Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Rủi ro kiểm soát

Rủi ro kiểm soát

Tải bản đầy đủ - 0trang

thích hợp.

Để đánh giá RRKS KTV căn cứ vào sự hiểu biết và thực hiện đánh giá

KSNB theo các bước sau:

Bước 1: Thu thập hiểu biết về KSNB và mô tả chi tiết;

Bước 2: Đánh giá ban đầu về RRKS và lập kế hoạch cho từng khoản mục;

Bước 3: Thực hiện thử nghiệm kiểm soát;

Bước 4: Lập bảng đánh giá KSNB và đánh giá lại RRKS.

RRKS xuất phát từ KSNB của đơn vị. Do vậy, để đánh giá RRKS KTV

phải dựa vào sự hiểu biết về KSNB, cụ thể là các thành phần của KSNB.RRKS

ln tồn tại vì KSNB ln tồn tại những yếu kém, nguyên nhân là do:

 Môi trường kiểm sốt bị chi phối bởi mục đích của nhà quản lý: Tính

hữu hiệu của các kiểm sốt bị ảnh hưởng bởi các giá trị đạo đức và tính chính

trực của những người tạo ra, quản lý và giám sát các kiểm sốt đó. Tính chính

trực và hành vi đạo đức là sản phẩm của chuẩn mực về hành vi và đạo đức của

đơn vị cũng như việc truyền đạt và thực thi các chuẩn mực này trong thực tế.

Việc thực thi tính chính trực và các giá trị đạo đức bao gồm các nội dung như:

biện pháp của BGĐ để loại bỏ hoặc giảm thiểu các động cơ xúi giục nhân viên

tham gia vào các hành động thiếu trung thực, bất hợp pháp, hoặc phi đạo đức.

Việc truyền đạt các chính sách của đơn vị về tính chính trực và các giá trị đạo

đức có thể bao gồm truyền đạt tới nhân viên các chuẩn mực hành vi thơng qua

các chính sách của đơn vị, các quy tắc đạo đức và bằng tấm gương điển hình.

Mơi trường kiểm soát được xây dựng trên nền tảng mục tiêu và mong muốn của

nhà quản lý khi xây dựng KSNB, tạo nên tính minh bạch hiệu quả của mơi

trường kiểm sốt;

 Chỉ kiểm sốt được các nghiệp vụ thơng thường, khơng kiểm soát được

các nghiệp vụ bất thường;

 Khả năng sai phạm của con người như kiêm nhiệm, gian lận luôn có thể

xảy ra, các hoạt động kiểm sốt khơng thể ngăn chặn mọi sai phạm xảy ra, đặc

biệt là gian lận;



19



 Có sự thơng đồng giữa bên trong và bên ngồi.

Xuất phát từ chính đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và các

nhân tố của môi trường kinh doanh tác động tới doanh nghiệp mà nhà quản trị xây

dựng các hoạt động kiểm soát phù hợp nhằm hạn chế tối đa các sai phạm tới mức

chấp nhận được. Tuy nhiên, trong doanh nghiệp luôn tồn tại RRKS. Nguyên nhân

của RRKS bắt nguồn từ mơi trường kiểm sốt yếu kém của đơn vị, thiếu các thủ

tục kiểm soát hoặc thủ tục kiểm sốt vận hành khơng hữu hiệu như thiết kế. Dù

doanh nghiệp đầu tư rất nhiều trong thiết kế và vận hành hệ thống, thì vẫn khơng

thể có một KSNB hoàn toàn hữu hiệu. Bởi lẽ ngay cả khi có thể xây dựng được

một hệ thống hồn hảo về cấu trúc, thì tính hữu hiệu của hệ thống vẫn chịu tác

động bởi yếu tố chủ quan là cá thể con người tham gia vào quá trình vận hành hệ

thống đó, tức là phụ thuộc vào năng lực làm việc, tính đáng tin cậy của lực lượng

nhân sự…Nói cách khác, KSNB chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý giúp

hạn chế tối đa những sai phạm chứ không thể đảm bảo tuyệt đối các sai phạm

không xảy ra.

Ngày nay với sự phát triển của công nghệ thông tin phần lớn các doanh

nghiệp đều sử dụng phần mềm kế tốn, xử lý số liệu trong mơi trường tin học,

tuy có những thuận lợi như sẽ ít gặp sai lầm trong tính tốn, số tổng cộng và số

dư được cập nhật thường xuyên, tiết kiệm thời gian, nhân lực… nhưng bên cạnh

đó lại xuất hiện các RRKS khác với mơi trường thủ cơng như:

 Kế tốn viên cố tình nhập liệu sai nên kết quả sai;

 Lập trình sai lầm sẽ gây tác động dây truyền đến các số liệu khác khi xử

lý tự động;

 Tuy xử lý dữ liệu bằng phương pháp điện tử, nhưng đơn vị không tách

rời giữa các chức năng như chức năng khai thác và chức năng kiểm soát;

 Việc bảo mật chưa tốt nên thường khơng ngăn chặn được người ngồi

thâm nhập vào hệ thống thơng tin. Thí dụ như đơn vị không sử dụng các mật

khẩu; không quan tâm bảo vệ phòng máy tính, hay các phầm mềm đĩa từ…

Do đó, đòi hỏi KTV phải có sự hiểu biết cần thiết về mơi trường tin học và



20



ảnh hưởng của nó để đánh giá sự hữu hiệu của KSNB trong môi trường tin học.

b.



