Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



1.1. Sự hình thành và vai trò của phương pháp tính giá thành dựa trên cơ

sở hoạt động (phương pháp ABC)

1.1.1. Sự hình thành phương pháp ABC

Trong những năm thập niên 1980, nhiều nhà quản trị cũng như kế toán đã

khơng hài lòng với hệ thống tính giá thành truyền thống. Bên cạnh những ưu điểm,

các hệ thống tính giá thành đó đã bộc lộ một số hạn chế dẫn đến những bất lợi trong

việc ra quyết định. Có thể bàn đến hai hạn chế lớn nhất là cách lựa chọn đối tượng

tập hợp chi phí và kỹ thuật phân bổ chi phí.

Trong phương pháp tính giá thành truyền thống, đối tượng tập hợp chi phí

chủ yếu là theo đơn đặt hàng (hệ thống tính giá theo cơng việc) hoặc theo phân

xưởng, giai đoạn sản xuất (hệ thống tính giá theo q trình sản xuất). Với đối tượng

đó, hệ thống tính giá thành chỉ mới nhằm mục đích tính giá thành sản phẩm, không

chỉ ra mối quan hệ qua lại giữa các hoạt động ở các bộ phận chức năng khác nhau.

Những vấn đề như: chi phí gia tăng ở khâu nào, do nguyên nhân nào trong quá trình

sản xuất luôn được các nhà quản trị đặt ra trong quá trình hồn thiện và thiết kế lại

q trình sản xuất nhằm cắt giảm chi phí. Thực tế cho thấy, chi phí phát sinh ở

nhiều hoạt động khác nhau trong quá trình sản xuất, nhưng nếu chỉ tập hợp chi phí ở

góc độ chung thì khơng thể kiểm sốt chi phí ở doanh nghiệp. Nói cách khác, mục

tiêu kiểm sốt và hoạch định ở doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh gia tăng

chưa được đáp ứng.

Các phương pháp tính giá thành truyền thống thường lựa chọn một hay một

vài tiêu thức để phân bổ chi phí sản xuất chung. Do vậy, giá thành sản phẩm khơng

phản ánh đúng giá phí của nó, nhất là khi mức độ tự động hóa trong các doanh

nghiệp có xu hướng ngày càng gia tăng. Kết quả là việc ra quyết định giá bán cạnh

tranh bị ảnh hường đối với những sản phẩm được tính giá thành quá cao hoặc quá

thấp.

Để khắc phục những hạn chế đó, người ta bắt đầu nghiên cứu và ứng dụng

một phương pháp tính giá thành sản phẩm mới gọi là phương pháp tính giá thành

dựa trên cơ sở hoạt động (phương pháp ABC).



10



Các khái niệm của phương pháp ABC đã được phát triển trong lĩnh vực sản

xuất của Hoa Kỳ trong những năm 1970, 1980. Trong thời gian này, các Hiệp hội

quản lý cao cấp quốc tế, bây giờ được gọi đơn giản là CAM-I, nghiên cứu và chính

thức hóa các nguyên tắc mà bây giờ được biết đến dưới tên gọi “Activity-based

Costing”

Robin Cooper và Robert.S.Kaplan là những người đề xướng nên thẻ cân

bằng điểm (Balanced Scorecard), là những người đã đưa các khái niệm này trong

một số bài báo xuất bản của Harvard Business Review bắt đầu từ năm 1988. Cooper

và Kaplan mô tả phương pháp ABC là một cách tiếp cận để giải quyết các vấn đề

của hệ thống quản lý chi phí truyền thống. Hệ thống chi phí truyền thống thường

khơng thể xác định các chi phí thực tế của quá trình sản xuất và các chi phí dịch vụ

liên quan. Do đó các nhà quản lý sẽ đưa ra các quyết định dựa trên các thông tin

khơng chính xác đặc biệt ở những doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng, sản

phẩm khác nhau.

Hệ thống tính giá ABC lần đầu tiên được định nghĩa rõ ràng vào năm 1987

bởi Robert.S.Kaplan và W.Bruns trong một chương của quyển“Accounting and

Management: A Field Study Perspective”. Họ tập trung vào ngành công nghiệp sản

xuất đầu tiên, nơi mà tiến bộ công nghệ và sự gia tăng năng suất làm giảm tỉ lệ của

chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân cơng trực tiếp, tăng tỉ lệ của các chi

phí gián tiếp. Hệ thống tính chi phí ABC sau này được giải thích rõ hơn vào năm

1999 bởi Peter.F.Drucker trong quyển “Management Challenges of the 21st

Century”.

