Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.4: Đánh giá rủi ro ở cấp độ Cơ sở dẫn liệu

Bảng 2.4: Đánh giá rủi ro ở cấp độ Cơ sở dẫn liệu

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.3. Đánh giá ưu, nhược điểm thực hiện thủ tục phân tích và đánh giá rủi ro

trong giai đoạn lập kế hoạch tốn Báo cáo tài chính tại Cơng ty AASC

2.3.1. Thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm tốn Báo cáo tài

chính

 Ưu điểm:

Thứ nhất, về quy trình phân tích: Cơng ty đã xây dựng được quy

trình thực hiện thủ tục phân tích chặt chẽ, khoa học, phù hợp với trình độ

và vị trí của KTV thực hiện: Công ty AASC là thành viên của hãng kiểm toán

quốc tế HLB và được tiếp nhận sự trợ giúp cũng như hưỡng dẫn của Hãng về kỹ

thuật cũng như giấy làm việc phục vụ cơng tác kiểm tốn. Do đó quy trình đánh

giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán cũng được thực hiện đầy đủ, mang lại chất

lượng cho cuộc kiểm toán. Do việc thực hiện thủ tục phân tích trong giai đoạn

lập KHKT dựa trên kinh nghiệm và xét đốn chun mơn của KTV nên cơng ty

quy định bước cơng việc này do trưởng nhóm kiểm tốn đảm nhận. Sau khi

trưởng nhóm kiểm tốn thực hiện thủ tục phân tích để xác định các yếu tố bất

thường, khoanh vùng rủi ro, chủ nhiệm kiểm toán thực hiện sốt xét lại cơng

việc đánh giá này và trước khi phát hành báo cáo kiểm tốn, cơng việc này lại

được sốt xét bởi phòng Kiểm sốt chất lượng của công ty và thành viên Ban

Tổng Giám đốc phê duyệt. Việc phân công phân nhiệm trong việc lập KHKT

như trên đảm bảo cho việc thực hiện thủ tục phân tích được chính xác và đạt

hiệu quả cao.

Thứ hai, về phương pháp phân tích: Cơng ty đã xây dựng được các

quy định và hướng dẫn cụ thể trong việc thực hiện thủ tục phân tích trong

giai đoạn Lập KHKT BCTC: Các bước đều đáp ứng đầy đủ điều kiện chung

của VSA 520 về thực hiện thủ tục phân tích.

Cơng ty đưa ra biểu mẫu và hướng dẫn cụ thể để KTV thực hiện thủ tục

phân tích BCTC. KTV cần căn cứ vào đặc điểm hoạt động, mục tiêu kiểm toán

cũng như kinh nghiệm và xét đoán nghề nghiệp để xác định các biến động về số



77



liệu, và định hướng tìm hiểu nguyên nhân và xác định rủi ro kiểm toán.

Thứ ba, về thể hiện kết quả thực hiện thủ tục phân tích:

 Khơng những đưa ra hướng dẫn cụ thể việc thực hiện thủ tục phân tích

trong giai đoạn lập kế hoạch, cơng tác phân tích còn được trình bày trên giấy làm

việc đi kèm các bằng chứng kiểm toán thu thập liên quan và lưu trữ đầy đủ vào

hồ sơ kiểm toán, tạo sự thống nhất, rõ ràng trên Hồ sơ kiểm tốn của Cơng ty;

 Để chuẩn hố thực hiện thủ tục phân tích, việc trình bày các kết luận về

đánh giá kết quả phân tích và khoanh vùng rủi ro được KTV thực hiện khá khoa

học và trình bày trên giấy tờ làm việc tạo thuận lợi cho KTV trong quá trình

đánh giá, giúp KTV thực hiện đánh giá đầy đủ hơn về RRKT, từ đó phục vụ đắc

lực cho cơng tác lập chương trình kiểm tốn và thiết kế các thủ tục kiểm toán

tiếp theo trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, hạn chế RRKT ở mức có thể chấp

nhận được.

