Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sở dĩ có tình hình tăng trưởng nói chung như trên là do sự biến động cơ cấu trong dư nợ. Do vậy, để giải thích rõ hơn thực trạng tăng trưởng, luận văn sẽ đi phân tích sâu cơ cấu dư nợ trên một số hướng như sau:

Sở dĩ có tình hình tăng trưởng nói chung như trên là do sự biến động cơ cấu trong dư nợ. Do vậy, để giải thích rõ hơn thực trạng tăng trưởng, luận văn sẽ đi phân tích sâu cơ cấu dư nợ trên một số hướng như sau:

Tải bản đầy đủ - 0trang

36

Nhìn vào bảng 2.5, ta thấy tỷ trọng dư nợ đối với công ty cổ phần ngày

càng giảm, năm 2006 là 86,94% nhưng đến năm 2010 thì tỷ trọng là 79,35%

trong tổng dư nợ khối DNDD. Điều này ko phù hợp với sự phát triển của nền

kinh tế thị trường bởi trong hai năm trở lại đây, theo định hướng phát triển

kinh tế của nhà nước thì số lượng cơng ty cổ phần tăng lên nhanh chóng. Tuy

nhiên tỷ trọng dư nợ đối với công ty cổ phần vẫn ở mức khá cao. Đối với

cơng ty tư nhân, loại hình kinh tế này cũng đang ngày càng phát triển, chi

nhánh nên chú ý đến nhóm khách hàng tiềm năng này.

Bảng 2.5: Cơ cấu dư nợ cho vay theo loại hình doanh nghiệp

Đơn vị tính: tỷ đồng



2006

Chỉ tiêu



2007

Tỷ



2008

Tỷ



2009

Tỷ



2010

Tỷ



Tỷ



Số tiền trọng Số tiền trọng Số tiền trọng Số tiền trọng Số tiền trọng



Tổng dư nợ DNDD 259,13

1. Công ty cố phần 225,29

2. Cơng ty TNHH

20,43

3. DN tư nhân

13,40



(%)

100

86,94

7,89

5,17



228,51

193,48

16,97

18,06



(%)

100

84,67

7,43

7,90



186,05

152,76

18,66

14,63



(%)

100

82,11

10,03

7,86



249,04

194,20

36,65

18,19



(%)

100

77,98

14,72

7,30



296,16

235,01

43,86

17,29



(Nguồn: Phòng tổng hợp NHCTBT và chi nhánh NHNN tại Vinh)



(%)

100

79,35

14,81

5,84



37



Hình 2.6: Dư nợ cho vay theo loại hình doanh nghiệp

Thế nhưng, tỷ trọng cho vay đối với loại hình kinh tế dân doanh tại chi

nhánh lại bị thu hẹp từ 7,9% năm 2007 xuống còn 5,84% vào năm 2010, lý

do của chi nhánh là giảm thiểu rủi ro trong cho vay bởi loại hình doanh

nghiệp này có tài sản thế chấp thấp, kinh doanh bấp bênh nên khả năng thu

hồi vốn thấp hơn loại hình cơng ty cổ phần. Đây cũng là một hạn chế mà chi

nhánh nên có biện pháp khắc phục. Do giảm dần tỷ trọng dư nợ đối với công

ty cổ phần nên tỷ trọng dư nợ đối với công ty TNHH cũng tăng từ 7,89% vào

năm 2006 lên 14,81% vào năm 2010.

Như vậy, đối tượng khách hàng được chi nhánh tập trung tiếp cận là

công ty cổ phần và công ty TNHH. Do đây là hai nhóm theo nhận định có khả

năng sản xuất kinh doanh ổn định, tồn tại lâu dài và có chiều hướng phát

triển mở rộng, mức vốn tự có tham gia vào q trình sản xuất kinh doanh

tương đối lớn đòi hỏi họ phải thường xuyên nâng cao quản lý và bảo tồn

vốn, có tài sản lớn phù hợp với điều kiện cho vay của ngân hàng. Nếu ngân

hàng phát triển thêm nhiều sản phẩm tiện lợi thì nhu cầu của nhóm khách



38

hàng này dễ dàng được đáp ứng.

2.2.3.2. Phân tích cơ cấu dư nợ cho vay theo ngành kinh tế

Bảng 2.6: Cơ cấu dư nợ cho vay theo ngành kinh tế

Đơn vị tính: tỷ đồng



2006

2007

2008

2009

2010

Tỷ

Tỷ

Tỷ

Tỷ

Tỷ

Số

Số

Số

Số

Số

Chỉ tiêu

trọng

trọng

trọng

trọng

trọng

tiền

tiền

tiền

tiền

tiền

(%)

(%)

(%)

(%)

(%)