Khởi đầu từ ý tưởng của các nhà quản trị vào đầu những năm 1980, phương

pháp ABC chỉ là một kỹ thuật tính giá thành sản phẩm, dịch vụ bằng cách áp dụng

nhiều tiêu thức phân bổ đối với chi phí sản xuất chung để đảm bảo giá thành xác

định hợp lý hơn. Nhưng đến đầu những năm 1990, các nhà quản trị phát hiện rằng,

với cùng một dữ liệu ban đầu nhưng giá thành tính theo phương pháp ABC được sử

dụng tốt hơn cho việc thiết kế sản phẩm và thiết kế lại q trình sản xuất, ABC còn

được sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động của quá trình kinh doanh. Số liệu của



11



phương pháp ABC giúp các nhà quản trị nhìn rõ hơn mối quan hệ giữa thời gian,

chất lượng, cơng suất nhà xưởng, sự linh hoạt và chi phí của doanh nghiệp. Phương

pháp ABC ngày nay đã gắn với một triết lý mới trong quản trị là quản trị dựa trên

hoạt động (ABM).

Quan điểm của ABC

Tài nguyên



Nguồn

hoạt động



Các hoạt động



Cắt giảm chi phí

Hồn thiện q trình

sản xuất

Loai bỏ lãng phí 

Nâng cao chất lượng

Benchmark



Đo lường

hoạt động



Đối tượng tính

giá

Ra quyết

định



Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa ABC và ABM

Điểm nổi bậc của phương pháp ABC là nhấn mạnh các hoạt động như là

những đối tượng tập hợp chi phí chủ yếu. Chi phí phát sinh theo hoạt động này sau

đó sẽ được phân bổ cho những đối tượng tính giá thành theo số lượng hoạt động

(nguồn sinh phí) mà các đối tượng này đã sử dụng. Cần chú ý là hệ thống tính giá

thành dựa trên cơ sở hoạt động có thể là một phần của hệ thống tính giá thành theo

cơng việc hoặc tính giá thành theo q trình sản xuất. Hệ thống tính giá này khơng

thay thế phương pháp tính giá thành truyền thống, mà nhằm bổ sung khả năng xử lý

và cung cấp các thông tin trong việc ra quyết định ngắn hạn và dài hạn ở doanh

nghiệp.

1.1.2. Vai trò của phương pháp ABC

Phương pháp ABC sẽ giúp các nhà quản lý tránh được những quyết định sai

lầm do sử dụng thơng tin khơng chính xác về giá thành như trình bày ở trên. Bên

cạnh việc cung cấp thơng tin chính xác về giá thành, ABC còn cung cấp thơng tin

chi tiết về cơ cấu chi phí của từng sản phẩm, giúp cho nhà quản lý có thể linh hoạt



12



hơn trong việc lập kế hoạch ngân sách cũng như điều chỉnh các chính sách, chiến

lược sản phẩm của doanh nghiệp trong điều kiện thị trường luôn biến động.

Với phương pháp ABC, chi phí phục vụ một khách hàng có thể xác định một

cách chắc chắn. Sau khi trừ ra chi phí sản phẩm và chi phí phục vụ từng khách

hàng, sẽ tính được lợi nhuận khách hàng mang lại. Phương pháp ABC tính tốn chi

phí khách hàng và chi phí sản phẩm riêng biệt, giúp xác định chính xác lợi nhuận

mỗi khách hàng mang lại và giúp định vị sản phẩm và dịch vụ tương ứng.

Việc áp dụng phương pháp ABC còn góp phần hỗ trợ hoạt động marketing

trong việc xác định cơ cấu sản phẩm cũng như chính sách giá. Đặc biệt trong trường

hợp doanh nghiệp có nhiều mặt hàng thì việc đàm phán với khách hàng hay xử lý

đơn hàng một cách nhanh chóng đòi hỏi phải có thơng tin chi tiết về giá thành cũng

như cơ cấu chi phí của từng sản phẩm, qua đó có thể xác định các mức giá tối ưu

cho các đơn hàng khác nhau với cơ cấu sản phẩm khác nhau. Nắm được các thơng

tin chi tiết và chính xác về chi phí cho các sản phẩm còn giúp doanh nghiệp dễ dàng