 Nhược điểm:

Thứ nhất, về báo cáo sử dụng để phân tích: KTV hầu như chỉ thực hiện

phân tích với Bảng CĐKT và Bảo cáo kết quả HĐKD mà khơng áp dụng với

BCLCTT. Bên cạnh đó, KTV khơng vận dụng đa dạng các loại phân tích như

phân tích dọc, phân tích tính hợp lý mà chỉ tập trung sử dụng phân tích ngang

với các bộ phận, khoản mục trên Bảng CĐKT và Bảo cáo kết quả HĐKD. Chính

vì vậy, KTV chỉ nhận biết được tình hình biến động tăng giảm của các khoản

mục giữa các kỳ mà không đánh giá mối quan hệ giữa các chỉ tiêu với nhau.

Ngoài ra, các KTV chưa đi sâu vào việc phân tích kết hợp với các thơng tin phi

tài chính khác như chiến lược kinh doanh, chiến lược tài chính của đơn vị, các

chính sách của Nhà nước cũng như các yếu tố khác, để nhận biết và đánh giá sâu

sắc hơn các biến động bất thường, từ đó nhận biết các vùng có khả năng chứa

đựng rủi ro..

Thứ hai, về đối tượng thực hiện thủ tục phân tích: Do sự hạn chế về

chi phí kiểm tốn cũng như thời gian kiểm toán, nhân sự trong thời gian mùa

78



kiểm toán eo hẹp dẫn tới việc thực hiện thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế

hoạch ở Cơng ty AASC chưa được quan tâm và thực hiện đúng theo quy định đặt

ra, KTV thường chỉ thực hiện đối với những khách hàng có quy mơ lớn, khách

hàng là cơng ty niêm yết, đại chúng; còn đối với các khách hàng do có quy mơ

nhỏ nên KTV thực hiện thủ tục phân tích như một bước hồn thiện hồ sơ kiểm

tốn sau khi đã thực hiện xong cuộc kiểm toán tại khách hàng mà không thực

hiện kết hợp đánh giá cùng rủi ro kiểm tốn để thiết kế chương trình kiểm toán

phù hợp cho các giai đoạn kiểm toán tiếp theo, ảnh hưởng đến thủ tục cũng như

chất lượng cuộc kiểm toán.

2.3.2. Đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm tốn Báo cáo tài

chính

 Ưu điểm:

tiếp cận kiểm toán theo rủi ro kinh doanh của khách hàng khi đánh giá về

RRKT. Việc đánh giá rủi ro kinh doanh của khách hàng là một nguồn dữ liệu

quan trọng trong việc đánh giá rủi ro và trọng yếu trên BCTC của KTV. Rủi ro

kinh doanh là một nhân tố quan trọng tác động đến việc đánh giá RRTT và RRKS,

qua đó tác động đến bản chất, thời gian và phạm vi của các cơng việc kiểm tốn

thơng qua các mức độ yêu cầu khác nhau về RRPH.

Thứ hai, về phương pháp đánh giá rủi ro: Để đánh giá rủi ro tại khách

hàng kiểm tốn Cơng ty sử dụng các mẫu biểu và bảng câu hỏi. Các mẫu biểu, bảng

câu hỏi này được thiết kế khoa học để phục vụ cho cơng tác đánh giá rủi ro.

Thứ ba, về trình bày và lưu trữ kết quả đánh giá rủi ro: Qua việc tham

khảo các hồ sơ kiểm toán được lưu trữ tại Công ty, theo quan sát của người viết,

kết quả đánh giá rủi ro được lưu rõ ràng để phục vụ cho quy trình đánh giá rủi ro

và được lưu trữ cẩn thận trong hồ sơ kiểm toán nhằm chứng minh cho ý kiến của

KTV.

Công tác đánh giá rủi ro được thực hiện linh hoạt, kết quả đáng tin cậy và

cung cấp ý kiến tư vấn cho khách hàng. Công tác đánh giá RRKT đã phục vụ đắc



79



lực cho việc lập KHKT đối với toàn bộ báo cáo và từng khoản mục cụ thể. Trong

quá trình đánh giá, KTV đã linh hoạt kết hợp với phương pháp chọn mẫu theo

hướng dẫn kiểm toán của AASC để đảm bảo đồng thời hai mục tiêu cơ bản của

cuộc kiểm toán là chất lượng kiểm tốn và chi phí kiểm tốn.

