Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

đối với mỗi doanh nhân, với mỗi doanh nghiệp trong guồng máy kinh tế thì

lợi ích của họ chính là lợi nhuận. Đối với người tiêu dùng, lợi ích của họ là lợi

ích tiêu dùng hay là giá trị và giá trị sử dụng mà sản phẩm có thể mang lại cho

họ. Chính việc tự do theo đuổi các lợi ích riêng đó tạo nên động lực cạnh

tranh.

Như vậy, sẽ khơng có cạnh tranh khi khơng tồn tại sự độc lập tương đối

về kinh tế, khi mà một chủ thể trong nền kinh tế khơng hoạt động vì lợi ích

của mình. Vừa xuất hiện cạnh tranh đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu

của nhiều học giả kinh tế khác nhau và từ đó cũng xuất hiện nhiều quan điểm

về cạnh tranh.

Thuật ngữ ‘‘cạnh tranh’’ có nguồn gốc từ tiếng La Tinh với nghĩa chủ

yếu là sự đấu tranh, ganh đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất đồng loại và

đồng giá trị nhằm đạt được những lợi thế, những mục tiêu xác định. Trong

hình thái cạnh tranh thị trường, quan hệ cạnh tranh sảy ra giữa hai chủ thể

cung (nhóm người bán), cũng như chủ thể cầu (nhóm người mua), cả hai

nhóm này cạnh tranh với nhau và được liên kết bằng giá cả thị trường.

Theo C.Mac: ‘‘cạnh tranh là sự ganh đua, là sự đấu tranh gay gắt giữa

các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu

thụ hàng hóa qua đó thu được lợi nhuận siêu ngạch’’

Theo Samuelson: ‘‘cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ

cạnh tranh nhằm giành lấy thị trường và khách hàng cho doanh nghiệp mình’’

Ngồi ra: cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế

thị trường, là năng lực phát triển của kinh tế thị trường, là sự ganh đua giữa

các doanh nghiệp trong việc giành giật các nhân tố sản xuất hoặc khách hàng

nhằn nâng cao lợi thế của bản thân doanh nghiệp trên thị trường để cụ thể hóa

những mục tiêu kinh doanh như: lợi nhuận, doanh thu, thị phần,…

Nền kinh tế vận hành theo kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mơ của

nhà nước, khái niệm cạnh tranh ở Việt Nam có những đặc trưng sau: cạnh

tranh là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức, các doanh ngiệp

4



nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi cho sản xuất và kinh doanh để đạt

được mục tiêu cho tổ chức hay doanh nghiệp đó.

1.1.1.2. Bản chất của cạnh tranh:

Trong cạnh tranh, các chủ thể mà cạnh tranh đề cập tới (các chủ thể

kinh tế) cạnh tranh với nhau, ganh đua và giành giật nhằm chiếm lấy nhiều

nhất lợi ích cho bản thân mình. Trong nền kinh tế thị trường, để nâng cao khả

năng cạnh tranh các doanh nghiệp phải cung cấp cho khách hàng những sản

phẩm thỏa mãn tốt nhất những nhu cầu của họ về: Giá, chất lượng, dịch vụ,

hình thức,…Để sở hữu sức cạnh tranh có ưu thế hơn đối thủ cạnh tranh thì

doanh nghiệp phải thường xuyên áp dụng những thành tựu công nghiệp, kỹ

thuật và quản lý …Như vậy, có thể thấy bản chất của cạnh tranh qua mục đích

lợi nhuận và chi phối thị trường.

Thực chất, có thể nói cạnh tranh là mối quan hệ giữa con người với con

người trong việc giải quyết các vấn đề lợi ích kinh tế. Bởi vậy, ngoài lợi ích

kinh tế, cạnh tranh còn mang bản chất xã hội, bản chất xã hội trong cạnh tranh

có thể thấy là chữ ‘‘Tín’’ trong kinh doanh hay là sự khai thác lợi ích từ

thương hiệu như các doanh nghiệp hiện nay đang gắng sức thực hiện.

