Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN THỦ TỤC PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN THỦ TỤC PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Tải bản đầy đủ - 0trang

 KHKT sẽ thay đổi tùy theo quy mô khách hàng, tính chất phức tạp của

cơng việc kiểm tốn, kinh nghiệm và những hiểu biết của KTV về đơn vị và hoạt

động của đơn vị được kiểm toán. (đoạn 09 – VSA 300).

Khi lập KHKT, KTV phải hiểu biết về hoạt động của đơn vị được kiểm toán để

nhận biết được các sự kiện, nghiệp vụ có thể ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC.

(đoạn 10 – VSA 300).

KHKT bao gồm 3 bộ phận:

 Chiến lược kiểm toán tổng thể (đoạn 7,8 - VSA 300)

 KHKT chi tiết (đoạn 9 – VSA300)

 Chương trình kiểm tốn

Chiến lược kiểm tốn tổng thế

KTV phải xây dựng chiến lược kiểm toán tổng thể để xác định phạm vi,

lịch trình, định hướng của cuộc kiểm toán và để làm cơ sở lập KHKT

Nội dung chiến lượng kiểm toán tổng thể thường bao gồm:

- Xác định đặc điểm của cuộc kiểm toán nhằm xác định phạm vi kiểm

toán;

- Xác định mục tiêu báo cáo của cuộc kiểm tốn nhằm thiết lập lịch trình

kiểm tốn và u cầu trao đổi thông tin;

- Xem xét các yếu tố mà theo xét đốn chun mơn của KTV là có vai

trò quan trọng trong việc xác định cơng việc trọng tâm của nhóm kiểm tốn;

- Xem xét kết quả của các thủ tục ban đầu của cuộc kiểm toán cũng như

những hiểu biết mà thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán

đã thu được từ việc cung cấp các dịch vụ trước đây cho đơn vị được kiểm tốn

đó có phù hợp với cuộc kiểm tốn này khơng;

- Xác định nội dung, lịch trình và phạm vi các nguồn lực cần thiết để

thực hiện cuộc kiểm toán.



8



Để kiểm toán các đơn vị nhỏ, chỉ cần một nhóm kiểm tốn nhỏ. Các cuộc kiểm

tốn loại này có thể chỉ do một thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể

cuộc kiểm toán và một KTV hành nghề thực hiện.Với một nhóm kiểm tốn nhỏ,

sự liên hệ và trao đổi giữa các thành viên trong nhóm được thực hiện dễ dàng

hơn. Xây dựng chiến lược kiểm toán tổng thể cho cuộc kiểm tốn nhỏ khơng cần

phải phức tạp và mất nhiều thời gian, được thay đổi theo quy mơ của từng đơn vị

được kiểm tốn, độ phức tạp của cuộc kiểm tốn và quy mơ của nhóm kiểm

tốn. Ví dụ, một bản ghi nhớ tóm tắt được lập khi kết thúc cuộc kiểm toán năm

trước, dựa vào việc soát xét các giấy tờ làm việc và các vấn đề nổi bật đã được

xác định trong cuộc kiểm toán vừa hoàn thành, được cập nhật trong kỳ hiện tại

dựa vào việc thảo luận với người đứng đầu đơn vị được kiểm tốn, có thể được

sử dụng như là chiến lược kiểm toán cho cuộc kiểm toán hiện tại

Kế hoạch kiểm chi tiết

KHKT được lập chi tiết hơn so với chiến lược kiểm toán tổng thể, bao

gồm nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm tốn sẽ được các thành

viên của nhóm kiểm tốn thực hiện. Việc lập KHKT được thực hiện trong suốt

q trình kiểm tốn.Ví dụ, lập kế hoạch cho các thủ tục đánh giá rủi ro được thực

hiện khi bắt đầu cuộc kiểm toán. Tuy nhiên, lập kế hoạch cho nội dung, lịch trình

và phạm vi của thủ tục kiểm toán cụ thể tiếp theo lại phụ thuộc vào kết quả của

thủ tục đánh giá rủi ro. Ngồi ra, KTV có thể bắt đầu thực hiện một số thủ tục

kiểm toán cho một số giao dịch, số dư tài khoản và thuyết minh trước khi lập kế

hoạch cho tất cả các thủ tục kiểm tốn còn lại.

- Nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục đánh giá rủi ro theo quy

định và hướng dẫn tại VSA 315;

- Nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo ở

cấp độ cơ sở dẫn liệu theo quy định và hướng dẫn tại VSA 330;

- Các thủ tục kiểm toán bắt buộc khác để đảm bảo cuộc kiểm toán tuân



9



thủ các VSA (xem hướng dẫn tại đoạn A12 Chuẩn mực này

Chương trình kiểm tốn

Chương trình kiểm tốn là một bảng liệt kê, chỉ dẫn các thủ tục kiểm toán

chi tiết tương ứng với mục tiêu kiểm toán của các cơng việc kiểm tốn cụ thể

được sắp xếp theo một trình tự nhất định.