Việc đánh giá RRKT tại AASC ln do những người có kinh nghiệm và

trình độ chun mơn thực hiện, thường là trưởng đồn, trưởng phòng kiểm tốn

hay giám đốc cơng ty nếu đó là khách hàng lớn. Do vậy, kết quả đánh giá được

sử dụng với độ tin cậy cao.

 Nhược điểm

Thứ nhất, về phương pháp đánh giá:

 Việc đánh giá rủi ro tiềm tàng ở phương diện tổng thể BCTC và các

khoản mục thì thường chỉ thực hiện ở những doanh nghiệp có quy mơ lớn, hoạt

động phức tạp. Còn ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì để đảm bảo nguyên tắc

thận trọng và vừa tiết kiệm thời gian cho cuộc kiểm tốn thì KTV thường chọn

mức độ rủi ro tiềm tàng trên tổng thể BCTC là cao; đồng thời thì căn cứ vào việc

phân tích số liệu trên BCTC và kinh nghiệm của mình mà kiểm tốn viên xác

định mức độ tiềm tàng cho từng khoản mục mà không căn cứ vào tình hình của

doanh nghiệp;

 Cũng vấn đề tương tự đối với việc đánh giá rủi ro kiểm soát; KTV

thường chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và xét đoán nghề nghiệp của mình để

đánh giá KSNB của khách hàng trên phương diện tổng thể BCTC cũng như

các khoản mục;

 Các bảng biểu đánh giá rủi ro cũng được áp dụng chung cho tất cả các

khách hàng của AASC, không thiết kế riêng cho từng loại hình doanh nghiệp nên

nhiều khi nó chỉ thích hợp cho loại hình doanh nghiệp này mà khơng thích hợp

cho loại hình doanh nghiệp kia;

 Việc tìm hiểu KSNB chỉ dựa trên bảng câu hỏi mà không sử dụng lưu

đồ và bảng tường thuật. Thông thường bảng lưu đồ được đánh giá cao hơn vì dễ

80



theo dõi và mang tính hệ thống hơn trong khi bảng tường thuật sẽ phát huy tác

dụng đối với những khách hàng có quy mơ tương đối nhỏ, hệ thống kế tốn và

q trình lưu chuyển chứng từ đơn giản. Hơn nữa, AASC chưa tập trung tìm

hiểu, đánh giá các chu trình, nghiệp vụ chính một cách cụ thể và đầy đủ nhằm

phục vụ cho việc đánh giá RRKS trên từng khoản mục theo từng cơ sở dẫn liệu.

Thứ hai, về quy trình đánh giá:Cơng ty chưa chú trọng đúng mức

việc đánh giá RRKS: Đối với khách hàng có KSNB thì bảng câu hỏi về KSNB

chỉ được KTV phỏng vấn một số câu mà KTV cho là quan trọng, phần còn lại

được đánh giá thơng qua quan sát và kinh nghiệm của mình trong q trình kiểm

tốn chứ khơng tiến hành phỏng vấn tất cả, vì KTV cho rằng sẽ mất rất nhiều

thời gian, điều này khó để KTV có thể hiểu sâu về KSNB và đánh giá RRKS

một cách chính xác tại đơn vị được kiểm tốn.

Thứ ba, về việc quản lý, lưu trữ và sử dụng tư liệu chuyên gia còn

chưa hiệu quả: Tư liệu chuyên gia trong quy trình kiểm tốn nói chung và trong

cơng tác đánh giá rủi ro nói riêng có vai trò rất quan trọng. Khi KTV tìm hiểu,

đánh giá về một lĩnh vực nào đó đặc thù, KTV khơng thể có đủ hiểu biết và kinh

nghiệm bằng các chuyên gia về lĩnh vực đó để đánh giá chính xác được. Hiện tại,

ở Cơng ty AASC tài liệu của chuyên gia chưa được quản lý, sắp xếp nên việc

chia sẻ, truy cập thông tin gây khó khăn cho KTV trong q trình tra cứu, sử

dụng. Mặt nữa, KTV chưa chú ý việc sử dụng tài liệu chun gia vào cơng việc

của mình.