Do là một quy luật kinh tế, cạnh tranh chiu sự chi phối của quan hệ sản

xuất giữ vị trí thống trị trong xã hội, nên bên cạnh bản chất kinh tế, bản chất

xã hội cạnh tranh còn mang bản chất chính trị.

1.1.1.3 Một số hình thức cạnh tranh:

Dựa trên các tiêu thức khác nhau, ta có thể phân thành nhiều loại hình

cạnh tranh khác nhau.

Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường:

Có thể chia ra ba loại:

� Cạnh tranh giữa người bán với người mua

Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật giá trị, người mua ln muốn

mua được thứ mình cần mua với chi giá rẻ nhất, ngược lại người bán ln

muốn thứ mà mình mang bán đi phải mang về cho mình nhiều nhất giá trị.

5



Cạnh tranh dưới hình thức này thường được biểu hiện bằng hành động ‘‘ngã

giá’’ kết quả là thu được giá cả thị trường.

� Cạnh tranh giữa những người mua

Cơ sở của cạnh tranh giữa những người mua với nhau là quy luật cung

– cầu, ở đó nếu giả thiết mọi yếu tố của thị trường là khơng thay đổi thì đối

với một loại hàng hóa bất kỳ được rao bán trên thị trường giá cả của mặt hàng

đó tỷ lệ thuận với số lượng khách hàng cùng có nhu cầu mua mặt hàng đó.

Trong hình thái cạnh tranh này, vơ hình chung những người mua đã cùng

nhau đẩy cao giá trị vốn có của hàng hóa đó và người bán là người hưởng lợi.

� Cạnh tranh giữa những người bán

Đây là cuộc cạnh tranh gay go và khốc liệt nhất vận động theo các quy

luật kinh tế, xã hội (quy luật cung -cầu, quy luật giá trị,…), trong đó các

doanh nghiệp, các nhà cung cấp tranh giành, thôn tính tiêu diệt lẫn nhau nhằm

giành giật lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần, doanh số của đối thủ cạnh

tranh. Trong hình thái cạnh tranh này, cạnh tranh có cường độ tỷ lệ thuận với

số nhà cung cấp có mặt trên thị trường, trong q trình các nhà cung ứng cạnh

tranh với nhau người tiêu dùng sẽ là người hưởng lợi bởi trực tiếp hay gián

tiếp thì họ là mục tiêu, là đối tượng mà các nhà cung cấp hướng các nghiệp vụ

lôi kéo vào. Kết quả của quá trình cạnh tranh làm thay đổi số lượng và tương

quan giữa các doanh nghiệp cung cấp trên đoạn thị trường sảy ra cạnh tranh,

những doanh nghiệp thất bại sẽ phải rời bỏ thị trường hoặc bị mất thị phần,

các doanh nghiệp khẳng định được vị thế sẽ tăng được doanh số tiêu thụ, tăng

thị phần, tăng đầu tư chiều sâu ( mở rộng quy mô sản xuất, tăng cường hoạt

động nghiên cứu phát triển, hoạt động thị trường,…) đồng thời doanh nghiệp

có những động thái tăng giá, đưa ra yêu sách đối với nhà cung ứng đầu vào để

tối đa hóa lợi nhuận nhằm bù đắp chi phí cơ hội đã bỏ ra trong quá trình cạnh

tranh. Trong cuộc đua này, doanh nghiệp nào khơng có lợi thế cạnh tranh,

khơng xây dựng cho mình một chiến lược cạnh tranh phù hợp tất yếu sẽ bị gạt

ra khỏi thị trường nhưng đồng thời nó lại mở rộng đường cho doanh nghiệp

6



nắm chắc được vũ khí ‘‘cạnh tranh’’ và dám chấp nhận luật chơi của quy luật

phát triển.

Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế :

Có thể chia ra hai loại hình cạnh tranh

� Cạnh tranh trong nội bộ ngành

Là sự cạnh tranh giữa hai hay nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất hoặc

tiêu thụ một loại hàng hóa dịch vụ nào đó trên thị trường. Hình thức cạnh

tranh này mang những đặc điểm tương đồng với hình thức cạnh tranh giữa

những người bán với nhau. Tương tự, kết quả của quá trình cạnh tranh là sự

thu hẹp hoạt động thậm chí là phá sản của các doanh nghiệp không trụ vững

cuộc chiến cạnh tranh, đồng thời đánh dấu sự phát triển cả về chất và về

lượng của các doanh nghiệp chiến thắng.

� Cạnh tranh giữa các ngành

Là sự canh tranh của các doanh nghiệp nằm ở những thành phần kinh tế

khác nhau, đó có thể là sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp và nhà cung ứng

hoặc giữa doanh nghiệp và nhà phân phối hoặc giữa những sản phẩm mang

đặc tính thay thế cho nhau. Bản chất của cạnh tranh giưa các ngành là có sự

khác nhau về tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các doanh nghiệp khác nhau

đầu tư ở các ngành khác nhau với cùng một số vốn như nhau.

Căn cứ vào mức đợ, tính chất của cạnh tranh trên thị trường:

� Cạnh tranh hồn hảo:

Là mơ hình cạnh tranh mà ở đó một doanh nghiệp hay một nhà cung

ứng được đối sử bình đẳng như các thành viên khác trong ngành, giá cả do thị

trường quyết định, không một doanh nghiệp hay một cá nhân nào có khả

năng ‘‘làm giá’’. Trong cạnh tranh hồn hảo, khơng suất hiện cung – cầu giả

tạo ( hoạt động đầu cơ ), không bị hạn chế bởi các công cụ hành chính và

pháp lý của nhà nước. Đặc điểm của hình thức cạnh tranh này là: có nhiều

người bán, nhiều người mua mà không ai trong số họ đủ khả năng để bằng

hành động của mình làm ảnh hưởng tới giá, sản phẩm dịch vụ mà các hãng

7



cung cấp ra thị trường là đồng dạng hoặc giống nhau. Một hãng trong thị

trường cạnh tranh hồn hảo khơng tìm thấy một lý do gì cho việc bán rẻ hơn

hay mua đắt hơn giá thị trường. Các thành viên trong thị trường chỉ có cách

thích ứng với giá thị trường, khi đó giá cả thị trường sẽ dần tiệm cận tới mức

chi phí sản xuất.

� Cạnh tranh khơng hồn hảo:

Cạnh tranh khơng hoàn hảo suất hiện khi một hãng bằng tác động của

mình có thể làm biến động giá cả thị trường theo chiều hướng có lợi cho

doanh nghiệp mình, lúc này đặc tính thị trường là không đồng nhất, mỗi loại

sản phẩm sở hữu nhãn hiệu khác nhau, chất lượng khác nhau, hình ảnh, uy tín

khác nhau và tất yếu là giá cả khác nhau. Điều khiện mua bán là khác nhau:

có doanh nghiệp bán hàng tại xưởng sản xuất, doanh nghiệp khác thì bán hàng

tại các quầy hoặc trung tâm thương mại, doanh nghiệp khác lại lựa chọn bán

hàng tận tay người mua,…Các hãng tự do cạnh tranh giành giật khách hàng

của nhau bằng các công cụ như: quảng cáo, khuyến mại, khuyến mãi, ưu đãi

giá, các dịch vụ trước, trong và sau mua,… Đây là loại hình cạnh tranh rất

phổ biến ngày nay.

