Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.12: Tình hình nợ quá hạn và nợ xấu

Hình 2.12: Tình hình nợ quá hạn và nợ xấu

Tải bản đầy đủ - 0trang

48

Tình hình nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5 theo quy định) năm 2006 là

4,96 tỷ đồng nhưng sang năm 2007, mức dư nợ nhóm này lại tăng lên đến

24,82 tỷ đồng, tăng 19,86 tỷ đồng. Điều này cho thấy vẫn còn nhiều rủi ro

tiềm ẩn trong q trình cho vay tại chi nhánh.

Riêng trong 2 năm, 2006 và 2007, mức dư nợ ở nhóm 4 giảm mạnh,

đặc biệt năm 2006 mức dư nợ nhóm 5 là 1,59 tỷ đồng nhưng đến năm 2007

thì mức dư nợ nhóm 5 lại tăng lên là 16,61 tỷ đồng và đến năm 2008 tăng lên

21,39 tỷ đồng. Điều này cũng phần lớn do tình hình khách quan của nền kinh

tế. Nhưng với những con số dư nợ xấu như trên thì nó vẫn nằm trong giới hạn

cho phép của ngân hàng Công thương, đó cũng do trong những năm qua chi

nhánh đã thực hiện tốt đúng quy định phân loại nợ và có những biện pháp tốt

để thu hồi nợ, tỷ lệ nợ xấu đều ở mức thấp. Đó là do chi nhánh đã có những

thay đổi chính sách tín dụng cũng như chính sách quản lý rủi ro của mình.

Thực hiện thu hồi triệt để các khoản nợ quá hạn và tăng cường chất lượng tín

dụng để khơng có phát sinh nợ mới. Bên cạnh đó là việc thực hiện trích lập

DPRR theo đúng quy định của NHNN.

Như vậy, rủi ro trong quá trình cho vay ngân hàng gặp phải xuất phát từ

nhiều ngun nhân, đòi hỏi cán bộ tín dụng phải phát huy hết năng lực và rèn

luyện kỹ năng trong cơng tác thẩm định để có quyết định cho vay đúng đắn,

giảm đến mức tối đa rủi ro trong quá trình thu hồi nợ cho chi nhánh.



49

2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC CHO VAY CỦA CHI NHÁNH

NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BẾN THỦY TRONG NHỮNG NĂM

QUA

2.3.1. Những thành quả đạt được

+ Nhìn chung, mặc dù có những giai đoạn khó khăn nhưng xu thế là qui

mơ cho vay DNDD liên tục tăng cả về số lượng DNDD, dư nợ bình quân trên

mỗi DNDD, nhất là trong những năm từ sau 2009.

Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế nước ta không ngừng phát triển,

cơ chế thị trường ngày càng được hoàn thiện hơn cùng với việc nước ta hội

nhập kinh tế khu vực và thế giới thì cạnh tranh trên mọi lĩnh vực nói chung và

trong ngành Ngân hàng là tất yếu và ngày càng mạnh mẽ. Trước yêu cầu đổi

mới đó ngành Ngân hàng nói chung và Chi nhánh Ngân hàng cơng thương

Bến Thủy nói riêng có nhiều cơ hội phát triển đồng thời phải đối mặt với

nhiều thách thức. Vì vậy, hệ thống Ngân hàng cũng khơng ngừng đổi mới và

từng bước hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu mới. Trong những năm qua, với sự

nỗ lực phấn đấu để trưởng thành Chi nhánh Ngân hàng Công thương Bến

Thủy đã xác lập vững chắc thị tường kinh doanh nhanh chóng chuyển hướng

đầu tư và hòa nhập với cơ chế một cách mạnh mẽ, nguồn vốn tăng trưởng

nhanh các nghiệp vụ ngày càng được hoàn thiện, hoạt động tín dụng khơng

ngừng đổi mới phát triển.

+ Định hướng khách hàng cho vay thể hiện qua cơ cấu dư nợ nhìn

chung phù hợp xu thế biến chuyển cơ cấu kinh tế chung.

