Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Mô hình ABC tại Công ty Mason & Cox ở Australia:

- Mô hình ABC tại Công ty Mason & Cox ở Australia:

Tải bản đầy đủ - 0trang

23



Mason & Cox là tập đoàn sản xuất sản phẩm đúc lớn nhất ở Australia, sản

xuất sản phẩm chủ yếu là các sản phẩm đúc kim loại cho các ngành cơng nghiệp

như khai khống, sản xuất xi măng. Cơng ty có hai dòng sản phẩm chính là sản

phẩm sản xuất hàng loạt và sản xuất theo yêu cầu của khách hàng.

Khái quát quá trình sản xuất ở Mason & Cox:

Bước 1. Thiết kế mẫu sản phẩm.

Bước 2. Làm các khuôn đúc dựa theo mẫu.

Bước 3. Nấu chảy kim loại và đổ vào khuôn đúc.

Bước 4. Lấy sản phẩm đúc ra khỏi khn và chuyển đến bộ phận hồn thiện

sản phẩm.

Bước 5. Tại bộ phận hoàn thiện sản phẩm, sản phẩm đúc được làm nhẵn bằng

máy chun dụng.

Mơ hình phương pháp ABC được áp dụng tại Công ty cụ thể như sau:

- Bước 1: Đo lường chi phí cho các hoạt động tức là phân bổ chi phí các

nguồn lực đến các hoạt động.

Chi phí phát sinh sẽ được phân bổ đến các trung tâm hoạt động sau đó sẽ

được phân bổ tiếp đến các hoạt động.

Có bốn dạng hoạt động chính là:

+ Hoạt động ở mức độ lơ (batch level activities)

+ Hoạt động ở mức độ đơn vị sản phẩm unit level activities)

+ Hoạt động ở mức độ dòng sản phẩm (product level activities)

+ Hoạt động ở mức độ duy trì doanh nghiệp facylity level activities)

Phân bổ chi phí đến các trung tâm hoạt động. Công ty được chia thành các

trung tâm hoạt động, mỗi trung tâm hoạt động có cùng mục đích.

Tại Cơng ty Mason & Cos được chia thành 9 trung tâm hoạt động, gồm: điều

hành doanh nghiệp (Corporate Management), quản lý (Administration), bán hàng,

quản lý phân xưởng (Factory management), nấu chảy kim loại, làm khn đúc,

hồn thiện sản phẩm, thiết kế mẫu sản phẩm, bảo dưỡng sản phẩm.



24



Tiếp đó, phân bổ chi phí đến mỗi trung tâm hoạt động theo một tiêu thức

nguồn lực. Những chi phí có cùng nguồn gốc và do cùng một nhân tố biến đổi chi

phí được tập hợp lại thành một mục chi phí để đơn giản hóa cho việc phân bổ.

Bước 2: Phân bổ chi phí hoạt động đến các sản phẩm

Việc này bao gồm tính chi phí hoạt động trên mỗi đơn vị tiêu thức hoạt động

và sau đó xây dựng một bản giải trình hoạt động cho mỗi sản phẩm.

- Tính chi phí hoạt động trên mỗi đơn vị tiêu thức hoạt động khi xác định các

hoạt động ở bước trước, họ đã xác định được các tiêu thức phân bổ cho mỗi hoạt

động.....

Xác định lượng tiêu thức phân bổ từ đó tính chi phí hoạt động cho mỗi một

đơn vị tiêu thức phân bổ.

Đối với một số hoạt động như "thiết kế mẫu sản phẩm, kiểm tra mẫu sản

phẩm" liên quan trực tiếp đến từng sản phẩm cụ thể có thể được tập hợp ngay vào

những sản phẩm đó.