Lập KHKT là giai đoạn đầu tiên mà KTV cần thực hiện trong mỗi cuộc

kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như các điều kiện cần thiết

khác cho kiểm tốn. Lập KHKT khơng chỉ xuất phát từ u cầu chính của cuộc

kiểm tốn mà còn là ngun tắc cơ bản trong cơng tác kiểm tốn đã được quy

định thành chuẩn mực, có vai trò quan trọng, chi phối tới chất lượng và hiệu quả

chung của tồn bộ cuộc kiểm tốn.

Ngun tắc kiểm tốn quốc tế thứ ba – các nguyên tắc cơ bản xuyên suốt

cuộc kiểm toán – do IAPC (Ủy ban thực hành kiểm toán quốc tế ban hành) quy

định: “KTV phải lập KHKT để trợ giúp cho cơng việc kiểm tốn tiến hành có

hiệu quả, đúng thời gian. KHKT phải dựa trên cơ sở các hiểu biết về đặc điểm

kinh doanh của khách hàng”.

Tại đoạn 02, Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 300 quy định: “Chuyên

gia kiểm toán cần lập KHKT để có thể đảm bảo rằng cuộc kiểm tốn đó được

tiến hành một cách có hiệu quả”.

Tại đoạn 02 VSA 300 quy định: “KTV và cơng ty kiểm tốn phải lập

KHKT để đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành một cách có hiệu quả”.

Ba lý do chính khiến KTV cần phải lập KHKT một cách đúng đắn:

 Giúp KTV thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp,

 Tiết kiệm chi phí kiểm tốn,

 Tránh được sự bất đồng quan điểm với khách hàng.



10



Thứ nhất: KHKT giúp KTV thu thập được bằng chứng kiểm toán đầy đủ

và thích hợp. Đây là ý nghĩa quan trọng nhất của KHKT. Từ KHKT, KTV xác

định được những vấn đề trọng tâm cần lưu ý, những điểm mấu chốt trong kiểm

tốn. Từ đó tập trung kiểm tra, thu thập đầy đủ những bằng chứng có giá trị

nhằm giải tỏa nghi ngờ cho các vấn đề trên, giúp cho KTV đưa ra ý kiến nhận

xét thích hợp về BCTC được kiểm tốn, hạn chế rủi ro và giữ vững uy tín nghề

nghiệp đối với KH.

Thứ hai: KHKT giúp giữ chi phí kiểm tốn ở mức hợp lý. Bởi vì KHKT

giúp các KTV phối hợp hiệu quả với nhau và với các bộ phận liên quan như:

KTV nội bộ và các chuyên gia bên ngoài… Đồng thời, qua sự phối hợp hiệu quả

đó, KTV có thể tiến hành cuộc kiểm tốn theo đúng chương trình đã lập với các

chi phí và thời gian ở mức hợp lý, tăng cường sức cạnh tranh cho cơng ty kiểm

tốn và giữ uy tín với KH trong mối quan hệ làm ăn lâu dài.

Thứ ba: KHKT thích hợp sẽ là căn cứ để cơng ty kiểm toán tránh xảy ra

những bất đồng với KH và là minh chứng rõ ràng để khẳng định cuộc kiểm toán

đã được tiến hành hợp lý và có hiệu quả. Trên cơ sở KHKT đã lập, KTV thống

nhất với KH về nội dung công việc thực hiện, thời gian tiến hành kiểm tốn cũng

như trách nhiệm của mỗi bên.

Do đó để lập được KHKT, KTV phải dựa trên cơ sở các chuẩn mực kiểm

toán về lập KHKT (VSA 300) và những thỏa thuận, hợp đồng ký kết với khách

hàng.

1.2. Lý luận chung về thực hiện thủ tục phân tích và đánh giá rủi ro trong

giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính

1.2.1. Lý luận chung về thủ tục phân tích trong giai đoạn lập Kế hoạch kiểm

tốn Báo cáo tài chính

Khái niệm



11



Theo VSA 520 thì “Thủ tục phân tích được hiểu là việc đánh giá thơng tin

tài chính, qua việc phân tích các mối quan hệ hợp lý giữa dữ liệu tài chính và phi

tài chính”.

