong năm 2008,

NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã đầu tư cho lĩnh vực khai thác thuỷ sản là 11.458 triệu

đồng để đóng mới, mua sắm và sữa chứa 127 tàu đánh cá, phục vụ cho 158 hộ

dân có phương tiện khai thác thuỷ sản. Đầu tư nuôi trồng thuỷ sản là 90.325 triệu

đồng để san ủi và cải tạo 408 ha đìa tôm.

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



40



Chuyên đề tốt nghiệp



2.4. Thành lập mạng lưới tổ vay vốn

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng vay vốn NHNo&PTNT Hà Tĩnh

đã phối hợp với chính quyền địa phương, các Hội Nơng dân, Hội Phu nữ,… thành

lập mạng lưới tổ rộng khắp:

- Nội dung quy trình các bước họp dân, họp tổ, giao ban Tổ trưởng tổ vay

vốn được NHNo&PTNT Hà Tĩnh soạn thảo, hướng dẫn thực hiện đồng thời tổ chức

ký kết thoả thuận với Hội Nông dân, Hội Phụ nữ Tỉnh, chỉ đạo xuống tận các xã mở

rộng tuyên truyền, vận động, xây dựng quy trình thành lập Tổ vay vốn.

- Ngân hàng đã tổ chức mở sổ đăng ký nhu cầu vay vốn của các hộ tại nhà

các Tổ trưởng, đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu vốn cho sản xuất nơng nghiệp.

- Nhờ hoạt động có nề nếp Tổ vay vốn ngày càng kết nạp nhiều thành viên

tham gia, được chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, thâm canh… làm cho sản

xuất kinh doanh phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện.

Kết quả xây dựng mô hình cho vay thơng qua Tổ vay vốn đã thay đổi cung cách

làm việc quan liêu, trì trệ của Ngân hàng trước đây; hồ sơ, thủ tục vay vốn được đơn

giản; mức cho vay, định kỳ hạn nợ được xác định phù hợp; phương pháp chi hoa

hồng được cải tiến, tăng hiệu quả hoạt động của các tổ vay vốn.

- Đồng thời, Ngân hàng cũng rút kinh nghiệm, chấn chỉnh kịp thời những tồn tại,

thiếu sót, những vấn đề khơng phù hơp như: cho vay, thu nợ thông qua tổ liên

doanh, thu lãi trước… Chấn chỉnh lại quy trình thành lập, sinh hoạt tổ làm tăng

thêm tính hỗ trợ trong cộng đồng.

Kết quả tính đến cuối năm 2008, đã thành lập 3404 tổ vay vốn ở 100% thơn xóm

trong tồn tỉnh, với 405.852 hộ thành viên đủ điều kiện vay vốn.

Hàng năm, các Ngân hàng huyện, thành phố phối hợp với các đoàn thể quần

chúng tổ chức kiểm tra, đánh giá, phân loại và đề nghị Chủ tịch UBND huyện, thị

thành phố cấp giấy chứng nhận cho 100% Tổ vay vốn. Trong số 3404 Tổ vay vốn

có có 35 – 37 % số tổ đạt loại giỏi; 52 – 55 đạt loại khá, 8 – 10% đạt trung bình và

chỉ có 0,3 loại yếu kém nhưng được chấn chỉnh kịp thời ngay trong năm.

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



41



Chuyên đề tốt nghiệp



2.6. Thực hiện công tác cán bộ

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác cán bộ, Ngân hàng đã thực hiện:

- Đổi mới phong cách phục vụ, thực hiện văn hoá trong giao tiếp; tổ chức lấy

phiếu thăn dò tín nhiệm của cấp uỷ chính quyền đối với cán bộ tín dụng phụ trách

từng địa bàn; hiện đại hố cơng nghệ để nâng cao chất lượng phục vụ. Tổ chức thu

nợ tại địa điểm tập trung theo ngày cố định từng xã, tiết kiệm thời gian đi lại trả nợ

của người vay vốn.

- Cải thiện điều kiện làm việc của cán bộ thu nợ nhằm tăng năng suất lao động

bằng các phần mềm hỗ trợ hạch toán thu nợ tại điểm cố định, sao kê đối chiếu nợ,

phần mềm tự động so dữ liệu và thư viện tra cứu lỗi giao dịch, chương trình tự động

kết chuyển ngoại tệ cuối tháng, kiểm tra từ xa các nghiệp vụ thu nợ, thu lãi, chi tiêu,

phí dịch vụ… Nhờ vậy, việc theo dõi và thu lãi, nợ trở nên đơn giản, chính xác và

hiệu quả hơn.