Về loại hình doanh nghiệp, chi nhánh tập trung tiếp cận hai đối tượng

khách hàng là công ty cổ phần và cơng ty TNHH, trong đó đặc biệt các khách

hàng là cơng ty TNHH có tỷ trọng cho vay tăng trưởng liên tục. Theo nhận

định đây là hai nhóm có khả năng sản xuất kinh doanh ổn định, tồn tại lâu dài

và có chiều hướng phát triển mở rộng, mức vốn tự có tham gia vào q trình



50

sản xuất kinh doanh tương đối lớn đòi hỏi họ phải thường xun nâng cao

quản lý và bảo tồn vốn, có tài sản lớn phù hợp với điều kiện cho vay của

ngân hàng. Nếu ngân hàng phát triển thêm nhiều sản phẩm tiện lợi thì nhu cầu

của nhóm khách hàng này dễ dàng được đáp ứng.

Về ngành nghề, NHCTBT vẫn tập trung cho vay các ngành kinh tế

trọng điểm đó là: ngành công nghiệp, xây dựng và một số ngành khác.

+ Tỷ lệ dư nợ xấu như vẫn nằm trong giới hạn cho phép của ngân hàng

Cơng thương, đó cũng do trong những năm qua chi nhánh đã thực hiện tốt đúng

quy định phân loại nợ và có những biện pháp tốt để thu hồi nợ, tỷ lệ nợ xấu đều

ở mức thấp. Chi nhánh đã có những thay đổi chính sách tín dụng cũng như chính

sách quản lý rủi ro của mình. Thực hiện thu hồi triệt để các khoản nợ q hạn và

tăng cường chất lượng tín dụng để khơng có phát sinh nợ mới. Bên cạnh đó là

việc thực hiện trích lập DPRR theo đúng quy định của NHNN.

2.3.2. Những mặt hạn chế

+ Về thị phần mặc dù phấn đấu không ngừng mở rộng qui mô dư nợ,

theo thời gian thị phần giảm nhẹ liên tục, điều này trực tiếp trước mắt được lý

giải bởi sự gia tăng cạnh tranh tín dụng mạnh mẽ trên địa bàn.

Thực vậy, thời gian qua chi nhánh NHCTBT đã rất nỗ lực, nhưng qua

tốc độ tăng trưởng cũng như qui mô cho vay chung DNDD toàn hệ thống tại

địa bàn mà NHCT BT hoạt động là quá lớn đã lý giải cho thực trạng cạnh

tranh cũng như giảm nhẹ thị phần cho vay DNDD. Tuy nhiên nhìn chung tỷ

trọng cho vay được duy trì ổn định ở mức trên 20% ở các năm.

Nhưng từ đó cũng chỉ ra cho NHCTBT một tiềm năng khai thác và tăng

trưởng cho vay DNDD nếu biết tăng cường cạnh tranh, giành lại thị phần.

NHCTBT phải chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng cho vay doanh

nghiệp dân doanh, sự phát triển cho vay khối DNDD tại chi nhánh sẽ phù hợp

với sự phát triển chung của nền kinh tế, chi nhánh cần có định hướng đúng



51

đắn sự mở rộng cho vay khu vực kinh tế dân doanh.

Nhưng một lý do khác của chi nhánh dẫn đến thị phần cho vay DNDD

giảm nhẹ nêu trên là tâm lý muốn giảm thiểu rủi ro trong cho vay bởi loại

hình doanh nghiệp này có tài sản thế chấp thấp, kinh doanh bấp bênh nên khả

năng thu hồi vốn thấp. Đây là vấn đề cần có giải pháp thích hợp để mang lại

lợi ích hài hòa, tăng trưởng nhưng vẫn kiểm soát được rủi ro.