Một trong các cơng cụ hữu ích, giúp KTV thu thập bằng chứng kiểm toán

cũng như đưa ra các kết luận kiểm toán phù hợp, giảm thiểu rủi ro kiểm toán

đáng kể mà các cơng ty kiểm tốn Việt Nam ngày nay đang hướng đến, trong

cuộc kiểm toán BCTC là thủ tục phân tích. Đây là thủ tục kiểm tốn khá đơn

giản, ít tốn kém thời gian, chi phí nên nếu vận dụng tốt thủ tục phân tích sẽ giúp

KTV và các cơng ty kiểm tốn tiết kiệm thời gian, chi phí. Đồng thời, giúp cuộc

kiểm toán được thực hiện một cách khoa học, hiệu quả. Chính vì vai trò, ý nghĩa

to lớn trên của thủ tục phân tích nên việc tăng cường nghiên cứu và vận dụng

phương pháp này một cách đúng đắn, khoa học là cần thiết, khách quan và phù

hợp với xu thế kiểm toán trên thế giới.

Như vậy, thủ tục phân tích là q trình đánh giá thơng tin tài chính được

thực hiện thơng qua việc nghiên cứu các mối quan hệ đáng tin cậy giữa các chỉ

tiêu tài chính và phi tài chính, …Bao gồm cả q trình so sánh số liệu phản ánh

trên sổ sách với số liệu ước tính của KTV. Thủ tục phân tích cũng bao gồm việc

điều tra, khi cần thiết, về các biến động hoặc các mối quan hệ được xác định là

không nhất quán với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch đáng kể

so với các giá trị dự tính.

Vai trò của thủ tục phân tích trong giai đoạn lập KHKT

Thủ tục phân tích là một cơng cụ hữu dụng, để đưa ra các quyết định khi

BCTC có chứa các mối quan hệ cũng như những khoản mục bất thường.Thủ tục

phân tích có thể được tiến hành từ việc so sánh một cách cơ bản các khoản mục

đến phân tích phức tạp để tìm ra những biến động bất thường.



12



Thủ tục phân tích có vai trò và ý nghĩa quan trọng, trong cả ba giai đoạn

của cuộc kiểm toán BCTC. Nếu như trong giai đoạn lập KHKT, KTV vận dụng

thủ tục phân tích như các thủ tục đánh giá rủi ro nhằm xác định, khoanh vùng

các rủi ro có sai sót trọng yếu trên BCTC thì trong giai đoạn thực hiện kiểm toán,

KTV vận dụng thủ tục phân tích như một biện pháp xử lý các rủi ro đã được xác

định trong giai đoạn lập kế hoạch. Và cuối cùng, trong giai đoạn kết thúc kiểm

toán, KTV tiếp tục sử dụng phương pháp này để đánh giá sự biến động của các

bộ phận, khoản mục sau khi được điều chỉnh trên BCTC có nhất quán với hiểu

biết của KTV hay không.

Trong giai đoạn lập KHKT, thủ tục phân tích được sử dụng như một cơng

cụ định hướng nhằm xác định bản chất, thời gian và phạm vi của các thử nghiệm

cơ bản. Mục tiêu của việc sử dụng các thủ tục phân tích trong giai đoạn này là để

tăng thêm sự hiểu biết của KTV về khách hàng được kiểm toán và giúp KTV xác

định những rủi ro kiểm toán cụ thể bằng cách cân nhắc đánh giá các số dư tài

khoản có biến động bất thường hoặc ngồi mong đợi. Các thủ tục phân tích được

sử dụng trong giai đoạn lập KHKT có thể bao gồm các kỹ thuật sau đây: So sánh

số dư trên bảng cân đối chưa được điều chỉnh của năm nay với số dư đã được

điều chỉnh của năm trước.

Ước tính các chỉ tiêu có biến động đáng kể: như so sánh chỉ tiêu năm nay

với chỉ tiêu bình qn ngành.

Ước tính các chỉ tiêu dựa trên các thơng tin tài chính và thơng tin phi tài

chính. Ví dụ, số lượng sản phẩm sản xuất với cơng suất máy móc, thiết bị...¦

Phân tích hồi quy

KTV sử dụng các kỹ thuật so sánh tương đối đơn giản trong khâu lập

KHKT như phân tích tỷ suất và phân tích xu hướng. Thực tế cho thấy, hầu hết

các KTV thực hiện kỹ thuật phân tích xu hướng nhiều hơn vì việc thực hiện thủ

tục này tỏ ra đơn giản, mất ít thời gian hơn thủ tục phân tích tỷ suất. Tuy nhiên,

cần khẳng định rằng thủ tục phân tích xu hướng chỉ phản ánh được sự biến động



13



của các chỉ tiêu mà không thể phản ánh đầy đủ mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trên

BCTC. Do đó, KTV cần phải sử dụng kết hợp linh hoạt hai thủ tục này trong giai

đoạn lập KHKT mới có thể đem lại hiệu quả cao nhất.