hơn trong việc cải tiến (customization) sản phẩm của mình nhằm tăng khả năng

cạnh tranh trên thị trường bằng cách đưa thêm vào sản phẩm những giá trị gia tăng

trong điều kiện chi phí còn cho phép. Đồng thời, doanh nghiệp cũng có thể chủ

động xây dựng chiến lược marketing để định hướng nhu cầu khách hàng vào các

mặt hàng có lợi nhuận cao, thay thế cho các mặt hàng mà doanh nghiệp khơng có

lợi thế. Hơn nữa, ứng dụng phương pháp ABC có thể giúp nhân viên nắm rõ tồn bộ

chi phí liên quan, giúp họ có thể phân tích chi phí và xác định những hoạt động nào

mang lại giá trị cộng thêm và hoạt động nào khơng, qua đó cải thiện hiệu quả hoạt

động. Đây là một quy trình hồn thiện liên tục bắt đầu từ việc phân tích chi phí, cắt

giảm những hoạt động khơng tạo ra giá trị cộng thêm và qua đó đạt được hiệu suất

chung.

Phương pháp ABC giúp công ty tạo ra những sản phẩm tốt hơn, đáp ứng nhu

cầu của thị trường với chi phí cạnh tranh. Phân tích lợi nhuận sản phẩm và lợi

nhuận do khách hàng mang lại, phương pháp này đã góp phần tích cực vào q

trình ra quyết định của cấp quản lý; cơng ty có thể nâng cao hiệu suất hoạt động và



13



giảm chi phí mà không hy sinh giá trị mang lại cho khách hàng. Mặt khác, có thể

giúp cơng ty mơ hình hóa tác động của việc cắt giảm chi phí và kiểm sốt chi phí

tiết kiệm được.

Nhìn chung, ABC là một phương pháp năng động thúc đẩy sự cải tiến diễn ra

liên tục. Với phương pháp ABC, bất kì cơng ty nào cũng có thể tạo ra lợi thế cạnh

tranh về chi phí và liên tục tạo thêm giá trị cho cổ đơng và khách hàng

1.2. Nội dung phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động

Trong phương pháp ABC, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân

cơng trực tiếp được tập hợp và hạch tốn tương tự như phương pháp tính giá truyền

thống, quy trình tính giá thành theo phương pháp ABC chỉ nhằm mục đích tập hợp

và phân bổ chi phí sản xuất chung. Việc phân bổ sẽ được dựa vào những tiêu thức

phân bổ linh hoạt, tiến bộ hơn rất nhiều so với phương pháp tính giá truyền thống.

Nội dung theo phương pháp ABC bao gồm các bước sau:

1.2.1. Phân tích hoạt động và xác định các nguồn lực sử dụng:

Bước đầu tiên cũng là bước cực kỳ quan trọng trong quy trình tính giá ABC

là tiến hành phân tích các hoạt động để xác định các nguồn lực sử dụng cho từng

hoạt động. Bởi lẽ, nếu xác định các hoạt động khơng chính xác sẽ ảnh hưởng đến

các bước tiếp theo của quy trình. Phân lớn các nguồn lực bị tiêu hao được ghi nhận

dưới dạng chi phỉ ở các tài khoản chi phí trong cơng tác hạch tốn, chẳng hạn

ngun vật liệu trực tiếp, máy móc thiết bị, dịch vụ mua ngồi… Để thực hiện việc

nhận dạng và phân loại những hoạt động của doanh nghiệp cần tiến hành tập hợp số

liệu sổ sách, chứng từ và sử dụng các bảng câu hỏi, quan sát, phỏng vấn các nhà

quản lý cũng như các nhà kỹ thuật, công nhân viên trong các dây chuyền cơng nghệ.

Sau khi đã phân tích và xác định được các hoạt động và các nguồn lực sử dụng ta

qua bước thứ hai đó là phân bổ chi phí nguồn lực cho các hoạt động.

1.2.2. Phân bổ chi phí nguồn lực cho các hoạt động

Quá trình thực hiện các hoạt động làm tiêu hao các nguồn lực. Các yếu tố

quyết định tiêu hao nguồn lực sẽ là căn cứ để phân bổ chi phí nguồn lực cho các

hoạt động. Một điều kiện quan trọng để lựa chọn một tiêu thức phân bổ phù hợp là



14



mối quan hệ nhân quả.