Để lựa chọn các tiêu thức hoạt động họ đã xem xét mức độ quan hệ giữa chi

phí của một hoạt động và tiêu thức hoạt động; chi phí của việc thu thập và xử lý

thông tin về tiêu thức hoạt động đó. Tất cả các hoạt động "điều hành doanh nghiệp"

là hoạt động ở mức độ duy trì doanh nghiệp và không xác định được tiêu thức phân

bổ. Hoạt động "quản lý phân xưởng" cũng là hoạt động ở mức độ duy trì doanh

nghiệp, nhưng ở Mason & Cox quyết định phân bổ chi phí của hoạt động này đến

sản phẩm vì họ muốn tính giá thành sản phẩm bao gồm chi phí tất cả các hoạt động

sản xuất, tiêu thức phân bổ là giờ công lao động

- Chuẩn bị một giải trình các hoạt động cho mỗi sản phẩm (bill of activities for

each product).

Giải trình gồm việc xác định các hoạt động liên quan đến sản phẩm, chi phí

hoạt động trên mỗi đơn vị tiêu thức hoạt động, số lượng tiêu thức hoạt động, tổng

chi phí hoạt động cho mỗi sản phẩm.



25



- Mơ hình ABC với mục đích quản lý hoạt động hay còn gọi là mơ hình quản lý

dựa theo hoạt động( Activity based management - ABM)

Công ty đã thấy rằng hệ thống kế toán hiện hành khơng chỉ làm sai lệch giá

thành sản phẩm mà còn làm cho các nhà quản lý đưa ra các quyết định sai lầm.

Chính điều này đã làm giảm khả năng cạnh tranh của công ty.

Mason & Cox đã sử dụng ABM để cắt giảm chi phí: bao gồm 4 bước:

Bước 1: xác định các cơ hội chủ yếu để giảm chi phí;

Bước 2: xác định nguyên nhân chính phát sinh những chi phí đó;

Bước 3: đưa ra các biện pháp để giảm các nguyên nhân đó, từ đó làm giảm chi

phí;

Bước 4: đưa ra các thước đo sự thực hiện để giám sát sự hiệu quả của việc cắt

giảm chi phí.

Bước 1: Xác định các cơ hội chủ yếu để giảm chi phí

Để xác định các cơ hội cắt giảm chi phí, họ phân loại các hoạt động thành hoạt

động làm tăng giá trị sản phẩm và hoạt động không làm gia tăng giá trị sản phẩm.

Hoạt động làm gia tăng giá trị là các hoạt động tạo ra các giá trị chủ yếu cho khách

hàng hoặc các hoạt động chức năng của doanh nghiệp. Hoạt động gia tăng giá trị

gồm:

- Hoạt động sản xuất cơ bản: được phân bổ đến sản phẩm cuối cùng như làm

khuôn, đổ kim loại nóng chảy...

- Hoạt động quản lý cần thiết như: quản lý doanh nghiệp, chuẩn bị báo cáo

hàng năm..

Hoạt động không làm gia tăng giá trị là các hoạt động không tạo thêm giá trị

cho sản phẩm và dịch vụ. Vì vậy ta phải tìm cách cắt giảm các hoạt động đó. Trong

các doanh nghiệp thì hoạt động khơng làm gia tăng giá trị thường là hoạt động chờ

đợi, kiểm tra, làm lại và các sự vận chuyển và bảo quản các hàng tồn kho không cần

thiết. Tại Mason & Cox, các hoạt động không tạo thêm giá trị chiếm đến 18% tổng

chi phí.



26



Để phân tích và tìm ra các biện pháp để giảm các hoạt động không làm gia

tăng giá trị đòi hỏi một nguồn lực đáng kể. Mason & Cox đã xác định các hoạt động

chính khơng làm gia tăng giá trị là hoạt động " kiểm tra khuôn đóc", "mài vật đóc",

"hàn các lỗi trên vật đóc", " vận chuyển nguyên vật liệu", " xúc tiến sản phẩm". 5

hoạt động này đã chiếm 2/3 tổng chi phí của các hoạt động không làm gia tăng giá

trị.

Bước 2: Xác định ngun nhân chính phát sinh những chi phí đó

Để giảm chi phí cho các hoạt động khơng làm gia tăng thêm giá trị, họ đã xác

định nguyên nhân chính phát sinh chi phí và tìm biện pháp để giảm các ngun

nhân đó. Họ bắt đầu bằng cơng việc xây dựng các hoạt động của cơng ty theo một

chu trình.