� Cạnh tranh độc quyền:

Là hình thái thị trường có sự pha trộng của độc quyền và cạnh tranh, ở

đó một hoặc một số người bán có thể kiểm sốt gần như tồn bộ sản phẩm

hàng hóa bán ra thị trường, giá và lượng hàng bán ra đều do nhà sản xuất hoặc

cung ứng quyết định, người mua chỉ có hai quyết định để chọn là : mua hàng

để giải tỏa nhu cầu hoặc không mua. Đặc trưng của cạnh tranh độc quyền là

hãng kinh doanh độc quyền là nhạc trưởng của cuộc chơi, họ có thể định giá

theo đặc điểm tiêu dùng hay đặc trưng sản phẩm nhằm thu được lợi nhuận tối

đa, các doanh nghiệp nhỏ lẻ trong thị trường phải chấp nhận luật chơi mà

doanh nghiệp độc quyền tạo ra. Trong thực tế, cạnh tranh độc quyền thường

xuất hiện ở những ngành có rào cản ra nhập hoặc rút lui cao, đó có thể là

những ngành đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài (ngành kinh

8



doanh năng lượng, cơ sở hạ tầng,…), hoặc do độc quyền về công nghệ (công

nghệ thông tin, kỹ năng quản lý,…). Độc quyền mang lại lợi ích cho người

kinh doanh độc quyền nhưng lại gây ra những trở ngại cho sự phát triển sản

xuất và làm phương hại tới người tiêu dùng, bởi thế mỗi nước đều cần xây

dựng cho mình luật chống độc quyền để đảm bảo lợi ích của các chủ thể tham

gia trong thị trường.

1.1.2. Đặc điểm, Tính chất, vai trò của cạnh tranh:

1.1.2.1. Đặc điểm của cạnh tranh:

� Thứ nhất, trong cạnh tranh tồn tại hai hay nhiều chủ thể đối đầu với

nhau, khơng có định nghĩa về một chủ thể tự cạnh tranh với chính bản thân

chủ thể đó.

� Thứ hai, cạnh tranh chỉ sảy ra khi hai hay nhiều chủ thể cùng nhau

đáp ứng nhu cầu của một đối tượng chủ thể trên thị trường.

� Thứ ba, cạnh tranh sử dụng một hệ thống các công cụ và chiến lược

cụ thể theo những chương trình nhất định nhằm chiến thắng đối thủ.

1.1.2.2. Công cụ sử dụng trong cạnh tranh:

Để tồn tại và phát triển , các doanh nghiệp phải đối mặt với nhau trên

mọi phương diên từ sản xuất tới phân phối hàng hóa tới tay người tiêu dùng.

Muốn giành được lợi thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp phải biết khéo léo sử

dụng những công cụ canh tranh khác nhau:

� Cạnh tranh bằng giá

Có thể nói giá cả là cơng cụ cạnh tranh mạnh nhất nếu doanh nghiệp có

thể sử dụng nó. Thơng thường, khi kinh doanh trên thị trường giá cả giữ một

vai trò hết sức quan trọng. Giá rẻ là một trong những lợi thế hấp dẫn khách

hàng đặc biệt là trong những giai đoạn kinh tế khủng hoảng suy thối hay lạm

phát hồnh hành. Do vậy, doanh nghiệp ln muốn tìm mọi cách giảm chi phí

sản xuất xuống mức tối ưu qua đó hạ giá bán sản phẩm để lôi kéo khách hàng

mà vẫn đảm bảo mức tỷ xuất lợi nhuận. muốn sử dụng tốt nhất cơng cụ ‘‘giá’’



9



thì doanh nghiệp cần có ưu thế tiềm lực tài chính và chi phí sản xuất ( chi phí

sản xuất thấp ), để đạt được những chỉ tiêu này, cần phải:

- Cải tiến sản xuất

- Nâng cao năng suất lao động ( nhờ năng suất lao động tăng lên giúp

doanh nghiệp có thể tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ hơn trong khi không phải

đầu tư thêm chi phí cố đinh_chi phí nhà xưởng, chi phí nhân công, nên có thể

giảm giá thành sản phẩm, tạo ra năng lực cạnh tranh cao hơn so với đối thủ

cạnh tranh có năng suất lao động thấp hơn).