+ Cơ cấu dư nợ trong cho vay còn cần phải tiếp tục hiệu chỉnh để khai

thác hết yếu tố tiềm ẩn, phù hợp xu thế hơn:

- Tỷ trọng dư nợ đối với công ty cổ phần vẫn ở mức khá cao nhưng có

xu hướng ngày càng giảm trong tổng dư nợ khối DNDD, dư nợ cho vay công

ty tư nhân đang ngày càng phát triển.

- Việc mở rộng hoạt động cho vay tại chi nhánh ngân hàng Công

thương Bến Thủy đối với các lĩnh vực kinh tế chưa đều. Chi nhánh chủ yếu

tập trung cho vay ngành công nghiệp và xây dựng. Trong thời gian tới, chi

nhánh nên tăng dần tỷ trọng cho vay đối với lĩnh vực thương mại, dịch vụ để

phù hợp với xu thế phát triển kinh tế của thành phố.

- Cơ cấu dư nợ cho vay theo hình thức bảo đảm cho thấy nhiều doanh

nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn vay của chi nhánh do nguyên nhân chính là tài

sản đảm bảo. Có những DNDD khơng đủ tài sản đảm bảo để đáp ứng điều

kiện của ngân hàng. Nếu có tài sản đảm bảo thì lại khó khăn trong thủ tục vay,

việc định giá tài sản lại thấp hơn thực tế, thời gian định giá dài...Điều này đã

gây cản trở cho các doanh nghiệp trong khi họ rất cần có nguồn vốn để bổ

sung kịp thời vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, chi nhánh cần xem

lại và có biện pháp cụ thể là nên mở rộng cho vay không có tài sản đảm bảo

và nâng mức cho vay so với giá trị của tài sản..

- Về cơ cấu kỳ hạn cho vay, ngân hàng chủ yếu cho vay ngắn hạn. Cơ

cấu kỳ hạn có sự mất cân đối. Điều này một phần là do cơ cấu huy động vốn



52

nhưng cũng phản ảnh nỗ lực chủ quan của Ngân hàng. Vì vậy, cần có giải

pháp tăng tỷ trọng cho vay trung-dài hạn.

+ Tuy đạt được những thành quả trên, nhưng nhìn vào kết quả hoạt

động kinh doanh trong thời gian qua chất lượng tín dụng vẫn còn thấp khoản

nợ tồn đọng từ những năm trước chưa xử lý hết, nợ quá hạn vẫn còn phát

sinh... Điều này đòi hỏi Chi nhánh phải có những biện pháp nâng cao chất

lượng tín dụng.

2.3.3. Nguyên nhân hạn chế hoạt động cho vay của ngân hàng Công

thương Bến Thủy đối với doanh nghiệp dân doanh

2.3.3.1. Ngun nhân từ phía ngân hàng

- Tình trạng một số cán bộ tín dụng tiếp tay với khách hàng làm giả hồ

sơ vay, nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố quá cao so với thực tế để rút tiền

ngân hàng đã tồn tại trên thực tế và để lại những hậu quả nghiêm trọng, gây

ảnh hưởng rất lớn đến uy tín ngân hàng. Kiểm tra nội bộ nên được phát huy

về bản chất hơn tính hình thức và phải được xem như là hệ thống "giảm

phanh" của cỗ xe tín dụng. Tín dụng càng tăng trưởng với vận tốc lớn thì hệ

thống này càng phải an tồn, hiệu quả mới có thể tránh cho cỗ xe lao đi trước

những rủi ro vốn luôn tồn tại trên con đường đi tới..

- Sự hợp tác của các NHTM chưa thực sự chặt chẽ cũng là nguyên nhân

gián tiếp gây ra những hạn chế trong hoạt động tín dụng. Một khách hàng vay

vốn tại nhiều ngân hàng khác nhau nhưng khả năng tài chính để trả được nợ

vay phải là một con số cụ thể và có giới hạn tối đa. Nếu do thiếu sự trao đổi

thông tin, dẫn đến nhiều ngân hàng cho vay cùng một khách hàng dẫn đến

mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa

một ngân hàng nào.

