Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
+ Cơ cấu dư nợ trong cho vay còn cần phải tiếp tục hiệu chỉnh để khai thác hết yếu tố tiềm ẩn, phù hợp xu thế hơn:

+ Cơ cấu dư nợ trong cho vay còn cần phải tiếp tục hiệu chỉnh để khai thác hết yếu tố tiềm ẩn, phù hợp xu thế hơn:

Tải bản đầy đủ - 0trang

52

nhưng cũng phản ảnh nỗ lực chủ quan của Ngân hàng. Vì vậy, cần có giải

pháp tăng tỷ trọng cho vay trung-dài hạn.

+ Tuy đạt được những thành quả trên, nhưng nhìn vào kết quả hoạt

động kinh doanh trong thời gian qua chất lượng tín dụng vẫn còn thấp khoản

nợ tồn đọng từ những năm trước chưa xử lý hết, nợ quá hạn vẫn còn phát

sinh... Điều này đòi hỏi Chi nhánh phải có những biện pháp nâng cao chất

lượng tín dụng.

2.3.3. Nguyên nhân hạn chế hoạt động cho vay của ngân hàng Công

thương Bến Thủy đối với doanh nghiệp dân doanh

2.3.3.1. Ngun nhân từ phía ngân hàng

- Tình trạng một số cán bộ tín dụng tiếp tay với khách hàng làm giả hồ

sơ vay, nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố quá cao so với thực tế để rút tiền

ngân hàng đã tồn tại trên thực tế và để lại những hậu quả nghiêm trọng, gây

ảnh hưởng rất lớn đến uy tín ngân hàng. Kiểm tra nội bộ nên được phát huy

về bản chất hơn tính hình thức và phải được xem như là hệ thống "giảm

phanh" của cỗ xe tín dụng. Tín dụng càng tăng trưởng với vận tốc lớn thì hệ

thống này càng phải an tồn, hiệu quả mới có thể tránh cho cỗ xe lao đi trước

những rủi ro vốn luôn tồn tại trên con đường đi tới..

- Sự hợp tác của các NHTM chưa thực sự chặt chẽ cũng là nguyên nhân

gián tiếp gây ra những hạn chế trong hoạt động tín dụng. Một khách hàng vay

vốn tại nhiều ngân hàng khác nhau nhưng khả năng tài chính để trả được nợ

vay phải là một con số cụ thể và có giới hạn tối đa. Nếu do thiếu sự trao đổi

thông tin, dẫn đến nhiều ngân hàng cho vay cùng một khách hàng dẫn đến

mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa

một ngân hàng nào.

- Hạ tầng tài chính phát triển chưa đầy đủ (cơng nghệ, hệ thống thanh

tốn, thị trường liên ngân hàng..) là thách thức không nhỏ để phát triển một



53

khu vực ngân hàng ổn định.

- Chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực ngân hàng còn nhiều bất

cập, số lượng cán bộ có kỹ năng nghiệp vụ cũng như quản trị điều hành và

hoạch định chính sách tốt còn ít, các chương trình đào tạo còn chưa thật sát

với u cầu thực tế. Bên cạnh đó, vấn đề đạo đức nghề nghiệp hiện cũng đang

là một thách thức lớn.

2.3.3.2. Nguyên nhân từ phía khách hàng

- Phần lớn các khách hàng quan hệ tín dụng tại các NHTM đều có

phương án kinh doanh cụ thể, khả thi, mang lại hiệu quả khơng những cho

doanh nghiệp mà còn cho cả ngân hàng. Tuy nhiên, những vụ việc phát sinh

từ một số ít những doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân

hàng để chiếm đoạt tài sản đã để lại những hậu quả hết sức nặng nề, liên quan

đến uy tín của cán bộ và ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khác.

- Ngoài ra, một thực tế hiện nay đã cho thấy phần lớn các doanh nghiệp

khi vay vốn ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, chủ yếu tập trung vốn

đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít có doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung

cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế tốn theo

đúng chuẩn mực. Một khi quy mơ kinh doanh phình ra q to so với tư duy

quản lý thì những rủi ro dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh

đầy khả thi là rất lớn, mà lẽ ra nó phải thành cơng trên thực tế.