Chi phí nguồn lực có thể được phân bổ trực tiếp hoặc ước lượng. Phân bổ

trực tiếp đòi hỏi việc đo lường mức độ sử dụng thực tế các nguồn lực của các hoạt

động.

Trường hợp không thể đo lường được mức độ sử dụng thực tế các nguồn lực,

có thể cần phải ước đốn để tính ra các tỷ lệ. Việc ước đốn có thể được hợp tác

thực hiện bởi bộ phận quản lý, bộ phận tài chính và những nhân viên điều hành ca

liên quan trực tiếp đến trung tâm chi phí. Nhóm này có thể đưa ra được những ước

đốn về tỷ lệ chi phí phân bổ trong cả hai giai đoạn của phương pháp ABC. Mức độ

chính xác dựa vào sự kết hợp trong nhóm và những kiến thức của họ về trung tâm

chi phí.

Thơng thường để mơ tả mối quan hệ giữa chi phí và hoạt động người ta thiết

lập ma trận Chi phí – Hoạt động (EAD). Trong bước này, các hoạt động liên quan

đến từng loại chi phí được xác định để thiết lập ma trận EAD). Nhóm chi phí biểu

diễn theo cột, trong khi các hoạt động xác định được biểu diễn theo hàng. Nếu hoạt

động i có sử dụng loại chi phí j, đánh dấu vào ơ ij. Sau đó, thay thế những dấu đã

đánh bằng hệ số tỷ lệ trong ma trận EAD. Tổng các cột của ma trận EAD phải bằng

1.

Có ba phương pháp được sử dụng trong việc tính tốn những tỷ lệ này, có

mức độ chính xác theo thứ tự là: Ước đoán, đánh giá hệ thống và thu thập dữ liệu

thực tế. Các phương pháp này cũng có thể được sử dụng trong giai đoạn một là

phân bổ chi phí đến các hoạt động

- Ước đốn:

Trong trường hợp khi khơng thể có được những số liệu thực tế hoặc việc thu

thập số liệu khá tốn kém thì có thể ước đốn để tính ra các tỷ lệ. Việc ước đốn có

thể được hợp tác thực hiện với bộ phận quản lý, bộ phận tài chính và những nhân

viên điều hành có liên quan trực tiếp đến trung tâm chi phí. Nhóm người này có thể

đưa ra được những ước đốn về tỷ lệ phân bổ chi phí trong cả hai giai đoạn. Mức độ



15



chính xác dựa vào sự kết hợp của những người trong nhóm và những kiến thức của

họ về trung tâm chi phí.

- Đánh giá hệ thống:

Một phương pháp khoa học hơn để thu được những tỉ lệ này cho việc tính

tốn chi phí là việc sử dụng kỹ thuật hệ thống như áp dụng quá trình phân tích thứ

bậc (AHP- Analytic Hierarchical Process) (Saaty, 1982; Golden,Wasil, và Harker,

1989). AHP là một cơng cụ thích hợp nhằm đưa những ý kiến cá nhân chủ quan

thành những thông tin thể hiện khách quan hơn về các tỉ lệ. Ví dụ, giả sử doanh

nghiệp cần phân bổ chi phí xăng dầu giữa ba hoạt động chạy máy, giao hàng và bảo

trì. Thơng qua việc đặt câu hỏi cho những bộ phận tiêu thụ nguồn lực này và yêu

cầu họ đánh giá về tỉ lệ phần trăm chi phí xăng dầu trong một thời đoạn nhất định,

AHP có thể đưa ra được phần trăm của chi phí này và phân bổ chúng đến từng hoạt

động thích hợp.

AHP cũng có thể được sử dụng trong giai đoạn hai đó là phân bổ chi phí từ các

hoạt động đến từng sản phẩm. Trong bước này, điều quan trọng là phải xác định

được một tiêu thức phân bổ chi phí thích hợp để đạt được mức độ chính xác mong

muốn. Ví dụ, giả sử doanh nghiệp mong muốn ấn định chi phí bán hàng đến từng

sản phẩm. Một phương pháp đó là ước lượng mức độ hoạt động bán hàng cần thiết

đối với từng sản phẩm. Giả sử doanh nghiệp sản xuất 05 sản phẩm. Sản phẩm A là

sản phẩm đã có tiếng, những nỗ lực về hoạt động bán hàng là tương đối thấp, trong