- Sử dụng cơng nghệ tiên tiến (như phân tích trên: năng suất lao động

cao có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, nhưng để đạt được năng suất vượt

trội doanh nghiệp phải đầu tư sử dụng nhưng cơng nghệ tiên tiến, máy móc

hiện đại, đồng bộ hơn so với đối thủ cạnh tranh, bởi thế năng lực cơng nghệ

máy móc là một tiêu chí có thể giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh

tranh.

- Sản xuất theo quy mô lớn

Sản xuất theo quy mô lớn là một phương án cần thiết khi doanh nghiệp

sử dụng công nghệ hiện đại, năng suất lao động cao khi đó sản suất với quy

mơ lớn là cần thiết để tận dụng hiệu quả tối đa công suất máy móc cơng nghệ.

Đây cũng là chỉ tiêu doanh nghiệp cần phải đạt được nếu muốn đạt các chỉ

tiêu về doanh số bán hàng và thị phần trên thị trường.

� Cạnh tranh bằng sản phẩm

‘‘Tiền nào của ấy’’ là nhận định cho ta cái nhìn tồn diện với việc sử

dụng giá làm công cụ cạnh tranh. Giá rẻ không hẳn là một công cụ tốt nhất

cho cạnh tranh bởi đơn giản, cộng đồng khách hàng của doanh nghiệp và toàn

ngành bao gồm nhiều phân khúc khác nhau với những mức độ nhu cầu khác

nhau cũng như những khả năng thanh toán khác nhau. Khi đời sống được

nâng cao, thu nhập người dân tăng lên khiến cho mức tiêu dùng cận biên gia

tăng, nó khiến cho vấn đề về giá thành khơng còn quan trọn nhiều như trước,

khách hàng bắt đầu chú ý tới những sản phẩm cùng loại hoặc sản phẩm thay

10



thế có chất lượng tốt hơn, hình thức đẹp hơn cho dù có phải trả nhiều hơn cho

‘‘đáng đồng tiền bát gạo’’. Lúc này, những sản phẩm

� Cạnh tranh dựa trên ưu thế mạng lưới kênh phân phối

Sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả phải chăng nhưng nếu không được

cung cấp tới tay người tiêu dùng: đúng lúc, đúng nơi, đúng nhu cầu của khách

hàng thì doanh nghiệp sẽ cạnh tranh khơng hiệu quả. Bởi thế, vai trò của một

mạng lưới kênh phân phối rộng khắp, hợp lý , hiệu quả là điều kiện cần cho

việc cạnh tranh của doanh nghiệp đồng thời là công cụ cạnh tranh với các đối

thủ. Một ví dụ điển hình là ưu thế về mạng lưới chi nhánh phục vụ của Ngân

hàng nông nghiệp & phất triển nông thôn Việt Nam là một công cụ cạnh tranh

rất hiệu quả với các ngân hàng thương mại trong nước.

� Cạnh tranh bằng hoạt động xúc tiến quảng cáo

Quảng cáo và xúc tiến hỗn hợp là những hoạt động marketing nhằm

quảng bá, giúp người tiêu dùng nhận dạng, kích cầu nơi người tiêu dùng,

quảng bá sâu rộng về sản phẩm hay hình ảnh doanh nghiệp cho khách hàng

cái nhìn gần gũi về doanh nghiệp. Hoạt động quảng bá không tạo những điều

kiện tiên quyết để doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh song nó cũng

là công cụ nhằm tạo sự khác biệt và ưu thế giữa những đối thủ có tiềm lực

tương đồng.

� Cạnh tranh bằng dịch vụ bán hàng

Trong nền kinh tế hiện đại, rất nhiều doanh nghiêpj đã thành công khi

sử dụng các dịch vụ bán hàng như một công cụ cạnh tranh. Đây là phương

thức cạnh tranh ngày càng phổ biến, nó có thể được xúc tiến trước, trong hoặc

sau bán hàng và khi cần là kết hợp cả ba khâu với nhau. Những hoạt động này

đánh vào tâm lý của người tiêu dùng mặc dù mọi chi phí phát sinh từ những

hoạt động này đều được phân bổ vào giá thành sản phẩm, đó có thể là dịch vụ

tư vấn giải đáp thắc mắc trước bán, đó có thể là dịch vụ dùng thử, giao hàng,

lắp đặt, thanh toán, bảo hành, bảo dưỡng,…Nó tạo cho người tiêu dùng cái

11



nhìn thiện cảm với doanh nghiệp, khiến họ cảm thấy mình được tơn trọng và

bảo vệ.