2.3.3. Ngun nhân của những hạn chế thực hiện thủ tục phân tích và đánh

giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm tốn Báo cáo tài chính

Có nhiều ngun nhân dẫn đến những hạn chế trong thực hiện thủ tục

phân tích và đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập KHKT BCTC tại Cơng ty AASC.

Một số ngun nhân chính như sau:

Nguyên nhân khách quan



81



 Về hệ thống văn bản hướng dẫn chưa đầy đủ: Tại Việt Nam mặc dù đã

có chuẩn mực kiểm tốn về phân tích và đánh giá rủi ro nhưng chuẩn mực chỉ

hướng dẫn chung, chưa có các văn bản giải thích cụ thể.

Nguyên nhân chủ quan

 Vấn đề chất lượng của đội ngũ KTV: Số lượng và chất lượng của đội

ngũ KTV tuy được cải thiện đáng kể trong thời gian vừa qua nhưng vẫn chưa đủ

để đảm bảo cho tồn bộ cuộc kiểm tốn đều có KTV tham gia trực tiếp trong giai

đoạn đánh giá trọng yếu và rủi ro. Do đó trong một số trường hợp trợ lý cấp cao

đã tham gia vào công tác lập KHKT và KTV thực hiện soát xét lại kế hoạch đã

lập.

 Việc luân chuyển nhân sự trong Công ty AASC diễn ra thường

xuyên, nhân sự trẻ, có kinh nghiệm dưới 4 năm chiếm tỷ trọng lớn dẫn đến

công tác kiểm tốn BCTC nói chung và quy trình đánh giá trọng yếu, RRKT

nói riêng còn nhiều hạn chế.

 Cơng tác soát xét và kiểm soát chất lượng kiểm toán, trong đó có sốt

xét thực hiện thủ tục phân tích và đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập KHKT chưa

được thực hiện đúng yêu cầu.

 Việc áp dụng thủ tục phân tích và đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế

hoạch kiểm toán chưa được thực hiện đồng bộ. Các khách hàng nhỏ thường bỏ

qua khâu này.



KẾT LUẬN CHƯƠNG II

Thực hiện thủ tục phân tích và đánh giá rủi ro có vai trò rất lớn trong việc

đảm bảo thiết kế các thủ tục kiểm toán cần thiết để đạt được chất lượng của một

cuộc kiểm toán. Dựa trên cơ sở trực tiếp tham gia các đồn kiểm tốn của Tác giả

và kết quả khảo sát thực tế đối với các thành viên ban Tổng Giám đốc, lãnh đạo



82



phòng và các KTV của Công ty AASC, Tác giả đã khái quát được thực trạng thực

hiện thủ tục phân tích và đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập KHKT BCTC của Công

ty AASC. Đây là cơ sở để Tác giả đã đưa ra đánh giá kết quả và hạn chế của q

trình thực hiện thủ tục phân tích và đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập KHKT BCTC

tại Cơng ty AASC cũng như phân tích một số ngun nhân cơ bản của những hạn

chế đó. Từ đó, Tác giả đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện thủ tục phân

tích và đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập KHKT BCTC tại Công ty AASC trong

chương III.



83



CHƯƠNG III:

GIẢI PHÁP HỒN THIỆN THỦ TỤC PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH

GIÁ RỦI RO TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM

TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CƠNG TY AASC

3.1. Định hướng hồn thiện thủ tục phân tích và đánh giá rủi ro trong giai

đoạn lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính tại Cơng ty AASC

Là một Cơng ty có bề dày lịch sử trong ngành kiểm toán Việt Nam, với

mục tiêu phát triển mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ kiểm tốn BCTC khơng

chỉ trong nước mà còn ra quốc tế, bản thân công ty luôn ý thức được những khó

khăn trong cuộc cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường và để đảm bảo

việc duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán BCTC thì yêu cầu bức

thiết đặt ra là phải xây dựng một KHKT phù hợp cho mọi cuộc kiểm tốn. Trong

đó đặc biệt chú trọng tới việc hoàn thiện thực hiện thủ tục phân tích và đánh giá

rủi ro. Việc thực hiện thủ tục phân tích và đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập

KHKT tác động mạnh mẽ tới việc xây dựng chương trình kiểm tốn cũng như

các thủ tục kiểm toán tiếp theo trong giai đoạn thực hiện kiểm tốn. Do đó ảnh

hưởng tới chi phí thực hiện cuộc kiểm toán cũng như chất lượng kiểm toán. Để

đảm bảo cho việc thực hiện thủ tục phân tích và đánh giá rủi trong giai đoạn lập

KHKT BCTC có tính khả thi cao thì các nội dung đưa ra phải đáp ứng được các

yêu cầu sau:



 Phải phù hợp với các chính sách, chế độ quản lý kinh tế hiện hành của

Nhà nước, các chuẩn mực kiểm toán đã ban hành và các thơng lệ, chuẩn mực

kiểm tốn quốc tế phổ biến;



 Phải phù hợp với yêu cầu quản lý của Nhà nước mà trực tiếp là Bộ Tài

chính đối với hoạt động kiểm toán hiện nay;



 Đáp ứng và phù hợp với định hướng phát triển ngắn và dài hạn của Cơng

ty.



84



Để các nội dung hồn thiện lập KHKT trong kiểm tốn BCTC có ý nghĩa cả

về lý luận và thực tiễn thì đòi hỏi phải thực hiện tốt các yêu cầu trên một cách đồng

bộ.

3.2. Giải pháp hoàn thiện thủ tục phân tích và đánh giá rủi ro trong giai

đoạn lập kế hoạch kiểm tốn Báo cáo tài chính tại Cơng ty AASC

3.2.1. Giải pháp nhằm hồn thiện thủ tục phân tich trong giai đoạn lập kế

hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính



 Tăng cường cơng tác nghiên cứu về vận dụng thủ tục phân tích

Hồn thiện việc vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm tốn BCTC phải

hướng đến hoàn thiện về phạm vi, nội dung vận dụng của phương pháp này

trong cả ba giai đoạn của cuộc kiểm tốn. Ví dụ như, trong giai đoạn lập KHKT,

KTV có thể mở rộng phạm vi áp dụng phân tích ngang và phân tích dọc với Báo

cáo lưu chuyển tiền tệ, hay so sánh các thông tin tương ứng của ngành. Đồng

thời, KTV có thể kết hợp với phân tích các thơng tin phi tài chính khác nhằm đưa

ra xét đốn tồn diện hơn. Trong giai lập KHKT, KTV có thể nghiên cứu và vận

dụng thêm các mơ hình ước tính để phân tích và xét đốn. Mơ hình ước tính

càng chi tiết thì độ tin cậy của nó càng cao. KTV cần vận dụng thủ tục phân tích

để đánh giá tổng thể BCTC và xem xét khả năng hoạt động liên tục của khách

hàng,....

 Nâng cao chất lượng của đội ngũ KTV

Chất lượng KTV là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng của

cuộc kiểm tốn BCTC nói chung và việc thực hiện quy trình thủ tục phân tích

nói riêng của các cơng ty kiểm tốn của Việt Nam. Chính vì vậy, Cơng ty cần

tăng cường cơng tác nghiên cứu, trao đổi, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ của

KTV về việc vận dụng thủ tục phân tích trong cả ba giai đoạn của cuộc kiểm

tốn. Do đó, Công ty cần phối hợp với các tổ chức nghề nghiệp kiểm tốn,

phòng đào tạo và kiểm sốt chất lượng của AASC cần tăng cường công tác đào

tạo chuyên môn cho các KTV nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán.

85



 Tăng cường cơng tác sốt xét chất lượng kiểm tốn

Việc tăng cường cơng tác kiểm sốt chất lượng hoạt động kiểm tốn nói

chung và kiểm sốt chất lượng vận dụng thủ tục phân tích nói riêng của các cấp

sốt xét tại AASC, sẽ khắc phục thực trạng không vận dụng hoặc vận dụng sơ

sài, không hiệu quả thủ tục phân tích của KTV đánh giá. Chính vì vậy, trong thời

gian tới Công ty cần phải tăng cường hơn nữa việc kiểm tra giám sát việc vận

dụng thủ tục phân tích nhằm nâng cao chất lượng kiểm tốn.