1.2.2. Lý luận chung về đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế

hoạch kiểm tốn Báo cáo tài chính

Lý luận chung về rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán

Rủi ro thường được hiểu là một điều không may mắn, xảy ra không như

mong muốn đặt ra. Trong sản xuất kinh doanh, người ta thường đề cập tới rủi ro

kinh doanh. Bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng chứa đựng rủi

ro kinh doanh và có thể xảy ra tại mọi thời điểm với mức độ lớn hoặc nhỏ. Như

vậy, xét về mặt bản chất, rủi ro kinh doanh là những rủi ro trong hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp.

Theo VSA 315 về xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thơng qua

hiểu biết về đơn vị được kiểm tốn và mơi trường của đơn vị thì: “Rủi ro kinh

doanh: Là rủi ro phát sinh từ các điều kiện, sự kiện, tình huống, việc thực hiện hay

khơng thực hiện các hành động có ảnh hưởng đáng kể mà có thể dẫn đến ảnh

hưởng bất lợi tới khả năng đạt được mục tiêu và thực hiện được chiến lược kinh

doanh của đơn vị, hoặc là rủi ro phát sinh từ việc xác định mục tiêu và chiến lược

kinh doanh không phù hợp”. Mục tiêu của KTV và doanh nghiệp kiểm toán là xác

định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn ở cấp độ

BCTC và cấp độ cơ sở dẫn liệu, thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm tốn và

mơi trường của đơn vị, trong đó có kiểm sốt nội bộ, từ đó cung cấp cơ sở cho việc

thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý đối với rủi ro có sai sót trọng yếu đã được

đánh giá. Vì vậy, KTV phải xem xét việc chấp nhận khách hàng mới hay duy trì

khách hàng hiện tại có làm tăng rủi ro cho hoạt động cũng như uy tín của KTV và

cơng ty kiểm tốn hay khơng. KTV thực hiện tìm hiểu hoạt động kinh doanh, mơi

trường kinh doanh của doanh nghiệp, tính liêm chính của BGĐ để nhận diện các rủi

ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ đó đánh giá rủi ro khi chấp



14



nhận hợp đồng kiểm toán. Tuy nhiên, KTV chỉ có thể đánh giá rủi ro kinh doanh và

quyết định có chấp nhận hay khơng đối với hợp đồng kiểm tốn mà khơng thể trực

tiếp kiểm sốt được rủi ro kinh doanh mặc dù đã thực hiện đánh giá rủi ro chấp

nhận hợp đồng kiểm toán trước khi chấp nhận một khách hàng mới hay duy trì

khách hàng cũ.

Lý luận chung về rủi ro kiểm toán

Theo VSA 200 Mục tiêu tổng thể của KTV. RRKT là rủi ro do KTV đưa

ra ý kiến kiểm tốn khơng phù hợp khi BCTC đã được kiểm tốn còn chứa đựng

sai sót trọng yếu. RRKT là hệ quả của rủi ro có sai sót trọng yếu (gồm RRTT,

RRKS) và RRPH;

Như vậy, RRKT trước hết là một loại rủi ro và nó xảy ra khi KTV đã thực

hiện các thủ tục kiểm tốn cần thiết nhưng vẫn khơng thể phát hiện được toàn bộ

các sai phạm trên BCTC dẫn tới việc KTV đưa ra ý kiến kiểm tốn khơng phù

hợp với các thông tin đưa ra trên BCTC của đơn vị được kiểm toán. Và các sai

phạm chưa được phát hiện trên BCTC lại là các sai phạm trọng yếu có ảnh

hưởng đáng kể tới quyết định của người sử dụng thông tin trên BCTC.

RRKT thường xảy ra theo hướng: BCTC có những sai phạm trọng yếu,

nhưng KTV không phát hiện được, do đó đưa ra ý kiến chấp nhận tồn bộ đối với

BCTC. Trong trường hợp này ý kiến chấp nhận tồn phần là khơng phù hợp có thể

gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyết định của người sử dụng thông tin trên

BCTC.

RRKT luôn tồn tại do: khả năng thực tế của KTV, do giới hạn về thời gian và

chi phí kiểm toán, do kỹ thuật chọn mẫu kiểm toán đưa ra mẫu chọn không đại diện

và không phù hợp và việc phát hiện gian lận là khó hơn phát hiện sai sót. Những

người sử dụng thơng tin trên BCTC ln u cầu thơng tin nhận được là chính xác

và chỉ chấp nhận mức RRKT thấp, từ đó đòi hỏi KTV phải nỗ lực trong cơng việc

để có được một mức RRKT ở mức thấp nhất có thể chấp nhận được. Nếu KTV

mong muốn một tỷ lệ RRKT thấp, có nghĩa là kết luận kiểm tốn có độ tin cậy cao,



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN THỦ TỤC PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×