- Thực hiện giao chỉ tiêu kế hoạch cho vay hộ tới từng cán bộ tín dụng nhằm

tăng dư nợ cho vay hộ, thay đổi cơ cấu tín dụng theo hướng lựa chọn khách hàng

chủ yếu là hộ sản xuất kinh doanh.

- Xử lý dứt điểm các trường hợp cán bộ vi phạm quy chế; nghiêm cấm cán bô

không được thu nợ, thu lãi trực tiếp từ khách hàng.

Tính từ năm 2005 đến năm 2008, Ngân hàng đã tiến hành xử lý chuyển công tác

khác có mức lương thấp hơn đối với 1 cán bộ, cảnh cáo 1 người, hạ loại lao động

đối với 38 người.

2.7. Thường xuyên có sự phối kết hợp giữa NHNo&PTNT Hà Tĩnh với Hội

Nông dân và Hội Phụ nữ

2.7.1. Sự kết hợp giữa Hội Nông dân với NHNo&PTNT Hà Tĩnh

Nhằm triển khai có hiệu quả Quyết định 67 của Chinh phủ về “một số chính

sách tín dụng Ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, ngày 9 tháng

10 năm 1999, Trung ương Hội nông dân Việt Nam và NHNo&PTNT ký kết nghị

quyết liên tịch số 2308/NQLT/1999 về “tổ chức thực hiện chính sách tín dụng ngân



Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



42



Chuyên đề tốt nghiệp



hàng phục vụ phát triển nơng nghiệp nơng thơn”. Để thực hiện có hiệu quả Nghị

quyết này, NHNo&PTNT Hà Tĩnh và Hội nông dân Tỉnh đã ban hành nhiều văn bản

hướng dẫn, tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu

quả hoạt động tín dụng Ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn trong

giai đoạn mới.

Hội Nông dân luôn quan tâm bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về mọi mặt cho đội

ngũ cán bộ hội cơ sở và Ban chấp hành Hội gắn với chỉ đạo thực hiện 3 phong trào,

5 chương trình hoạt động của Hội và các hoạt động hỗ trợ nơng dân. Nhờ đó, hộ

nơng dân được vay vốn Ngân hàng thuận lợi hơn, thủ tục đơn giản, giảm bớt được

thời gian, SXKD được mở rộng, ngành nghề phát triển, tiến bộ Khoa học kỹ thuật

được áp dụng, giải quyết được việc làm, tăng thu nhập, đời sống nông dân được cải

thiện. Người nông dân từng bước nhận thức và tin tưởng vào chủ trương, chính sách

của Đảng và Nhà nước; đã loại bỏ dần tập quán làm ăn cũ, nâng cao được tính cộng

đồng, tình làng nghĩa xóm được thắt chặt, xố bỏ được tình trạng cho vay nặng lãi ở

nơng thơn.

Riêng năm 2008, Hội đã phối hợp với NHNo&PTNT Hà Tĩnh giải quyết cho

197.625 lượt hộ nông dân vay vốn với số tiền 1.643.250 triệu đồng, tăng so với

cùng kỳ năm trước 264.000 triệu đồng. Doanh số thu nợ đạt 1.338.855 triệu đồng,

tăng so với năm 2007 là 310.500 triệu đồng. Trong đó, thu nợ tồn đọng 10.770 triệu

đồng, đạt 89%.

Đến cuối năm 2008, thơng qua Hội Nơng dân, đã có 105.900 lượt hộ được vay

vốn với số tiền lên tới 844.530 triệu đồng, đạt 97% kế hoach đặt ra từ đầu năm.

Với việc thực hiện nghị quyết liên tịch 2308, tổ chức Hội được củng cố, tạo điều

kiện tập hợp lực lượng nơng dân vào Hội, nâng cao vai trò, uy tín, trình độ quản lý

kinh tế của cán bộ Hội các cấp.

Thông qua viêc vay vốn của NHNo&PTNT, gắn với việc tun truyền chính

sách tín dụng, cơng tác khuyến nơng, khuyến lâm, làm cho trình độ thâm canh của

bà con nơng dân được nâng cao.