1.1.2.3. Vai trò của cạnh tranh:

Cạnh tranh được coi như một động lực của sự phát triển, nhưng cạnh

tranh cũng như bao quy luật kinh tế khác, nó bị chi phối và tuân theo quy luật

khách quan và mang hai mặt biểu hiện: tích cực và tiêu cực.

� Mặt tích cực:

Đôi với bản thân người tiêu dùng:

do tác động của cạnh tranh khiến cho các doanh nghiệp buộc phải thi

thố, cạnh tranh với nhau trong việc lôi kéo khách hàng (lúc này khách hàng là

thượng đế), để có ưu thế trong cuộc đấu các doanh nghiệp sử dụng những

chiến lược và chính sách khác nhau nhằm cải tiến sản xuất theo hướng: nhanh

hơn, nhiều hơn, hợp thị hiếu tiêu dùng hơn, chất lượng hơn, và rẻ hơn tương

đối so với đối thủ cạnh tranh. Hệ quả của nó là việc người tiêu dùng hưởng lợi

khi cùng một mức chi phí tiêu dùng hoặc ít hơn mà có được sản phẩm tốt hơn,

rẻ hơn, được phục vụ chu đáo và tận tình hơn,...

Cũng nhờ cạnh tranh mà cơ hội cho người tiêu dùng xuất hiện nhiều

hơn, người tiêu dùng có nhiều mặt hàng đồng dạng ở nhiều mức giá với nhiều

phương pháp phục vụ,... Chỉ trong môi trường tự do cạnh tranh thì khách

hàng mới có được vị thế để có thể ngã giá, mặc cả với nhà cung cấp.

C.mac từng viết rằng: ‘‘Cạnh tranh là phương thuốc duy nhất dùng để

chống lại những nhà tư sản, một phương thuốc mà các nhà chính trị học cho

là có ảnh hưởng tốt tới cả việc nâng cao tiền công lẫn giảm giá hàng hóa, có

lợi cho cơng chúng tiêu dùng’’. Vì vậy, việc duy trì một mơi trường cạnh

tranh đúng đắn là việc cần thiết để bảo vệ người tiêu dùng.

Đối với doanh nghiệp:

Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải vận động trong một môi trường

năng động, nơi mà họ không là duy nhất, nơi mà tính chất ‘‘động’’ của thị

trường hoàn toàn nổi bật, một thị trường ngập tràn những thách thức và cũng

12



không thiếu những cơ hội kinh doanh. Trong mơi trường này, đòi hỏi doanh

nghiệp phải trả lời những câu hỏi lớn là: sản xuất kinh doanh cái gì? ở đâu?

nhưng quan trọng nhất là như thế nào?

Khi phải đối diện với nhau trong cuộc chiến sinh tồn, quy luật chọn lọc

tự nhiên lại phát huy tác động. Nó khiến doanh nghiệp tìm mọi phương pháp

nhằm cải tiến đổi mới nội tại, tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực có thể huy

động từ bên trong cũng như bên ngồi doanh nghiệp, chủ động hội nhập và

tìm kiếm đối tác cũng như khách hàng. Như vậy, cạnh tranh khiến doanh

nghiệp đưa chi phí sản xuât dần tiệm cận về mức tối ưu hóa, doanh nghiệp

buộc phải chủ động sáng tạo trong việc thích ứng và phát triển với sự khắc

nghiệt của thị trường.