Tổng dư nợ DNDD

259,13 100 228,51 100 186,05 100 249,04 100 296,16

100

1. Nông, lâm, thủy sản

0,39 0,14

0

0 7,76 4,17 8,69 3,49 0,76 0,26

2. Công nghiệp

23,52 9,07 17,22 7,53 56,79 30,53 102,06 40,99 123,59 41,73

3. Xây dựng

207,91 80,23 185,25 81,07 108,67 58,41 106,15 42,62 149,02 50,32

4. Thương mại, dịch vụ 12,34 4,76 4,92 2,15 3,92 2,11 5,21 2,1 3,94 1,33

5. Ngành khác

14,99 5,79 21,12 9,24 8,91 4,79 26,93 10,81 18,85 6,37



(Nguồn: Phòng tổng hợp NHCTBT và chi nhánh NHNN tại Vinh)



Hình 2.7: Dư nợ cho vay theo ngành kinh tế

Trong tổng dư nợ cho vay khối doanh nghiệp dân doanh thì chi nhánh

NHCTBT vẫn tập trung cho vay các ngành kinh tế trọng điểm đó là: ngành



39

cơng nghiệp, xây dựng và một số ngành khác. Tuy nhiên, tỷ trọng dư nợ đối

với ngành xây dựng trong 5 năm lại có xu hướng giảm dần vì chi nhánh tập

trung cho vay đối với các ngành công nghiệp. Dư nợ cho vay đối với ngành

thương mại dịch vụ giảm, tỷ trọng dư nợ đến năm 2010 chỉ còn 1,33%. Dư nợ

thuộc lĩnh vực nông lâm thuỷ sản chiếm tỷ trọng rất thấp và có mức tăng

trưởng chậm, năm 2010 tỷ trọng này chỉ chiếm 0,26% trong tổng dư nợ

DNDD. Điều này có điểm phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của địa

phương đó là cơ cấu nơng nghiệp ngày càng giảm dần do tiến trình đơ thị hố,

mặt khác đối với lĩnh vực nơng nghiệp thì khách hàng vay vốn cũng chủ yếu

tập trung vay ở ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nơng thơn.

Tóm lại, qua phân tích trên ta thấy, việc mở rộng hoạt động cho vay tại

chi nhánh ngân hàng Công thương Bến Thủy đối với các lĩnh vực kinh tế chưa

đều. Chi nhánh chủ yếu tập trung cho vay ngành công nghiệp và xây dựng.

Trong thời gian tới, chi nhánh nên tăng dần tỷ trọng cho vay đối với lĩnh vực

thương mại, dịch vụ để phù hợp với xu thế phát triển kinh tế của thành phố.

2.2.3.3. Phân tích cơ cấu dư nợ cho vay theo hình thức bảo đảm

Bảng 2.7: Cơ cấu dư nợ cho vay theo hình thức bảo đảm

Đơn vị tính: tỷ đồng



Chỉ tiêu phân tích



2006

259,1



2007



2008



2009



2010



Tổng dư nợ DNDD

3 228,51 186,05 249,04 296,16

1. Cho vay có TSĐB

147,82 154,67 139,97 210,23 256,18

- Tỷ trọng cho vay có TSĐB (%)

57,05 67,69 75,23 84,42

86,5

2. Cho vay khơng có TSĐB

111,31 73,84 46,08 38,81 39,98

- Tỷ trọng cho vay khơng có TSĐB (%)

42,95 32,31 24,77 15,58

13,5

(Nguồn: Phòng tổng hợp NHCTBT và chi nhánh NHNN tại Vinh)



40



Hình 2.8: Dư nợ cho vay theo hình thức bảo đảm

Trong tổng số khách hàng là DNDD có quan hệ tín dụng với chi nhánh

hầu như các doanh nghiệp được cấp tín dụng đều cần đến tài sản đảm bảo. Tài

sản đảm bảo là yếu tố đầu tiên để chi nhánh xem xét việc cho vay và là yếu tố

quyết định tới mức cho vay đối với các doanh nghiệp này. Tỷ trọng đảm bảo

bằng tài sản chiếm đến 86,5%. Hình thức bảo đảm bằng tài sản vẫn chủ yếu

dựa vào thế chấp bất động sản, kế đó là hình thức bảo đảm bằng động sản,

Thông thường Chi nhánh sẽ chỉ cho vay từ 50% đến 70% giá trị của tài sản

đảm bảo nếu tài sản đó là bất động sản (nhà cửa, giá trị quyền sử dụng đất).

Điều này đã gây khơng ít khó khăn cho các doanh nghiệp. Theo quy trình tín

dụng của NHCTBT cũng như các quy định của pháp luật về tài sản đảm bảo

thì thủ tục hồn thiện một hồ sơ đảm bảo tiền vay bằng tài sản là giá trị quyền

sử dụng đất thường rất phức tạp, khối lượng giấy tờ có liên quan lớn (sổ đỏ,

trích lục bản đồ, hợp đồng bảo lãnh, thế chấp, các biên bản cần thiết khác…..)

và chiếm một thời gian không nhỏ (thời gian định giá tài sản, thời gian công



41

chứng các giấy tờ có liên quan, thời gian đăng ký các giao dịch đảm bảo…).