2.7.2. Sự kết hợp giữa Hội Phụ nữ và NHNo&PTNT Hà Tĩnh

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



43



Chuyên đề tốt nghiệp



Hà Tĩnh là một tỉnh còn nhiều khó khăn, số hộ gia đình phụ nữ nghèo còn khá

cao, đặc biệt là phụ nữ vùng sâu, vùng xa, vùng nơng thơn. Tình trạng thiếu vốn,

thiếu việc làm, thiếu điều kiện sinh hoạt còn khá phổ biến, phụ nữ được tiếp cận với

các nguồn vốn chưa được là bao. Thấy rõ được những khó khăn của tỉnh nhà, của

các gia đình hội viên phụ nữ, Hội Liên hiệp phụ nữ Tỉnh đã xây dựng nhiều kế

hoạch, phối hợp với các ban ngành chức năng phát động phong trào “phụ nữ giúp

nhau phát triển kinh tế gia đình”, và hưởng ứng chương trình xố đói, giảm nghèo,

giải quyết việc làm một cách có hiệu quả, góp phần thực hiện thành cơng nghị quyết

của HĐND và các nghị quyết của Đảng bộ đề ra.

Đặc biệt, từ khi có Nghị quyết Liên tịch số 02 ngày 5 tháng 10 năm 2000 giữa

Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và NHNo&PTNT “về việc tổ chức thực hiện cho

vay vốn đối với phu nữ” thì sự phối kết hợp lồng ghép giữa hai ngành ngày càng

được mở rộng thêm cả về số lượng, chất lượng và chặt chẽ hơn trong việc tổ chức

điều hành, quản lý và thống nhất cao trong lãnh đạo, chỉ đạo. Hội Liên hiệp phụ nữ

Tỉnh đã:

- Thống nhất cùng với Ngân hàng ký hợp đồng tín chấp, lập kế hoạch đề ra quy

chế hoạt động, quy định trách nhiệm của mỗi bên từ tỉnh đến cơ sở

- Phân công cán bộ phu trách theo mảng – vùng - cụm kiểm tra giám sát đến tận hộ.

- Kết hợp với cán bộ thơn xóm phân loại đối tượng thành viên theo cụm dân cư,

hồn cảnh của từng gia đình để có biện pháp giúp đỡ cụ thể.

- Tăng cường công tác kiểm tra, đơn đốc tại tổ, nhóm và huyện, xã để phát hiện

những thiếu sót, khó khăn nhằm giải quyết kịp thời tại cơ sở.

- Thường xuyên gặp gỡ, trao đổi qua lại với NHNo&PTNT Hà Tĩnh nhằm giải

quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện.

- Tranh thủ sự lãnh đạo của Đảng, hỗ trợ của chính quyền và phối hợp chặt chẽ

với các ban ngành chức năng.

- Hàng quý, 6 tháng, một năm Hội Phu nữ và Ngân hàng tổ chức cuộc họp sơ,

tổng kết rút kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo và có biểu dương, khen thưởng

những đơn vị thực hiện tốt cũng như phê bình, kiểm điểm những đơn vị làm chưa tốt.

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



44



Chuyên đề tốt nghiệp



Đội ngũ cán bộ Hội và cán bộ Ngân hàng đã quen dần với cơ chế mới, khá thành

thạo trong việc tổ chức, điều hành,quản lý. Quần chúng hội viên ngày càng gắn bó

với tổ chức hội, phong trào Hội ngày càng được tiếp tục củng cố và phát triển. Đến

nay, đã có trên 90% gia đình phụ nữ được vay vốn qua kênh của Hội phụ nữ. Cũng

từ hoạt động này đã khơi dậy sức sáng tạo và truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân

tộc Việt Nam, tạo nên một phong trào rộng lớn trong tầng lớp phụ nữ về tình đồn

kết thương u, giúp đỡ lẫn nhau trong mọi hồn cảnh.

Thơng qua Hội Phụ nữ, đã có 956 tổ vay vốn được thành lập và hoạt động có

hiệu quả, 146.910 hộ vay vốn với số tiền dư nợ 1.070 tỷ đồng

Nhờ những hoạt động thiết thực giữa Ngân hàng và Hội Phụ nữ đã góp phần giải

quyết việc làm cho hàng ngàn lao động; nâng cao hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực

sản xuất, chăn nuôi, cải tạo vườn đồi và tạo điều kiện cho một số phụ nữ nghèo mở

được quầy buôn bán, tăng thu nhập, nâng cao đời sống…

3. Ưu điểm, nhược điểm, nguyên nhân

3.1. Ưu điểm

3.1.1. Cho vay kinh tế hộ góp phần giúp người dân mở rộng sản xuất

- Chủ trương cho vay hộ sản xuất đã từng bước phá bỏ cơ chế bao cấp, giúp

người nông dân chủ động mở rộng sản xuất thâm canh, chuyển đổi cây trồng vật

nuôi, mở rộng ngành nghề …

- Cho vay hộ sản xuất bước đầu đã góp phần mở rộng sản xuất, tận dụng lao

động trong nông nghiệp, thay đổi cơ cấu đầu tư làm cho nông thôn phát triển tồn

diện, tiến tới cơng nghiệp hố, hiện đại hố .