- Hạ tầng tài chính phát triển chưa đầy đủ (cơng nghệ, hệ thống thanh

tốn, thị trường liên ngân hàng..) là thách thức không nhỏ để phát triển một



53

khu vực ngân hàng ổn định.

- Chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực ngân hàng còn nhiều bất

cập, số lượng cán bộ có kỹ năng nghiệp vụ cũng như quản trị điều hành và

hoạch định chính sách tốt còn ít, các chương trình đào tạo còn chưa thật sát

với u cầu thực tế. Bên cạnh đó, vấn đề đạo đức nghề nghiệp hiện cũng đang

là một thách thức lớn.

2.3.3.2. Nguyên nhân từ phía khách hàng

- Phần lớn các khách hàng quan hệ tín dụng tại các NHTM đều có

phương án kinh doanh cụ thể, khả thi, mang lại hiệu quả không những cho

doanh nghiệp mà còn cho cả ngân hàng. Tuy nhiên, những vụ việc phát sinh

từ một số ít những doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân

hàng để chiếm đoạt tài sản đã để lại những hậu quả hết sức nặng nề, liên quan

đến uy tín của cán bộ và ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khác.

- Ngoài ra, một thực tế hiện nay đã cho thấy phần lớn các doanh nghiệp

khi vay vốn ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, chủ yếu tập trung vốn

đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít có doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung

cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế tốn theo

đúng chuẩn mực. Một khi quy mơ kinh doanh phình ra q to so với tư duy

quản lý thì những rủi ro dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh

đầy khả thi là rất lớn, mà lẽ ra nó phải thành cơng trên thực tế.

- Bên cạnh đó, sự minh bạch về sổ sách kế tốn của doanh nghiệp vẫn

còn là một khó khăn rất lớn đối với cán bộ ngân hàng trong cơng tác thẩm

định năng lực tài chính của khách hàng vay vốn. Các báo cáo tài chính của

doanh nghiệp đơi khi chỉ thể hiện tính hình thức hơn là thực chất. Đây cũng là

nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn chú trọng phần tài sản đảm bảo như là

chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng.



54

2.3.3.3. Ngun nhân từ mơi trường

Mơi trường kinh tế

Sự bất ổn định trong nền kinh tế gây khó khăn cho hoạt động của ngân hàng.

Khi nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tín dụng ngân

hàng phát triển. Nền kinh tế ổn định, lạm phát thấp khơng có khủng hoảng,

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành tốt có hiệu quả

mang lại lợi nhuận cao, doanh nghiệp hoàn trả được vốn vay ngân hàng cả

gốc và lãi, nên hoạt động cho vay của ngân hàng phát triển,chất lượng tín

dụng được nâng cao.

Ngược lại trong thời kỳ suy thoái kinh tế, sản xuất kinh doanh bị thu hẹp,

đầu tư, tiêu dùng giảm sút, lạm phát cao, nhu cầu vay vốn giảm,vốn cho vay đã

thực hiện cũng khó có thể sử dụng có hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn cho ngân

hàng. Hoạt động cho vay ngân hàng giảm sút về quy mô và chất lượng.

Sự biến động q nhanh và khơng dự đốn được của thị trường thế giới

là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của

người đi vay. Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào sản xuất

nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực

phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công... vốn rất nhạy cảm với rủi ro

thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến

động xấu. Những khó khăn do bị khống chế hạn ngạch trong ngành dệt may,

hay những vụ kiện bán phá giá trong ngành thủy sản... làm ảnh hưởng trực

tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng và của các

ngân hàng cho vay nói chung.

Mơi trường pháp lý

-Trong nền kinh tế thị trường có điều tiết của nhà nước, pháp luật có

vai trò quan trọng, là một hàng rào pháp lý tạo ra một môi trường kinh doanh

bình đẳng thuận lợi, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế,



55

nhà nước, cá nhân công dân, bắt buộc các chủ thể phải tuân theo.

