Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đánh giá rủi ro kiểm soát

Đánh giá rủi ro kiểm soát

Tải bản đầy đủ - 0trang

Mối quan hệ giữa các thành phần của KSNB với các kiểm sốt ở mức độ tồn

DN và kiểm sốt cụ thể được thể hiện như sau:



Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các thành phần KSNB

(Nguồn: Trích tài liệu Dự thảo hồ sơ Kiểm toán mẫu 2016 của VACPA)



33



VSA 315 yêu cầu KTV phải tìm hiểu KSNB của đơn vị (về mặt thiết kế và

triển khai) để đánh giá rủi ro và xác định nội dung, lịch trình, phạm vi của các

thủ tục kiểm tốn tiếp theo. Việc tìm hiểu và đánh giá KSNB trong giai đoạn lập

kế hoạch này được thực hiện gồm 02 phần: Phần 1 - Đánh giá KSNB ở cấp độ

toàn doanh nghiệp; Phần 2 - Tìm hiểu KSNB về các chu trình KD chínhvà chu

trình khóa sổ, lập và trình bày BCTC.

KTV tìm hiểu và đánh giá KSNB ở cấp độ toàn DN, gồm 05 nội dung

phần:

(1) Mơi trường kiểm sốt,

(2) Quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị,

(3) Hệ thống thông tin liên quan đến việc lập và trình bày BCTC và trao

đổi thơng tin,

(4) Các hoạt động kiểm sốt liên quan đến cuộc kiểm toán và

(5) Giám sát các kiểm soát.

Quá trình này làm cơ sở cho KTV thực hiện đánh giá KSNB ở các chu

trình kinh doanh chính và xác định các rủi ro có sai sót trọng yếu (nếu có) ở cấp

độ DN. Người thực hiện các mẫu này là Trưởng nhóm kiểm tốn và người phê

duyệt là Chủ nhiệm kiểm toán.

Thời điểm thực hiện

Trong giai đoạn lập KHKT, thuận lợi nhất là thực hiện vào thời điểm thực

hiện soát xét BCTC giữa kỳ, hoặc kiểm toán sơ bộ.

Cách thực hiện

Các thủ tục mà KTV sử dụng bao gồm: Phỏng vấn; Quan sát; Kiểm tra

các tài liệu, quy trình, chính sách nội bộ của DN. Các câu trả lời cần được tóm

tắt ngắn gọn, tham chiếu đến các giấy tờ làm việc chi tiết (nếu có).



34



KTV phải xác định được:

(1) Yếu tố có thể gây ra rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ tồn DN (nếu

có);

(2) Các KS làm giảm rủi ro (nếu có);

(3) Các thủ tục kiểm toán cơ bản bổ sung.

KTV xác định được rủi ro có sai sót trọng yếu, thực hiện 03 bước sau:

Bước 1: Liệt kê các yếu tố có thể gây ra rủi ro có sai sót trọng yếu.

Bước 2: Tìm kiếm các KS làm giảm rủi ro, Ví dụ: rủi ro một người đảm

nhiệm vị trí thủ quỹ và kế tốn tiền mặt có thể bị giảm xuống bởi việc hầu

hết các giao dịch chủ yếu của doanh nghiệp là thực hiện qua ngân hàng.

Bước 3: Nếu các yếu tố làm giảm rủi ro đến mức chấp nhận được, KTV

chỉ cần ghi “không cần thêm các thủ tục kiểm tốn khác”. Nếu rủi ro còn

lại vẫn cao, KTV phải thiết kế các thủ tục kiểm toán cơ bản khác cho rủi

ro này.

Trường hợp KTV xác định có rủi ro có sai sót trọng yếu: Tổng hợp về

biểu KHKT và cân nhắc việc khơng áp dụng thử nghiệm kiểm sốt.

Trường hợp KTV không xác định được rủi ro nào ở giai đoạn này, thì sau

khi hồn thành việc ghi chép, thì kết luận: “Khơng nhận thấy có rủi ro có sai sót

trọng yếu về KSNB ở cấp độ DN được xác định”.

1.3.3. Mối quan hệ giữa thực hiện thủ tục phân tích và đánh giá rủi ro trong

giai đoạn lập kế hoạch kiểm tốn Báo cáo tài chính

Theo quy định chuẩn mực kiểm toán số 315: Xác định và đánh giá rủi ro

có sai sót trọng yếu thơng qua hiểu biết về đơn vị được kiểm tốn và mơi trường

của đơn vị. Thủ tục đánh giá rủi ro phải bao gồm các bước sau:

-



Phỏng vấn Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị mà theo



xét đoán của KTV có khả năng cung cấp thơng tin hỗ trợ cho việc xác định rủi ro

có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn.



35



-



Thực hiện thủ tục phân tích.



-



Quan sát và điều tra.