khi sản phẩm B, C, và D đang trong giai đoạn giữa của dòng đời sản phẩm và sản

phẩm E, là một sản phẩm mới, tiêu tốn rất nhiều thời gian và nỗ lực hơn cho việc

bán hàng. Thay vì phân bổ đồng đều chi phí bán hàng cho từng sản phẩm, AHP có

thể đưa ra một ước lượng cho phép cơng ty tính chi phí đến từng sản phẩm một cách

chính xác hơn. Trong ví dụ cụ thể này, khu vực bán hàng và thời gian sử dụng để

thương thảo với khách hàng về từng sản phẩm có thể được xem là các tiêu thức liên

hệ. Sau đó, chi phí bán hàng được xếp hạng giữa các sản phẩm theo khoảng cách

cần thiết giao hàng. Việc xếp hạng tiếp theo giữa các sản phẩm được thiết lập theo tỉ

lệ thời gian cho từng khách hàng. Cuối cùng, những cách xếp hạng chủ quan về



16



hoạt động bán hàng được kết hợp lại để tính ra tỉ lệ phân bổ chi phí bán hàng giữa

05 loại sản phẩm.

Có thể sử dụng các phương pháp sau để đánh giá một cách hiệu quả:

 Quan sát và phỏng vấn:

Với phương pháp này bộ phận phân tích sẽ thực hiện thơng qua việc đặt câu hỏi

đối với bộ phận thực hiện hoạt động cần phân tích, quan sát những hoạt động đó và

đánh giá mức độ hoạt động để đưa ra các tỷ lệ chính xác. Lưu ý rằng việc quan sát

quá nhiều sẽ làm cho việc thu thập bị hạn chế ở các cách thức thu thập khác do bị

tác động quá lớn về cách thức các công việc được thực hiện. Còn đối với những

người được phỏng vấn cần tập trung vào những người nắm các chức vụ quản lý hay

giám sát trong doanh nghiệp bởi bản thân những người này đã hiểu rõ những hoạt

động của những người trực tiếp thực hiện hoạt động. Mục đích của phỏng vấn là

xác định được đâu là hoạt động cơ bản và trọng yếu trong tổ chức. Thông thường,

phạm vi xem xét là những hoạt động chiếm từ 5% trở lên trong tổng thời gian hoạt

động của một cá nhân. Trong quá trình phỏng vấn chủ yếu nên sử dụng các câu hỏi:

- Cơ cấu tổ chức nhân sự gồm những ai.

- Hoạt động chủ yếu của họ là gì?

- Khi điều kiện hoạt động thay đổi thời gian hoạt động của họ có thay đổi

khơng? Nếu có, điều kiện đó là gì?

- Tỷ lệ mỗi hoạt động chiếm bao nhiêu trong tổng quỹ thời gian hoạt động

của họ?...

 Mơ hình hóa:

Mơ hình hóa hoạt động là việc xây dựng một sự mơ tả chính xác về các hoạt

động được thực hiện trong doanh nghiệp. Nó khơng chỉ là một cách thức tổ chức,

nắm bắt và thu thập thông tin về hệ thống mà còn cung cấp một hình ảnh về hệ

thống và tạo điều kiện cho việc sửa chữa hệ thống thông qua việc trao đổi với

những người sử dụng. Khi đó chúng ta có thể nhìn thấy mối quan hệ giữa các hoạt

động tạo nên quá trình ở bất kỳ một mức độ chi tiết nào mong muốn. Theo đó có thể

biểu diễn các hoạt động dưới dạng văn bản, hình ảnh… Ví dụ đưa ra mơ hình kiểm



17



tra chất lượng sản phẩm, hoạt động kiểm tra chất lượng sản phẩm sẽ được phân nhỏ

thành các hoạt động chi tiết: kiểm tra bao bì, kiểm tra chất lượng bên trong sản

phẩm (thông qua chọn mẫu), kiểm tra số lượng sản phẩm sản xuất… Mỗi hoạt động

này lại được xem xét theo các tiêu thức: thời gian kiểm tra, số lượng nhân viên kiểm

tra, các dụng cụ thiết bị nào được huy động tham gia hoạt động này. Sau khi đưa ra

các nhân tố đó, cần tính tốn các tỷ lệ về thời gian mỗi hoạt động, chi phí đã bỏ ra

đối với từng sản phẩm, loại sản phẩm. Việc đưa ra mơ hình như vậy giúp doanh

nghiệp xem xét các hoạt động nào là chủ yếu, có ảnh hưởng tới việc tính giá thành

sản phẩm, từ đó đưa ra các quyết định phù hợp.