- Bên cạnh đó, sự minh bạch về sổ sách kế tốn của doanh nghiệp vẫn

còn là một khó khăn rất lớn đối với cán bộ ngân hàng trong cơng tác thẩm

định năng lực tài chính của khách hàng vay vốn. Các báo cáo tài chính của

doanh nghiệp đơi khi chỉ thể hiện tính hình thức hơn là thực chất. Đây cũng là

nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn chú trọng phần tài sản đảm bảo như là

chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng.



54

2.3.3.3. Ngun nhân từ mơi trường

Mơi trường kinh tế

Sự bất ổn định trong nền kinh tế gây khó khăn cho hoạt động của ngân hàng.

Khi nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tín dụng ngân

hàng phát triển. Nền kinh tế ổn định, lạm phát thấp khơng có khủng hoảng,

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành tốt có hiệu quả

mang lại lợi nhuận cao, doanh nghiệp hoàn trả được vốn vay ngân hàng cả

gốc và lãi, nên hoạt động cho vay của ngân hàng phát triển,chất lượng tín

dụng được nâng cao.

Ngược lại trong thời kỳ suy thoái kinh tế, sản xuất kinh doanh bị thu hẹp,

đầu tư, tiêu dùng giảm sút, lạm phát cao, nhu cầu vay vốn giảm,vốn cho vay đã

thực hiện cũng khó có thể sử dụng có hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn cho ngân

hàng. Hoạt động cho vay ngân hàng giảm sút về quy mô và chất lượng.

Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới

là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của

người đi vay. Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào sản xuất

nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực

phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công... vốn rất nhạy cảm với rủi ro

thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến

động xấu. Những khó khăn do bị khống chế hạn ngạch trong ngành dệt may,

hay những vụ kiện bán phá giá trong ngành thủy sản... làm ảnh hưởng trực

tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng và của các

ngân hàng cho vay nói chung.

Mơi trường pháp lý

-Trong nền kinh tế thị trường có điều tiết của nhà nước, pháp luật có

vai trò quan trọng, là một hàng rào pháp lý tạo ra một môi trường kinh doanh

bình đẳng thuận lợi, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế,



55

nhà nước, cá nhân công dân, bắt buộc các chủ thể phải tuân theo.

- Quan hệ tín dụng phải được pháp luật thừa nhận, pháp luật quy định

cơ chế hoạt động tín dụng, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín

dụng lành mạnh, phát huy vai trò đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đồng

thời duy trì hoạt động tín dụng được ổn định, bảo vệ quyền và lợi ích của các

bên tham gia quan hệ tín dụng.

- Những quy định pháp luật về tín dụng phải phù hợp với điều kiện và

trình độ phát triển kinh tế xã hội, trên cơ sở đó kích thích hoạt động tín dụng

có hiệu quả hơn.Tuy nhiên, hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật nước ta chưa

đồng bộ, gây khó khăn cho ngân hàng khi kí kết thực hiện hợp đồng tín dụng.

Luật ngân hàng còn nhiều sơ hở, chưa đồng bộ với các văn bản luật khác.

Điều này ảnh hưởng đến việc quản lý chất lượng tín dụng của ngân hàng. Sự

thay đổi chủ trương chính sách của Nhà nước cũng gây ảnh hưởng đến khả

năng trảnợ của các doanh nghiệp. Cơ cấu kinh tế, chính sách xuất nhập khẩu,

do thay đổi đột ngột, gây xáo động trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp

không tiêu thụ được sản phẩm, hay chưa có phương án sản xuất kinh doanh

mới dẫn đến nợ q hạn, nợ khó đòi, chất lượng tín dụng giảm sút.