Từ cho vay hộ sản xuất trong sản xuất nông nghiệp đã mở rộng sản xuất đa

ngành, đa nghề trong một hộ, từ sản xuất giản đơn sang sản xuất hàng hố như sản

xuất chế biến, chăn ni dịch vụ, từ cho vay một vụ đến cho vay liên vụ, từ cho vay

ngắn hạn sang cho vay theo dự án trung và dài hạn. Việc cho vay hộ đã làm cho

nông thôn trở nên sôi động trong việc thi đua thực hiện các chủ trương của Nhà

nước; đã khai thác tiềm năng lao động, đất đai, nguồn vốn trong dân cư, tạo nên một

sức mạnh vật chất to lớn, góp phần thực hiện sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



45



Chuyên đề tốt nghiệp



hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà Đại hội VIII đã đề ra.

3.1.2. Cho vay kinh tế hộ góp phần vào sự nghiệp xố đói, giảm nghèo

Nhờ có vốn vay ưu đãi của NHNo&PTNT Hà Tĩnh, đã giúp cho 10850 hộ vượt

ngưỡng đói nghèo (theo chuẩn mực hộ nghèo tại quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 8

– 5 – 2005 của Thủ tường Chính phủ về về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho

giai đoạn 2006 – 2010 đã quy định hộ nghèo là hộ cò thu nhập từ 200 ngàn

đồng/người/tháng trở xuống đối với nông thôn và dưới 260 ngàn đồng/người/tháng

đối với thành thị). Một số điển hình tốt ở các địa phương có thể kể đến như sau:

+ Chị Hố ở xã Hương Đô, Hương Khê, nhờ được vay vốn của NHNo&PTNT

120 triệu đồng, đã xây dựng trang trại diện tích 35 ha để trồng nhiều loại cây ăn quả

như: cam, bưởi, chanh, cây gió trầm…kết hợp với ni 40 tổ ong, thu nhập bình

quân hằng năm từ 50 đến 70 triệu đồng. Nhờ đó, chị khơng chỉ thốt nghèo, mà còn

có thu nhập khá, có điều kiện cho con đi học đại học, và hiện nay là một trong

những hộ giàu của xã Hương Đô.

+ Chị Thanh ở xã Sơn Lâm, huyện Hương Sơn đã vay số tiền 30 triệu đồng để

phát triển chăn ni bò, hiện nay thu nhập bình quân mỗi năm trên 20 triệu đồng.

+ Chị Tư ở xã Đức Hương, huyện Vũ Quang: Hằng năm đến mùa thu hoạch của

nông dân, chị vay Ngân hàng 50 triệu đồng để thu mua lạc, đỗ, ngô... của các hộ sản

xuất. Trước đây gia đình chị là hộ nghèo, nay thu lãi mỗi năm trên 15 triệu đồng, và

đã thoát nghèo.

+ Chị Hoa ở xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân vay Ngân hàng 45 triệu đồng đẻ

thu mua hải sản chế biến nước mắm, ruốc, cá khô… Mỗi năm lãi ròng trên 12 triệu.

+ Anh Hồng ở xã Thạch Linh, Thành phố Hà Tĩnh vay vốn Ngân hàng 150 triệu

đồng để sản xuất đồ gỗ, giải quyết cho 7 lao động thường xun có việc làm, lãi

ròng mỗi năm trên 20 triệu đồng.

Mặt khác, thông qua chuyển tải vốn đến hộ nghèo NHNo&PTNT đã hình thành

mạng lưới, ban đại diện … qua đó thu hút vốn từ các tổ chức trong và ngoài nước

về cho hộ nghèo, làm cho nguồn vốn cho vay hộ nghèo càng thêm phong phú.