Rủi ro phát hiện

RRPH: Là rủi ro mà trong q trình kiểm tốn, các thủ tục mà kiểm tốn



viên thực hiện nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán xuống tới mức thấp có thể chấp

nhận được nhưng vẫn khơng phát hiện được hết các sai sót trọng yếu khi xét riêng

lẻ hoặc tổng hợp lại.

RRPH được xác định từ ba loại rủi ro: RRKT mong muốn, RRTT và

RRKS. Ba loại rủi ro này thay đổi theo từng khoản mục do đó rủi ro phát hiện

cũng cần được xác định cho từng khoản mục và là căn cứ để KTV xác định nội

dung, lịch trình và phạm vi thử nghiệm cơ bản sẽ thực hiện nhằm thu thập đầy

đủ các bằng chứng kiểm tốn thích hợp trên cơ sở chi phí kiểm tốn thấp nhất, từ

đó duy trì và nâng cao được chất lượng kiểm toán

Như vậy, RRPH là xác suất các thủ tục kiểm tốn của KTV khơng thể phát

hiện các sai phạm trọng yếu trên BCTC. Mức độ của RRPH có quan hệ mật thiết

với những phương pháp kiểm toán và các bằng chứng kiểm toán mà KTV thu

thập được. Trong thực tế, RRPH vẫn có thể xuất hiện cho dù KTV đã thực hiện

kiểm tra 100% số dư của các tài khoản và các nghiệp vụ phát sinh. RRPH có

nguyên nhân bắt nguồn trực tiếp từ nội dung, thời gian và phạm vi của các thử

nghiệm cơ bản đã được thực hiện. Thông thường mức RRPH sẽ giảm xuống nếu

KTV tăng các thử nghiệm cơ bản trên số dư hoặc nghiệp vụ, mở rộng phạm vi

kiểm tra hoặc tăng cường cỡ mẫu của các thử nghiệm.

Các nhân tố ảnh hưởng đến RRPH

 Do chọn mẫu: rủi ro do KTV chọn mẫu mà mẫu không đại diện cho

tổng thể được kiểm toán, việc này dẫn đến kết luận của KTV dựa trên kết quả

mẫu khác với kết quả của tổng thể;

 Khơng do chọn mẫu: RRKT vẫn có thể xảy ra cho dù KTV đã kiểm tra

100% số dư và nghiệp vụ, đó là do KTV đã sử dụng sai hoặc khơng phù hợp

phương pháp kiểm tốn hoặc giải thích sai, nhận định sai về kết quả kiểm tra. Cụ



21



thể:

 Phạm vi kiểm toán: Phạm vi kiểm toán càng rộng thì khả năng phát

hiện gian lận, sai sót càng thấp khi đó RRPH là cao;

 Phương pháp kiểm toán: Nếu phương pháp kiểm toán được lựa chọn

là phù hợp và khoa học thì khả năng phát hiện sai phạm tăng, khi đó RRPH là

thấp;

 Trình độ, kinh nghiệm và khả năng xét đoán của KTV: Việc xác định

phạm vi kiểm toán, phương pháp kiểm toán phụ thuộc rất nhiều vào trình độ,

kinh nghiệm và khả năng xét đốn của KTV, KTV có trình độ cao, có nhiều kinh

nghiệm và khả năng xét đốn tốt thì sẽ lựa chọn phương pháp kiểm toán phù

hợp, điều chỉnh phạm vi kiểm tốn khi cần thiết và từ đó phát hiện và ngăn ngừa

các sai phạm một cách hiệu quả. Trong trường hợp này RRPH là thấp.

1.3. Thủ tục phân tích và đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm

tốn Báo cáo tài chính

1.3.1. Thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm tốn Báo cáo tài

chính

Khi thực hiện thủ tục phân tích trong giai đoạn lập KHKT, KTV cần tìm

hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng để có cái nhìn tổng

qt và đầy đủ, từ đó có thể đưa ra đánh giá về những ảnh hưởng trọng yếu đến

BCTC của khách hàng. Đồng thời xem xét lại kết quả của cuộc kiểm tốn trước,

hồ sơ kiểm tốn chung từ đó nắm bắt được những sai sót cố hữu trong cơng tác

kế tốn cũng như thấy được các thơng tin hữu ích về tình hình kinh doanh của

khách hàng, các thơng tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng như BCTC, báo

cáo kiểm toán, biên bản thanh tra, kiểm tra năm trước, biên bản họp cổ đông, hội

đồng quản trị, báo cáo thuế.... Việc lập kế hoạch giúp KTV phối hợp hiệu quả

với nhau, cũng như các bộ phận liên quan. KHKT thích hợp giúp cơng ty tránh

xảy ra những bất đồng với khách hàng, đồng thời rà soát, đánh giá được cơng

việc đã và đang thực hiện, khi có đẩy đủ thông tin, KTV tiến hành thực hiện các



22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Rủi ro kiểm soát

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×