Các thủ tục phân tích sử dụng làm thủ tục đánh giá rủi ro có thể giúp KTV

xác định các đặc điểm của đơn vị mà KTV chưa biết và giúp đánh giá rủi ro có

sai sót trọng yếu để làm cơ sở cho việc thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm

toán đối với rủi ro đã đánh giá. Thủ tục phân tích sử dụng trong quy trình đánh

giá rủi ro có thể liên quan đến các thơng tin tài chính và phi tài chính, như mối

quan hệ giữa doanh thu và số lượng hàng bán.

Thủ tục phân tích có thể giúp KTV xác định sự tồn tại của các giao dịch,

sự kiện bất thường, các số liệu, tỷ trọng và xu hướng có thể là dấu hiệu của các

vấn đề có ảnh hưởng đến cuộc kiểm toán. Phát hiện được những mối quan hệ bất

thường và khơng mong đợi có thể giúp KTV xác định được rủi ro có sai sót

trọng yếu, đặc biệt là những rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận.

Tuy nhiên, khi thủ tục phân tích sử dụng những dữ liệu tổng hợp (như

trường hợp thực hiện thủ tục phân tích để đánh giá rủi ro), kết quả phân tích chỉ

cung cấp những thơng tin chung ban đầu về khả năng có thể xảy ra sai sót trọng

yếu. Do đó, việc xem xét những thơng tin khác đã thu thập được khi xác định rủi

ro có sai sót trọng yếu cùng với kết quả của thủ tục phân tích có thể giúp KTV

hiểu và đánh giá kết quả của thủ tục phân tích.

Với ý nghĩa đó, việc vận dụng thủ tục phân tích và đánh giá rủi ro trong

giai đoạn lập KHKT là một vấn đề quan trọng. Tuy nhiên, để có thể vận dụng tốt

các khái niệm này nhằm nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả của cuộc kiểm toán,

một yêu cầu được đặt ra đó là: KTV và cơng ty kiểm tốn phải xây dựng quy

trình thực hiện các thủ tục phân tích và đanh giá rủi ro hiệu quả, thích hợp với

những khách hàng khác nhau.



36



KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Thực hiện thủ tục phân tích và đánh giá rủi ro là một phần khơng thể thiếu

trong giai đoạn lập KHKT BCTC, góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán

BCTC. Trong Chương này, Tác giả đã khái quát được lý luận về thực hiện thủ

tục phân tích và đánh giá rủi ro, đồng thời, phân tích được bản chất của thực hiện

thủ tục phân tích, bản chất của RRKT, các loại hình RRKT và quy trình đánh giá

trọng yếu, RRKT trong giai đoạn lập KHKT BCTC. Từ đó, tác giả nêu lên được

mối quan hệ giữa phân tích và đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập KHKT BCTC.

Đây là những cơ sở lý luận quan trọng để xem xét, đánh giá thực tiễn công tác

thực hiện thủ tục phân tích và đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập KHKT BCTC

tại Công ty AASC. Từ đó tìm ra những tồn tại trong quy trình này và đề xuất

phương hướng, VSA cũng như các quy định pháp lý có liên quan.



37



CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN THỦ TỤC PHÂN TÍCH VÀ

ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH

KIỂM TỐN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CƠNG TY AASC

2.1. Giới thiệu về Cơng ty AASC

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Tên cơng ty : Cơng ty TNHH Hãng kiểm toán AASC

Tên tiếng Anh : AASC Auditing Firm Company Limited

Tên viết tắt : AASC

Công ty AASC được thành lập ngày 13/05/1991 do ơng Ngơ Đức Đồn làm

Tổng giám đốc theo Quyết định số 164 TC/TCCB của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

là thành viên của HLB quốc tế tại Việt Nam. AASC là Cơng ty Kế tốn Kiểm

toán được thành lập đầu tiên, giữ vững truyền thống sinh ra và trưởng thành từ

Bộ Tài chính - Việt Nam thực hiện các dịch vụ về Kiểm toán, Tư vấn Tài chính,

Kế tốn và Thuế.

Trải qua q trình chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang doanh

nghiệp hoạt động dưới sự quản lý của luật doanh nghiệp, đến năm 2007 công

ty đã đăng ký kinh doanh với số đăng ký 0102031353, số đăng ký này được

cấp ngày 02/07/2007 và người đại diện theo Pháp luật của công ty là Tổng

giám đốc Ngơ Đức Đồn.

Trụ sở chính của cơng ty: số 1 Lê Phụng Hiểu, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Số điện thoại ở trụ sở chính : 04.3824.1990

Cơng ty có 2 chi nhánh:

 Chi nhánh Tp. Hồ Chí Minh: số 17 sơng Thương, phường 2, quận Tân

Bình, số điện thoại : 08.3848.5983

 Chi nhánh tại Quảng Ninh: số 8, Chu Văn An, Tp. Hạ Long, số điện

thoại : 0333.627.571



38



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đánh giá rủi ro kiểm soát

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×