3.1.3. Cho vay hộ đã tạo nên mối gắn kết giữa NHNo&PTNT Hà Tĩnh với các tổ

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



46



Chuyên đề tốt nghiệp



chức Hội, giúp hoạt động của tổ chức Hội thêm phong phú và hữu ích

Để chuyển tải vốn đến hộ sản xuất kinh doanh nhanh nhất và thuận tiện nhất,

NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã mở rộng mạng lưới đến tận thơn, xã, phường, hình thành

các tổ vay vốn hoặc tổ liên gia, hình thành ban đại diện có cấp uỷ, chính quyền

phường, xã. Việc làm này đã tạo mối liên kết chặt chẽ giữa Ngân hàng với các đồn

thể xã hội, với cấp uỷ và chính quyền các cấp, giữa hộ với các tổ liên gia.

Hội Nông dân thơng qua tổ vay vốn đã làm cho hội có nội dung phong phú trong

hoạt động như cải tạo vườn tạp, cải tạo giống cây, giống con, kỹ thuật nuôi trồng…

từ đó, làm cho các hộ vay vốn trở thành những thành viên tích cực, gắn bó với Hội.

Hội Phụ nữ nhờ tổ vay vốn để hướng dẫn chị em làm kinh tế. Ngoài sinh hoạt

đều đặn để được vay vốn, Hội còn có thêm cơ hội để tun truyền thêm cho chị em

về các chính sách như: sinh đẻ có kế hoạch, ni dạy con tốt,xây dựng gia đình văn

hố…

Nhờ có mối liên kết này, các Đồn thể xã hội đã trở nên gắn kết với nhau vì lợi

ích riêng và vì lợi ích cộng đồng. Các phong trào thi đua làm giàu, thi đua yêu nước,

phong trào xây dựng thơn xóm văn hố, khu phố văn hố dược phát triển,…

3.1.4. Do tác động cho vay hộ sản xuất đã buộc NHNo&PTNT Hà Tĩnh phải

nâng cao chiến lược cho vay hộ để mở rộng hoạt động, phục vụ và đáp ứng yêu cầu

phát triển của nền kinh tế.

Trước yêu cầu của phát triển kinh tế, các hộ đã liên kết với nhau trong sản xuất,

kinh doanh, tiêu thụ. Cho vay hộ đã mở ra hướng sản xuất tập trung như vùng sản

xuất cây công nghiệp, vùng sản xuất ngư nghiệp, vùng lương thực… Ngược lại, các

hộ, các vùng kinh doanh mở rộng đã thôi thúc NHNo&PTNT Hà Tĩnh cải tiến, mở

rộng, nâng cao chiến lược cho vay để thích ứng với điều kiện mới. Ngân hàng đã

phải mở rộng mạng lưới, cải tiến nghiệp vụ, nâng mức cho vay, nâng giá trị tài sản

thế chấp, bỏ bớt các thủ tục phiền hà, thay đổi phong cách phục vụ…

3.1.5. Cho vay hộ đã phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nông

nghiệp và nông thôn

Trong quá trình phát triển nơng nghiệp theo hướng thị trường đã hình thành các

nhóm hộ khác nhau

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



47



Chuyên đề tốt nghiệp



- Nhóm hộ sản xuất, kinh doanh nơng nghiệp

Từ khi có “khốn 10”, kinh tế hộ nơng dân đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ,

được pháp luật cho phép thuê lao động, được vay vốn, được quyết định trồng cây gì,

ni con gì và quyết định bán sản phẩm đi đâu, cho ai… nhiều hộ đã thốt khỏi tình

trạng sản xuất tự cung tự cấp, độc canh cây lúa, chuyển sang đa dạng hoá hoạt động

sản xuất theo lợi thế vùng và nhu cầu thị trường.

Trong q trình phát triển đã có một bộ phận tiên tiến đã đầu tư mở rộng sản

xuất kinh doanh theo hướng phát triển kinh tế trang trại, từ đó các nguồn lực như

đất đai, vốn và lao động… được sử dụng ngày càng có hiệu quả cao. Nhờ chính

sách giao các quyền sử dụng đất lâu dài đến hộ sản xuất, chủ trương khuyến khích

phát triển kinh tế trang trại với nghị quyết 03/2000 của Chính phủ về “kinh tế trang

trại” và chính sách cho vay vốn, nên những năm gần đây, số lượng trang trại quy mô

vừa và nhỏ trong toàn Tỉnh đã tăng lên rõ rệt.