Xây dựng các hoạt động thành một chu trình: để giảm được các hoạt động

không làm gia tăng thêm giá trị đòi hỏi phải có một sự hiểu biết sâu sắc về các cơng

việc ở trong cơng ty. Phải có sự hiểu biết thấu đáo thì mới xác định được đối với

mỗi hoạt động, hoạt động nào trước nó cung cấp đầu vào cho nó, hoạt động nào sau

nó mà tiêu dùng đầu ra của nó. Những thơng tin này có thể dùng để liên kết các hoạt

động với nhau thành một chu trình. Một chu trình là một chuỗi các hoạt động kết

nối với nhau để đạt được mục tiêu riêng. Một chu trình đầy đủ về một đơn hàng sản

xuất sản phẩm "custom-made casting" tại Mason & Cox được minh họa như sau:

Thiết kế phương pháp--> làm mẫu ---->làm khn đóc--> làm tâm khn -->

kiểm tra khn--> vận chuyển ngun liệu----> rót kim loại vào khn----> dùng

oxy cắt vật đóc ra khỏi khn--> mài sản phẩm -->hàn sản phẩm -->xếp đặt lò xử lý

hơi--> vận hành lò----> q trình xử lý các đơn đặt hàng--> quá trình xử lý các

khoản phải thu.

Các hoạt động được biểu diễn thành một chu trình giúp cho việc xác định các

tiêu thức ( nguyên nhân phát sinh chi phí) và thiết lập các chỉ tiêu đo lường sự hoạt

động. Sử dụng chu trình giúp làm đơn giản hóa q trình quản lý hoạt động, có thể

tập trung quản lý các chu trình hoạt động hơn là các hoạt động chi tiết. Các hoạt



27



động trong cùng một chu trình có thể có cùng các nhân tố kích thích chi phí và chỉ

tiêu đo lường sự hoạt động.

Phân tích các nhân tố kích thích chi phí (cost driver): họ đã dùng phương pháp

phân tích nhân tố kích thích chi phí để xác định nhân tố chủ yếu gây phát sinh chi

phí cho 5 hoạt động chính khơng làm tăng thêm giá trị. Nó bao gồm việc phân tích

sâu các hoạt động và q trình gây ra để xác định cái thật sự là nguyên nhân làm

phát sinh hành động. Ví dụ số lỗi từ giai đoạn dùng oxy để tách vật đóc khỏi khn

đóc, đã dẫn đến hoạt động "mài sản phẩm đóc" và "hàn vết lỗi trên sản phẩm". Vết

lỗi có thể là chỗ lồi hoặc lõm trên sản phẩm, nhưng đây có phải là ngun nhân

chính khơng? Ngun nhân chính gây ra các lỗi đó là: kim loại có nhiều tạp chất

hay tại khn đóc khơng đảm bảo chất lượng. Nếu kim loại còn chứa nhiều tạp chất

là vấn đề chính, thì cơng ty nên tìm một nhà cung cấp mới hay trao đổi các điều

khoản khắt khe hơn với nhà cung cấp. Để tìm ra nguyên nhân cốt lõi gây phát sinh

chi phí ta phải đặt ra liên tiếp các câu tại sao, và tìm câu trả lời cho nó

Phân tích các nhân tố chính gây phát sinh chi phí cho tất cả các hoạt động: để

cắt giảm chi phí, một vài doanh nghiệp xác định các nhân tố chính gây phát sinh chi

phí cho tất cả các hoạt động chứ khơng chỉ tập trung vào các hoạt động không làm

gia tăng thêm giá trị. Hiểu và quản lý được nguyên nhân thực sự của hoạt động làm

gia tăng thêm giá trị có thể làm cho các hoạt động được làm tốt hiệu quả hơn. Ví dụ

hoạt động " dùng oxy để cắt sản phẩm đóc ra khỏi khn" là một hoạt động làm gia

tăng giá trị, cái hoạt động lấy sản phẩm đóc ra khỏi khn là một phần cần thiết của

chu trình sản xuất sản phẩm, tuy nhiên có một vài sản phẩm đã bị vỡ trong quá trình

cắt này. Bằng phương pháp phân tích hoạt động ta có thể giúp cho việc giảm chi phí

của hoạt động này thơng qua việc xác định nhân tố chủ yếu làm sản phẩm bị vỡ.