3.3.2. Giải pháp hồn thiện đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch

kiểm tốn Báo cáo tài chính

 Áp dụng cơng tác đánh giá rủi ro kiểm tốn đồng bộ

Quy trình đánh giá rủi ro nên được áp dụng cho tất cả các khách hàng

trong q trình thực hiện kiểm tốn đảm bảo phù hợp với quy định của Chuẩn

mực kiểm toán Việt Nam (VSA) và nâng cao chất lượng kiểm toán để cạnh tranh

với các cơng ty kiểm tốn khác ở Việt Nam và tham gia các hiệp hội kiểm toán

quốc tế. Các biện pháp của cơng ty có thể làm đó là:

 Tập huấn cho KTV về tầm quan trọng của cơng tác đánh giá rủi ro

kiểm tốn trong mỗi cuộc kiểm toán cũng như đưa ra các hướng dẫn cụ thể

cho công tác đánh giá RRKT, các nhân tố này có ảnh hưởng quyết định tới

chất lượng cuộc kiểm toán.

 Quy định trong hồ sơ kiểm toán mỗi khách hàng đều phải có giấy làm

việc thể hiện việc đánh giá rủi ro kiểm toán và tăng cường kiểm tra sự đầy đủ

của các hồ sơ kiểm toán.

 Đánh giá rủi ro tiềm tàng theo cơ sở dẫn liệu

Hiện tại RRTT đang được đánh giá trên cả cấp độ BCTC và cấp độ số dư

khoản mục, nghiệp vụ tuy nhiên việc đánh giá RRTT ở cấp độ khoản mục,

nghiệp vụ mới chỉ thực hiện dựa trên thủ tục phân tích và các thơng tin chung

tìm hiểu được từ phía khách hàng và đưa ra đánh giá với mức độ cao, thấp, trung



86



bình cho tồn bộ khoản mục mà khơng thực hiện đánh giá theo cơ sở dẫn liệu.

Các cơ sở dẫn liệu mà KTV quan tâm khi đánh giá về RRKT trên số dư tài

khoản và các giao dịch phát sinh bao gồm:

 Sự hiện hữu hoặc phát sinh: các tài sản, công nợ và vốn chủ sở hữu

thực sự tồn tại và các nghiệp vụ doanh thu, chi phí đã thực sự phát sinh;

 Tính trọn vẹn (tính đầy đủ): tất cả các nghiệp vụ và các khoản mục cần

được trình bày trên BCTC thì đã được trình bày đầy đủ;

 Quyền và nghĩa vụ: những con số được báo cáo là tài sản của công ty

phải đại diện cho quyền về tài sản của công ty và những con số được trình bày là

cơng nợ của cơng ty thì chúng đại diện như nghĩa vụ đối với cơng ty;

 Tính giá và đo lường: các tài sản, cơng nợ, vốn chủ sở hữu, doanh thu

và chi phí được tập hợp, cộng dồn và ghi sổ đúng số tiền hợp lý;

 Tính Phân loại và Trình bày: Các khoản mục trên BCTC cần được phân

loại, trình bày phù hợp;

 Trình bày và khai báo: các chính sách kế tốn, các nguyên tắc kế toán

được lựa chọn và áp dụng một cách hợp lý và các thông tin cần khai báo thì đã

được khai báo đầy đủ và thích đáng;

Trong quy trình đánh giá RRKT trên phương diện số dư khoản mục: Theo

chuẩn mực kiểm quốc tế và Việt Nam, khi thực hiện đánh giá RRKT, KTV cần thực

hiện đánh giá RRTT và RRKS đối với từng CSDL bởi lẽ các thủ tục kiểm toán chi

tiết thường được thiết kế theo từng CSDL cụ thể. Do vậy, việc áp dụng đánh giá

RRKS theo từng CSDL sẽ giúp KTV có thể thiết kế và thực hiện những thủ tục kiểm

soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí kiểm tốn.

Bảng 3.1 Ví dụ về bảng đánh giá rủi ro đối với từng CSDL

Khoản



mục Mức rủi ro ảnh hưởng tới CSDL



quan trọng

Tiền

Tài sảncốđịnh



C



E



A



87



V



R&O



P&D



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.4: Đánh giá rủi ro ở cấp độ Cơ sở dẫn liệu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×