- Quan hệ tín dụng phải được pháp luật thừa nhận, pháp luật quy định

cơ chế hoạt động tín dụng, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín

dụng lành mạnh, phát huy vai trò đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đồng

thời duy trì hoạt động tín dụng được ổn định, bảo vệ quyền và lợi ích của các

bên tham gia quan hệ tín dụng.

- Những quy định pháp luật về tín dụng phải phù hợp với điều kiện và

trình độ phát triển kinh tế xã hội, trên cơ sở đó kích thích hoạt động tín dụng

có hiệu quả hơn.Tuy nhiên, hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật nước ta chưa

đồng bộ, gây khó khăn cho ngân hàng khi kí kết thực hiện hợp đồng tín dụng.

Luật ngân hàng còn nhiều sơ hở, chưa đồng bộ với các văn bản luật khác.

Điều này ảnh hưởng đến việc quản lý chất lượng tín dụng của ngân hàng. Sự

thay đổi chủ trương chính sách của Nhà nước cũng gây ảnh hưởng đến khả

năng trảnợ của các doanh nghiệp. Cơ cấu kinh tế, chính sách xuất nhập khẩu,

do thay đổi đột ngột, gây xáo động trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp

không tiêu thụ được sản phẩm, hay chưa có phương án sản xuất kinh doanh

mới dẫn đến nợ q hạn, nợ khó đòi, chất lượng tín dụng giảm sút.

- Những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành nhiều luật và các văn bản

hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Song,

việc triển khai vào hoạt động ngân hàng vẫn còn chậm và gặp phải nhiều

vướng mắc. Như việc cưỡng chế tài sản thu hồi nợ, mặc dù các văn bản luật

đều có quy định: "Trong trường hợp khách hàng khơng trả được nợ, ngân

hàng thương mại có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay", nhưng trên thực tế

các NHTM khơng làm được điều này vì ngân hàng là tổ chức kinh tế, không

phải là cơ quan quyền lực nhà nước, khơng có chức năng cưỡng chế buộc

khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý hoặc chuyển tài

sản đảm bảo nợ vay để tòa án xử lý theo con đường tố tụng...



56

Chương 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY

CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BẾN THỦY ĐỐI VỚI

DOANH NGHIỆP DÂN DOANH

3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ

3.1.1. Định hướng phát triển nền kinh tế Nghệ An

3.1.1.1. Phương hướng và quan điểm phát triển

Huy động tối đa mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là nguồn

nhân lực, ưu tiên đầu tư khai thác tiềm năng miền Tây, vùng Biển và đô thị.

Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong đó ưu tiên cho

các vùng kinh tế trọng điểm và vùng kinh tế khó khăn; chủ động hội nhập

kinh tế khu vực và quốc tế; giữ gìn và phát huy các truyền thống, bản sắc

văn hố Xứ Nghệ; kiểm sốt, kìm giữ, đẩy lùi các tệ nạn xã hội và tội

phạm; giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh

và trật tự an tồn xã hội [4].

3.1.1.2. Mục tiêu tổng quát

Huy động tối đa mọi nguồn lực, nâng cao chất lượng tăng trưởng, đưa

Nghệ An trở thành tỉnh khá trong khu vực phía Bắc vào năm 2015; tạo cơ sở để

đến năm 2020 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp; phấn đấu xây dựng thành phố

Vinh thành trung tâm kinh tế, văn hoá của vùng Bắc Trung bộ.

3.1.1.3. Các chi tiêu chủ yếu

a. Về kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm: 11-12%.

- Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng 17-18%; dịch vụ tăng

11-12%, nông lâm ngư tăng 4,5-5%.



57

- Cơ cấu kinh tế: Công nghiệp - xây dựng 39- 40%, dịch vụ 39-40%,

nông lâm ngư nghiệp 20-21%.

- Thu ngân sách: 9.500- 10.000 tỷ đồng.