Tuy nhiên trong việc phân tích hoạt động làm gia tăng thêm giá trị, cần phải xem

xét xem nhân tố nào là tích cực nhân tố nào là tiêu cực trong mối quan hệ với lợi

nhuận. Ví dụ "số khách hàng " là nhân tố gây phát sinh chi phí đối với hoạt động

làm gia tăng giá trị "xử lý các khoản phải thu" tại trung tâm quản lý. Giảm số khách



28



hàng sẽ làm giảm chi phí của hoạt động "xử lý các khoản phải thu" nhưng nó cũng

có thể làm giảm doanh thu bán hàng và lợi nhuận có thể sẽ giảm nhiều hơn tăng.

Việc quyết định xem hoạt động nào nên phân tích dựa vào sự xem xét giữa

chi phí và lợi ích. Một sự cải thiện nhỏ hiệu quả của những hoạt động làm gia tăng

giá trị lớn có thể tiết kiệm được chi phí lớn, tuy nhiên cũng phải tốn một khoản chi

phí trong việc nghiên cứu để tìm ra nhân tố chủ yếu làm phát sinh chi phí.

Bước 3: Xây dựng một chương trình để giảm chi phí

Bước tiếp theo là họ thiết kế một chương trình để làm giảm các nhân tố chính

gây phát sinh chi phí cho các hoạt động chủ yếu khơng làm gia tăng thêm giá trị.

Đây có thể là một nhiệm vụ phức tạp và sẽ liên quan đến tồn doanh nghiệp.Ví dụ

họ đã xác định kim loại còn chứa nhiều tạp chất chính là ngun nhân gốc gây ra lỗi

của sản phẩm. Số vết lỗi trên sản phẩm là một nhân tố phát sinh chi phí cho hoạt

động "mài sản phẩm đóc" và hoạt động " hàn các lỗi của sản phẩm đóc", bộ phận

mua hàng phải tăng chất lượng của kim loại làm sản phẩm bằng cách tìm kiếm các

nhà cung cấp mới và đưa ra các điều khoản chặt chẽ hơn về chất lượng đối với nhà

cung cấp hiện tại.

Việc giảm các nhân tố làm phát sinh chi phí có thể là giải quyết từng hoạt

động riêng hoặc có thể đòi hỏi phải tái cơ cấu lại cả quá trình hoạt động.

Bước 4: Thước đo sự thể hiện của việc giảm trừ chi phí

Tiêu thức của hoạt động có thể sử dụng để giám sát tính hiệu quả của các nỗ

lực giảm trừ chi phí. Theo cách tiếp cận ABC theo quan điểm tính phí thì họ đã xác

định được tiêu thức đo lường chi phí hoạt động. Họ sử dụng phương pháp phân tích

nhân tố làm phát sinh chi phí để xác định các thước đo sự thể hiện. Chi phí của một

hoạt động có thể xuất phát từ đặc điểm nào đó của hoạt động trước nó trong chu

trình, cái đặc điểm đó được lựa chọn là thước đo chi phí của hoạt động.

Tóm lại, tiến hành và duy trì hệ thống ABC ở Mason & Cox phức tạp hơn so

với phương pháp truyền thống mà công ty đã áp dụng. Nhưng hệ thống mới này đã

thể hiện được tính ưu việt của nó, nó mới được thực hiện khơng lâu nhưng đã làm

tăng đáng kể lợi nhuận ở Mason & Cox. Đạt được điều đó là do hệ thống này đã:



29



- Cung cấp thơng tin về giá thành sản phẩm chính xác, nhờ đó các nhà quản lý

mới đưa ra được các quyết định kinh doanh đóng đắn.