- Thu thập dữ liệu thực tế:

Đây là phương pháp chính xác nhưng tốn nhiều chi phí nhất để có thể đưa ra các

tỷ lệ cần thiết một cách chính xác. Phương pháp này đòi hỏi phải tổng hợp các chi

phí từ các hoạt động có liên quan để phân bổ cho từng đối tượng tính phí. Ta có thể

sử dụng cơng thức đơn giản sau để tính tổng chi phí tiêu dùng bởi một hoạt động:

Tổng chi phí tiêu dùng

bởi một hoạt động



Tỷ lệ thời gian thực hiện hoạt

=



động của một đơn vị (bộ phận)



Tổng chi phí

x phát sinh của đơn vị



trong doanh nghiệp

(bộ phận) đó

Qua đó, đưa ra danh sách các hoạt động cùng chi phí tương ứng với hoạt



động đó. Dựa trên các tiêu thức đã được xác định tiến hành phân bổ chi phí hoạt

động cho các đối tượng tính phí. Trong hầu hết các trường hợp người ta phải tổ

chức một bộ máy thu thập, ghi nhận dữ liệu thực tế và có thể đòi hỏi các thiết bị hỗ

trợ cho việc thu thập thông tin. Hơn nữa, việc thu thập dữ liệu phải đúng thời điểm

và điều tra viên phải có kinh nghiệm. Kết quả thường được phân tích bằng những

cơng cụ thống kê. Tiếp theo, tính tốn giá trị bằng tiền của các hoạt động. Giá trị

bằng tiền của từng hoạt động, được tính theo cơng thức sau :



18



M

TCA (i) = ∑Chi phí (j) * EAD(i,j)

j=1

Với:

TCA (i) = Tổng chi phí của hoạt động i

M = Số loại chi phí

Chi phí (j) = Giá trị bằng tiền của nhóm chi phí j

EAD (i,j) = Hệ số tỉ lệ ở ô i, j của ma trận EAD

Bảng 1.1. Ma trận chi phí hoạt động (EAD)



Yếu tố CP



Các

Vật tư



Hoạt động



Lao động



Tài sản



dịch vụ



cố định



mua

ngoài



- Quản lý đơn mua hàng

- Bốc dở, nhận hàng

- Kiểm tra mua hàng

- Nghiên cứu quy trình sản xuất

- Chuẩn bị máy móc, vật liệu

- Hỗ trợ sản xuất

- Sản xuất (chạy máy)

- Kiểm tra thành phẩm nhập kho

- Bảo trì máy móc

- Vệ sinh phân xưởng



X

X

X



X

X

X

X

X

X



X

X

X

X

X



X

X

X



X

X



Chi phí

khác

bằng tiền



X



X



X



X



1.2.3. Chọn lựa nguồn sinh phí phát sinh:

Nguồn phát sinh chi phí (nguồn sinh phí) là những nhân tố có mối quan hệ

nhân quả trực tiếp với chi phí. Các chi phí trực tiếp có thể liên hệ trực tiếp đến một

sản phẩm mà khơng cần có nguồn sinh phí. Tất cả các chi phí khác cần liên kết giữa

phívà

1 sản phẩm. Nguồn

Chi phí

3 động có thể có

chi phí, hoạtChi

động

sinh2 phí là liên kết,Chi

mỗiphí

hoạt

một hoặc nhiều nguồn sinh phí liên quan, nhưng chỉ chọn một nguồn sinh phí để

Nguồn

Nguồn

phí động liên

Nguồn

phí tự, các đối

tính ra tiêu

thứcsinh

phânphí

bổ nguồn lực

cho sinh

các hoạt

quan.sinh

Tương

tượng tính giá cũng có thể có một hay nhiều nguồn sinh phí liên quan, nhưng ta

Hoạtnguồn

động sinh phí để làm

Hoạt

cũng chọn một

tiêuđộng

thức phân bổ. Hoạt động

Nguồn sinh phí



Sản phẩm 1



Nguồn sinh phí



Nguồn sinh phí



Sản phẩm 2



19



Sơ đồ 1.2. Sơ đồ minh họa phân bổ nguồn sinh phí cho hoạt động

và sản phẩm

Có thể ví dụ một số hoạt động và những nguồn sinh phí liên quan như sau:



- Giai đoạn 1:

Yếu tố chi phí

Vận chuyển, bốc dở



Nguồn sinh phí

Khoảng cách (km)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×