- Những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành nhiều luật và các văn bản

hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Song,

việc triển khai vào hoạt động ngân hàng vẫn còn chậm và gặp phải nhiều

vướng mắc. Như việc cưỡng chế tài sản thu hồi nợ, mặc dù các văn bản luật

đều có quy định: "Trong trường hợp khách hàng khơng trả được nợ, ngân

hàng thương mại có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay", nhưng trên thực tế

các NHTM khơng làm được điều này vì ngân hàng là tổ chức kinh tế, không

phải là cơ quan quyền lực nhà nước, khơng có chức năng cưỡng chế buộc

khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý hoặc chuyển tài

sản đảm bảo nợ vay để tòa án xử lý theo con đường tố tụng...



56

Chương 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY

CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BẾN THỦY ĐỐI VỚI

DOANH NGHIỆP DÂN DOANH

3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ

3.1.1. Định hướng phát triển nền kinh tế Nghệ An

3.1.1.1. Phương hướng và quan điểm phát triển

Huy động tối đa mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là nguồn

nhân lực, ưu tiên đầu tư khai thác tiềm năng miền Tây, vùng Biển và đô thị.

Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong đó ưu tiên cho

các vùng kinh tế trọng điểm và vùng kinh tế khó khăn; chủ động hội nhập

kinh tế khu vực và quốc tế; giữ gìn và phát huy các truyền thống, bản sắc

văn hoá Xứ Nghệ; kiểm soát, kìm giữ, đẩy lùi các tệ nạn xã hội và tội

phạm; giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh

và trật tự an tồn xã hội [4].

3.1.1.2. Mục tiêu tổng quát

Huy động tối đa mọi nguồn lực, nâng cao chất lượng tăng trưởng, đưa

Nghệ An trở thành tỉnh khá trong khu vực phía Bắc vào năm 2015; tạo cơ sở để

đến năm 2020 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp; phấn đấu xây dựng thành phố

Vinh thành trung tâm kinh tế, văn hoá của vùng Bắc Trung bộ.

3.1.1.3. Các chi tiêu chủ yếu

a. Về kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm: 11-12%.

- Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng 17-18%; dịch vụ tăng

11-12%, nông lâm ngư tăng 4,5-5%.



57

- Cơ cấu kinh tế: Công nghiệp - xây dựng 39- 40%, dịch vụ 39-40%,

nông lâm ngư nghiệp 20-21%.

- Thu ngân sách: 9.500- 10.000 tỷ đồng.

- Kim ngạch xuất khẩu: 500-550 triệu USD.

- GDP bình quân đầu người: Phấn đấu đạt 33-34 triệu đồng.

- Tổng đầu tư toàn xã hội: Phấn đấu khoảng 180.000 tỷ đồng.

b. Về xã hội:

- Các xã, phường, thị trấn đều có trường mầm non; trên 65% số trường

đạt chuẩn quốc gia.

- Đạt tỷ lệ 25 giường bệnh trên vạn dân; 100% trạm y tế cấp xã ở đồng

bằng và 80-90% ở miền núi có bác sỹ; 95% số xã, phường đạt chuẩn quốc gia

về y tế.

- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống 15%.

- 95-97% trẻ em trong diện được tiêm chủng.

- Mức giảm tỷ lệ sinh hàng năm 0,4-0,5‰; tốc độ tăng dân số dưới 1%.

- 82-85% gia đình văn hoá; 70% làng bản, khối phố, 100% xã, phường,

thị trấn có thiết chế văn hố thể thao (trong đó 60-65% đạt chuẩn quốc gia).

- Lao động qua đào tạo đạt trên 55% tổng lao động xã hội; 80% lao

động nông nghiệp được tập huấn kỹ thuật.

- Tạo việc làm và thu hút lao động bình quân 35.000 - 40.000

người/năm.

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2,0%/năm.

- 20% số xã đạt tiêu chí nơng thơn mới.

c. Về mơi trường:

- Đảm bảo độ che phủ rừng trên 55%.

- 95% dân số nông thôn được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh (55%

theo tiêu chí Bộ NN&PTNT); 97% dân số đơ thị được dùng nước sạch.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

+ Cơ cấu dư nợ trong cho vay còn cần phải tiếp tục hiệu chỉnh để khai thác hết yếu tố tiềm ẩn, phù hợp xu thế hơn:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×