- Giúp các nhà quản lý kiểm soát hoạt động. Xác định các hoạt động chính

khơng làm gia tăng giá trị, các nhân tố cơ bản làm phát sinh chi phí của hoạt động

giúp các nhà quản lý tìm ra phương pháp giảm trừ các nhân tố đó tức là làm giảm

chi phí

- Làm tăng sự hài lòng của khách hàng về mức giá cả, hệ thống đo lường hoạt

động có thể giúp người cơng nhân xác định các khía cạnh họ có thể kiểm sốt và

nên tập trung, từ đó có thể làm tăng hiệu quả của các hoạt động

Và không thể phủ nhận ABC, ABM đã giúp công ty tăng cả lợi nhuận và giá

trị cung cấp cho khách hàng

Tóm lại, tiến hành và duy trì hệ thống ABC ở Mason & Cox phức tạp hơn so

với phương pháp truyền thống mà công ty đã áp dụng. Nhưng hệ thống mới này đã

thể hiện được tính ưu việt của nó, nó mới được thực hiện không lâu nhưng đã làm

tăng đáng kể lợi nhuận ở Mason & Cox. Đạt được điều đó là do hệ thống này đã:

- Cung cấp thông tin về giá thành sản phẩm chính xác, nhờ đó các nhà quản lý

mới đưa ra được các quyết định kinh doanh đóng đắn.

- Giúp các nhà quản lý kiểm sốt hoạt động. Xác định các hoạt động chính

khơng làm gia tăng giá trị, các nhân tố cơ bản làm phát sinh chi phí của hoạt động

giúp các nhà quản lý tìm ra phương pháp giảm trừ các nhân tố đó tức là làm giảm

chi phí

- Làm tăng sự hài lòng của khách hàng về mức giá cả, hệ thống đo lường hoạt

động có thể giúp người cơng nhân xác định các khía cạnh họ có thể kiểm sốt và

nên tập trung, từ đó có thể làm tăng hiệu quả của các hoạt động

Và không thể phủ nhận ABC, ABM đã giúp công ty tăng cả lợi nhuận và giá

trị cung cấp cho khách hàng.



30



1.3.2. Vận dụng phương pháp tính ABC ở Việt Nam nói chung và ở doanh

nghiệp Sợi nói riêng

1.3.2.1. Vận dụng phương pháp ABC ở Việt Nam

Phương pháp ABC phù hợp với mơi trường sản xuất nói chung là có sự tự

động hóa cao và tổ chức sản xuất tiên tiến. Tính ưu việt của phương pháp ABC đã

được thừa nhận trên thế giới vì nó là một cơng cụ đo lường tương đối chính xác và

hợp lý các chi phí phát sinh liên quan đến đối tượng và hoạt động chịu phí. Điều đó,

giúp cho các doanh nghiệp có thể đưa ra được phương pháp tiết kiệm chi phí hiệu

quả nhất, đưa ra chiến lược phát triển hiệu quả.

Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam đây là phương pháp còn khá mới mẻ, chỉ có

một số ít doanh nghiệp áp dụng phương pháp này, mà phần lớn là các doanh nghiệp

lớn, tính tự động hóa cao như: Cơng ty bút bi Thiên Long, Công ty PwC, một số

công ty khai thác than lớn…

Sở dĩ, tại Việt Nam phương pháp ABC chưa được triển khai rộng rãi do các

lý do như sau:

- Cơ sở lý luận về phương pháp ABC phải dùng đến các tài tiệu tiếng nước

ngoài, do đó cũng gây khó khăn cho việc nghiên cứu và tìm hiểu của các doanh

nghiệp.

- Chế độ kế tốn dành cho phương pháp tính giá ABC chưa có. Các quy định

của Bộ Tài Chính về phản ánh báo cáo chi phí theo phương pháp này chưa có. Do

vậy, kế tốn các doanh nghiệp chưa muốn tham gia vào lĩnh vực mới này.

- Phương pháp tính giá ABC là phương pháp tính giá đòi hỏi có sự tham gia

phối hợp của nhiều phòng ban, bộ phận trong doanh nghiệp, khơng chỉ riêng bộ

phận kế tốn như phương pháp tính giá truyền thống. Nếu triển khai áp dụng sẽ ảnh

hưởng đến khối lượng công việc của các bộ phận khác, và do vậy chắc chắn khi

triển khai sẽ gây ra những phản ứng khác nhau.