Trong số các hộ nơng dân SXKD giỏi, có 23% hộ nơng dân có thu nhập cao từ

kinh tế VAC và sản xuất nơng nghiệp thuần t. Lợi nhuận từ mơ hình này tuy

khơng lớn song nó có ý nghĩa nhiều đối với các hộ nơng dân làm nơng nghiệp, đó là

họ biết kết hợp hài hoá giữa các nhân tố như: Có hệ số sử dụng ruộng đất cao, mức

độ đầu tư thâm canh hợp lý, biết sử dụng đồng vốn hiệu quả, giống cây, giống con

có năng suất cao, áp dụng đung quy trình kỹ thuật. Tiêu biểu như mơ hình cánh

đồng cho thu nhập 50 triệu đồng/ha/năm ở chi hội nơng dân xóm Trung Phú, xã

Thạch Trung, mơ hình kinh tế VAC của ông Mại - Thạch Hạ, ông Minh ởThạch

Quý cho thu nhập 15 – 25 triệu đồng một năm.

- Nhóm hộ sản xuất, kinh doanh phi nơng nghiệp:

Trong lĩnh vực phi nông nghiệp, nhiều hộ kinh doanh cá thể ở các làng nghề

truyền thống và làng nghề mới đã thực sự vươn lên sau một thời gian khó khăn do

khơng chuyển hướng kịp với những thay đổi lớn của thị trường. Đa số các hộ này

nhận gia công cho các cơ sở sản xuất lớn, một số tự tổ chức sản xuất kinh doanh

độc lập, tự bỏ vốn đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị, tự tìm kiếm thị

trường, khách hàng và trực tiếp tiêu thụ sản phẩm:

+ 65% số hộ nông dân SXKD giỏi theo mơ hình phát triển ngành nghề tiểu thủ

Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



48



Chuyên đề tốt nghiệp



công nghiệp - Dịch vụ. Những mơ hình này cho tu nhập lớn và có số hộ triển khai

nhiều nhất. Tiêu biểu như hộ anh Thanh, anh Chân ở Thạch Đồng, hộ anh Kỳ ở

Thạch Hạ, hộ anh Lâm ở Hà Huy Tập, hộ chị Thảo ở Thạch Bình…

+ 12% số hộ nông dân SXKD giỏi biết kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và

nuôi trồng thuỷ sản. Đây là những hộ nông dân thế chấp nguồn vốn lớn của Ngân

hàng để phục vụ sản xuất. Những hộ sản xuất này ngoài sự cố gắng nỗ lực vươn lên

mạnh mẽ của mỗi cá nhân trong gia đình, họ còn được hỗ trợ đắc lực từ tổ chức Hội

và chính quyề cơ sở. Điển hình về mảng kinh tế này có ơng Thảo - Thạch Hạ, anh

Hồng - Thạch Trung…

3.1.6. Tiềm lực kinh tế và khả năng sản xuất của kinh tế hộ khơng ngừng được

nâng cao

- Kinh tế hộ đã góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông – lâm –

ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường, từng bước hình thành

và phát triển các vùng sản xuất hàng hố lớn tâp trung có hiệu quả

- Kinh tế hộ nơng dân đã góp phần tích cực và quan trọng trong chuyển dịch cơ

cấu nông thôn, giảm dần tình trạng thuần nơng, tăng ngành nghề thương mại, dich

vụ, khôi phục và phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền

thống.

- Phát triển kinh tế hộ đã nâng cao đời sống và thu nhập của các hộ gia đình,

nhờ sự đa dạng về các nguồn thu từ việc mở rộng và phát triển sản xuất, kinh

doanh.

- Kinh tế hộ với sự đầu tư của Nhà nước và sự tích luỹ của hộ để mở rộng sản

xuất, áp dụng công nghệ… được tăng cường, tạo tiền đề quan trọng cho việc liên

kết, hợp tác sản xuất kinh doanh ngày một có hiệu quả.

3.2. Nhược điểm

3.2.1. Định kỳ trả nợ vẫn còn cứng nhắc

Định kỳ trả nợ đối với hộ sản xuất được NHNo&PTNT Hà Tĩnh quy định như sau:

- Thu nợ gốc:

* Với món vay ngắn hạn (thời hạn dưới 12 tháng): Thu nợ gốc một lần khi đến hạn.



Phan Thị Thanh Hoa – QTKHTH47A



49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 13: Tình hình nợ quá hạn một số chương trình kinh tế tại địa phương qua các năm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×