- Kim ngạch xuất khẩu: 500-550 triệu USD.

- GDP bình quân đầu người: Phấn đấu đạt 33-34 triệu đồng.

- Tổng đầu tư toàn xã hội: Phấn đấu khoảng 180.000 tỷ đồng.

b. Về xã hội:

- Các xã, phường, thị trấn đều có trường mầm non; trên 65% số trường

đạt chuẩn quốc gia.

- Đạt tỷ lệ 25 giường bệnh trên vạn dân; 100% trạm y tế cấp xã ở đồng

bằng và 80-90% ở miền núi có bác sỹ; 95% số xã, phường đạt chuẩn quốc gia

về y tế.

- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống 15%.

- 95-97% trẻ em trong diện được tiêm chủng.

- Mức giảm tỷ lệ sinh hàng năm 0,4-0,5‰; tốc độ tăng dân số dưới 1%.

- 82-85% gia đình văn hố; 70% làng bản, khối phố, 100% xã, phường,

thị trấn có thiết chế văn hố thể thao (trong đó 60-65% đạt chuẩn quốc gia).

- Lao động qua đào tạo đạt trên 55% tổng lao động xã hội; 80% lao

động nông nghiệp được tập huấn kỹ thuật.

- Tạo việc làm và thu hút lao động bình quân 35.000 - 40.000

người/năm.

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2,0%/năm.

- 20% số xã đạt tiêu chí nơng thơn mới.

c. Về mơi trường:

- Đảm bảo độ che phủ rừng trên 55%.

- 95% dân số nông thôn được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh (55%

theo tiêu chí Bộ NN&PTNT); 97% dân số đơ thị được dùng nước sạch.



58

3.1.2. Định hướng của ngân hàng Công thương Bến Thủy đối với sự phát

triển kinh tế của các doanh nghiệp dân doanh

Mặc dù có những khó khăn trong những năm qua, nhưng Ngân hàng

Công thương Bến Thuỷ đã vươn lên đứng vững trong thị trường kinh doanh

tiền tệ, xác lập được hướng kinh doanh vững chắc, chiếm lĩnh thị trường đầu

tư lớn trên địa bàn Nghệ An trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng cơ bản.

Ngân hàng Công thương Bến Thuỷ đã cung cấp đầy đủ nhu cầu về vốn và các

dịch vụ tiện ích ngân hàng cho khách hàng góp phần thúc đẩy cơng cuộc xây

dựng Cơng nghiệp hố, hiện đại hố ở Nghệ An.

Để phát huy tốt vai trò, chức năng của một ngân hàng thương mại quốc

doanh, Ngân hàng Công thương Bến Thuỷ cần đưa ra những định hướng phát

triển tích cực nhất nhằm đưa ngân hàng phát triển hơn nữa trong những năm

tiếp theo đủ sức cạnh tranh với các ngân hàng trong nước, ngân hàng quốc tế

và vững vàng trên con đường hội nhập nền kinh tế toàn cầu.

- Xây dựng và phát triển hệ thống ngân hàng tài chính bán lẻ, song song

với việc ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả và phù hợp nhằm tăng lợi thế

cạnh tranh trong ngành ngân hàng

- Nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn và cho vay - góp phần đẩy

mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội địa phương

- Chăm lo nguồn nhân lực, hiện đại hóa cơng nghệ ngân hàng

- Bám sát định hướng phát triển kinh tế - xã hội, cho vay các dự án phát

triển kinh tế của tỉnh, đẩy mạnh cho vay có đảm bảo bằng tài sản; cho vay các

thành phần kinh tế phục vụ phát triển kinh tế nhiều thành phần, chú trọng cho

vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu

hạn nhằm khai thác tối đa nguồn lực của địa phương.

- Tích cực đơn đốc thu hồi nợ, xử lý nợ tồn đọng đảm bảo an toàn vốn

của chi nhánh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.12: Tình hình nợ quá hạn và nợ xấu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×