Riêng với các doanh nghiệp nhỏ tại Việt Nam việc áp dụng các phương pháp

này trở nên khó khăn. Các yếu tố cản trở việc thực hiện phương pháp ABC ở các

doanh nghiệp này như thiếu dữ liệu, thiếu nguồn lực kỹ thuật, tài chính và thiếu sự



31



hỗ trợ đầy đủ của máy tính. Có lẽ khó khăn chủ yếu nhất đó là việc thu thập dữ liệu,

tập trung vào việc xử lý các số liệu cần thiết theo một cách thức chính xác với chi

phí chấp nhận được. Những doanh nghiệp nhỏ rất kỹ lưỡng trong việc chọn và phân

tích loại thơng tin sử dụng để xác định chi phí gián tiếp, bởi việc thu thập những

thơng tin cần thiết theo phương pháp ABC rất tốn kém, trong khi những doanh

nghiệp này thường bị ràng buộc về vấn đề tài chính. Do vậy việc tìm kiếm một

phương pháp có thể cho phép những doanh nghiệp nhỏ thu thập những thơng tin về

chi phí sản phẩm một cách chính xác với chi phí thấp là một điều cần thiết.

Với những khó khăn như trên, đòi hỏi các nhà quản lý doanh nghiệp ở Việt

Nam phải có những tư tưởng tiến bộ, có những bước đột phá trong suy nghĩ cũng

như hành động.

Trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, giá bán sản phẩm hầu

như là giá thị trường vì sản phẩm tương tự và sản phẩm thay thế rất đa dạng, do đó

để mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đạt được, các doanh nghiệp bắt buộc phải có sự

cạnh tranh về giá thành, nghĩa là doanh nghiệp nào có giá thành sản phẩm thấp thì

doanh nghiệp đó sẽ tồn tại và phát triển.

Phương pháp ABC giúp doanh nghiệp tính tốn, phân bổ chính xác chi phí,

từ đó tính tốn đúng giá thành cũng như đưa ra các chiến lược về sản phẩm phù

hợp. Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này tạo ra sự phức tạp trong cơ cấu chi

phí, đòi hỏi nhiều cơng sức và tốn kém trong quá trình tổ chức và thu thập thông tin.

Do vậy các doanh nghiệp cần cân nhắc giữa chi phí bỏ ra và lợi ích đạt được khi áp

dụng phương pháp ABC.

1.3.2.2. Vận dụng phương pháp ABC ở các doanh nghiệp Sợi

Hiện nay, số lượng doanh nghiệp Sợi tại Việt Nam ngày càng gia tăng. Với

yêu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng về chủng loại, khắc khe về chất lượng,

mẫu mã cũng như quy cách của từng sản phẩm. Điều đó, đòi hỏi các doanh nghiệp

Sợi tại Việt Nam phải không ngừng phát triển, đầu tư cơ sở vật chất, dây chuyền

công nghệ,…để đáp ứng được những yêu cầu đó, vững bước trên con đường kinh

doanh của mình.



32



Với đặc điểm sản xuất của các doanh nghiệp Sợi là từ nguyên liệu phải trải

qua rất nhiều giai đoạn công nghệ mới tạo ra được sản phẩm hoàn chỉnh. Sản phẩm

của giai đoạn trước là nguyên liệu cho giai đoạn công nghệ tiếp theo. Và quá trình

sản xuất thường được theo các phân xưởng sản xuất. Mỗi dây chuyền sản xuất với

những quy cách kỹ thuật sẽ chuyên sản xuất những loại sản phẩm sợi nhất định. Với

đặc điểm sản xuất là qua nhiều công đoạn nối tiếp nhau trong doanh nghiệp sẽ tạo

điều kiện thuận lợi cho việc phân định chi phí cho từng hoạt động, kiểm sốt được

luồng chi phí. Hơn nữa, q trình sản xuất được thực hiện tại các dây chuyền sản

xuất tại các phân xưởng sản xuất, điều này giúp cho q trình tập hợp chi phí sản

xuất chung sẽ ít thiếu sót và sẽ chính xác hơn. Việc áp dụng phương pháp ABC vào

cơng tác tính giá thành tại các doanh nghiệp sợi sẽ giúp các doanh nghiệp hiểu rõ

nguyên nhân làm phát sinh chi phí chung, phương pháp này quan tâm đến tất cả các

loại chi phí chung phát sinh trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm, cũng như cách

thức tập hợp và phân bổ những chi phí chung này đến từng sản phẩm dựa trên một

tiêu thức phân bổ hợp lý nhất, giúp cho công tác tính giá thành sản phẩm chính xác

và đúng đắn hơn.