Đối với nền kinh tế:

Canh tranh là một quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh

được đánh giá như một phương thức phân bổ hiệu quả các nguồn lực, là động

lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Cạnh tranh làm cho nền kinh tế trở nên năng

động, đẩy nhanh, đẩy mạnh quá trình tích tụ vốn và tập trung vốn vào tay

những nhà tư bản có khả năng, giúp tăng cường đầu tư cả chiều rộng lẫn chiều

sâu. Có thể nói rằng nếu thiếu cạnh tranh thì nền kinh tế đứng trước nguy cơ

trì trệ, bảo thủ, kém hiệu quả bởi thiếu đi cơ chế đào thải sự lạc hậu, chọn lọc

cái tiến bộ để thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển.

� Tiêu cực:

Cạnh tranh mang lại nhiều tác động tích cực cho cả người tiêu dùng,

người sản xuất kinh doanh và cả nền kinh tế, nhưng cạnh cũng để lại khơng ít

những hạn chế cho tồn xã hội. Mục tiêu cuối cùng của mọi chủ thể trong môi

trường cạnh tranh là lợi ích, vì chạy theo lợi nhuận và lợi ích riêng mà các chủ

thể sử dụng mọi biện pháp, mọi thủ đoạn để giành giật trên thương trường. Nó

bao hàm cả thảy những thủ đoạn và lường gạt luồn lách những kẽ hở trong xã

hội như: đầu cơ, làm hàng giả, trốn thuế, gian lận thương mại, ăn cắp bản

quyền, ... nên phương hại tới toàn xã hội. Tóm lại những cơng cụ và biện pháp

13



mà doanh nghiệp sử dụng trong cạnh tranh có thể phương hại tới lợi ích xã

hội.

Bên cạnh đó, cạnh tranh còn đào thải các doanh nghiệp không bám theo

được xu hướng và sự phát triển của thị trường, mặc dù nó mang lại lợi ích lâu

dài trong xã hội nhưng trong ngắn hạn việc này để lại những hậu quả mà trực

tiếp là việc phá sản của các doanh nghiệp, nó tạo ra những khoản thất thu đối

với chủ nợ của doanh nghiệp đó đồng thời khiến số người mất việc gia tăng

tạo ra những gánh nặng xã hội.

Trong cạnh tranh, các doanh nghiệp sẽ khơng mặn mà với những ngành

kinh tế có tỷ suất lợi nhuận thấp như các ngành dịch vụ công: hành chính, vệ

sinh môi trường, nông nghiệp,... Hơn nữa cũng vì lợi nhuận mà những nguồn

tài nguyên thiên nhiên bị khai thác tối đa có thể, đơi lúc còn là sự bừa bãi dẫn

tới ngày một cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm, tạo ra những gánh nặng lên mơi

sinh và xã hội. Một luận điểm nữa có thể đề cập trong cạnh tranh là những tác

động tiêu cực do khủng hoảng, lạm phát, thất nghiệp đối với nền kinh tế và

nền tảng xã hội.

Tóm lại, cạnh tranh là sự thống nhất giữa hai mặt đối lập: những tác

động tích cực và những tác động tiêu cực, cạnh tranh vừa là động lực phát

triển vừa là xu hướng đãn tới độc quyền, tuy nhiên những tích cực mà nó

mang lại vẫn là chủ yếu.

1.1.3. Một số lý thuyết nghiên cứu về cạnh tranh trong kinh tế:

� Lý thuyế cạnh tranh của trường phái cổ điển:

Lý thuyết này ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nền sản

xuất hàng hóa, nhưng phải tới tận cuối thế kỷ XVIII cạnh tranh mới được coi

là một hiện tượng kinh tế, mới được xem xét và phân tích .

Là một đại diện tiêu biểu cho những nhà kinh tế học của giai cấp tư sản

công nghiệp, Adam Smith là người dày công nghiên cứu và cho ra đời lý

thuyết kinh tế: ‘‘bàn tay vơ hình’’ với chủ trương tự do cạnh tranh. Theo ông,

chính phủ không cần bất cứ một tác động, điều chỉnh nào lên nền kinh tế mà

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×