Tuy nhiên, với đặc điểm sản xuất và tổ chức sản xuất tại các doanh nghiệp

sợi như hiện nay, thì để áp dụng và duy trì được hệ thống tính giá thành theo

phương pháp ABC sẽ phải tốn một khoản chi phí tương đối lớn và đơi khi, có thể

vượt q lợi ích mà nó mang lại. Mặt khác, các doanh nghiệp Sợi tại Việt Nam hiện

nay chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên vấn đề thiếu dữ liệu, thiếu nguồn

lực kỹ thuật, tài chính và thiếu sự hỗ trợ đầy đủ của máy tính …là một trong các yếu

tố cản trở việc thực hiện phương pháp ABC đối với các doanh nghiệp sợi. Vì vậy,

việc tiếp cận và vận dụng một phương pháp kế toán mới như phương pháp ABC còn

hạn chế. Hiện nay, trong ngành sản xuất Sợi tại Việt Nam có Tổng cơng ty Dệt May

Gia Định đang áp dụng phương pháp tính giá thành này.



33



KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Kế toán quản trị là một bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý, đặc biệt

thích ứng với yêu cầu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Tập hợp chi

phí sản xuất và tính giá thành là nội dung quan trọng không thể thiếu trong cơng tác

kế tốn ở các doanh nghiệp. Tính đúng, tính đủ giá thành để làm cơ sở xác định giá

bán là một yêu cầu không thể thiếu được của một doanh nghiệp trong cơ chế thị

trường năng động như hiện nay.

Phương pháp tính giá thành theo phương pháp truyền thống mà các doanh

nghiệp đang áp dụng, tuy có những ưu điểm của nó, nhưng đã bộc lộ nhiều hạn chế

cần khắc phục. Vì vậy, vận dụng hệ thống tính giá thành theo phương pháp ABC là

rất cần thiết, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi mà các doanh nghiệp với xu

hướng cơ cấu chi phí quản lý cao cũng như cơ cấu sản phẩm đa dạng, phức tạp. Từ

việc tập hợp chi phí các nguồn lực vào các hoạt động cùng với việc vận dụng nhiều

tiêu thức phân bổ khác nhau dựa trên mối quan hệ giữa hoạt động và đối tượng chịu

phí thì phương pháp ABC hầu như thể hiện sự vượt trội hơn hẳn so với hệ thống chi

phí truyền thống và đem lại thơng tin chi phí đáng tin cậy hơn.

Qua chương I, đề tài đã nêu lên được sự hình thành, vai trò, các bước thực

hiện trong phương pháp ABC, cũng như trình bày được kinh nghiệm vận dụng

phương pháp ABC tại các nước trên thế giới nói chung và sự vận dụng phương pháp

ABC tại Việt Nam nói riêng. Phương pháp ABC đã được áp dụng tại nhiều nước

tiên tiến, phát triển trên thế giới nhưng với các doanh nghiệp Việt Nam đây còn là

một khái niệm hết sức mới mẻ, và do vậy rất khó có thể tiếp cận vào Việt Nam. Tuy

nhiên, với lực lượng lao động, đội ngũ quản lý dần dần được trẻ hóa như hiện nay,

thiết nghĩ khơng còn xa để có thể vận dụng những phương pháp kế tốn quản trị

mới trong đó có phương pháp ABC vào trong cơng tác kế tốn phục vụ tốt cho việc

quản trị của doanh nghiệp.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Mô hình ABC tại Công ty Mason & Cox ở Australia:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×