Điều này cũng làm mất khơng ít chi phí của cả doanh nghiệp lẫn Ngân hàng.

Bên cạnh đó, việc định giá tài sản là giá trị quyền sử dụng đất rất khó khăn và

phức tạp, giá bất động sản trên địa bàn thành phố thường xuyên biến động

khiến cho việc định giá gặp khơng ít khó khăn. Do chi nhánh sử dụng phổ

biến phương pháp định giá dựa trên khung giá của Nhà nước nên giá trị tài

sản đảm bảo của DNDD thường bị định giá thấp hơn nhiều so với giá thực tế

của nó.

Theo số liệu bảng trên ta thấy, cơ cấu tín dụng của chi nhánh chuyển

dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng cho vay DNDD có tài sản đảm bảo từ

57,05% đến 86,50%, tỷ trọng này quá cao so với tỷ trọng cho vay khơng có

tài sản đảm bảo. Trong khi đó, các cơng ty tư nhân bị giới hạn về tài sản đảm

bảo mà họ lại đang rất cần vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh. Hiện nay, để

nâng cao năng lực cạnh tranh thì nhiều ngân hàng trên địa bàn đã có xu hướng

tăng quy mơ cho vay khơng có tài sản đảm bảo mà cho vay theo đơn đặt hàng,

bảo lãnh, tín chấp... như ngân hàng Ngoại thương, ngân hàng Châu Á...Đây

cũng là một hạn chế của chi nhánh NHCTBT trong quá trình mở rộng hoạt

động cho vay đối với khối doanh nghiệp dân doanh.

Tóm lại, các doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn vay của chi nhánh

do nguyên nhân chính là tài sản đảm bảo. Có những DNDD khơng đủ tài sản

đảm bảo để đáp ứng điều kiện của ngân hàng. Nếu có tài sản đảm bảo thì lại

khó khăn trong thủ tục vay, việc định giá tài sản lại thấp hơn thực tế, thời

gian định giá dài...Điều này đã gây cản trở cho các doanh nghiệp trong khi

họ rất cần có nguồn vốn để bổ sung kịp thời vào hoạt động SXKD. Vì vậy, chi

nhánh cần xem lại và có biện pháp cụ thể là nên mở rộng cho vay khơng có

tài sản đảm bảo và nâng mức cho vay so với giá trị của tài sản.



42

2.2.3.4. Phân tích cơ cấu dư nợ cho vay theo kỳ hạn

Bảng 2.8: Cơ cấu dư nợ cho vay theo theo kỳ hạn

Đơn vị tính: tỷ đồng



Chỉ tiêu



2006

259,1



2007



2008



2009



2010



Tổng dư nợ DNDD

3

228,51 186,05 249,04 296,16

1. Dư nợ ngắn hạn

184,62 169,52 143,85 187,03 243,24

+ % trong tổng dư nợ

71,25 74,18 77,32 75,10 82,13

2. Dư nợ trung-dài hạn

74,51 58,99 42,20 62,01 52,92

+ % trong tổng dư nợ

28,75 25,82 22,68 24,90 17,87

(Nguồn: Phòng tổng hợp NHCTBT và chi nhánh NHNN tại Vinh)



Hình 2.9: Dư nợ cho vay theo kỳ hạn

Tỷ trọng dư nợ ngắn hạn cao (từ 71,25% - 82,13%)

Tỷ trọng dư nợ trung-dài hạn thấp ( dưới 29%)

Như vậy, Ngân hàng chủ yếu cho vay ngắn hạn. Cơ cấu kỳ hạn có sự

mất cân đối. Điều này một phần là do cơ cấu huy động vốn nhưng cũng phản

ảnh nỗ lực chủ quan của Ngân hàng. Vì vậy, cần có giải pháp tăng tỷ trọng

cho vay trung-dài hạn.



43

Để hiểu được bước đầu nguyên nhân của tình hình tăng trưởng dư nợ

trên đây, luận văn sẽ lần lượt phân tích tình hình tăng trưởng của các yếu tố

thành phần trực tiếp dẫn đến tăng trưởng dư nợ.

2.2.4. Phân tích mức tăng trưởng khách hàng DNDD

Thu hút khách hàng là một trong các yếu tố quan trọng nhất, năng động

nhất quyết định quá trình tăng trưởng dư nợ cho vay. Đó là các yếu tố trực

tiếp quyết định qui mơ dư nợ. NHTM cần phải có những chính sách giữ được

khách hàng cũ và tăng thêm khách hàng mới. Trong điều kiện cạnh tranh khốc

liệt như hiện nay, nếu ngân hàng có sản phẩm đa dạng, tiện lợi, xây dựng mức

lãi suất cho vay linh hoạt, cung cấp các loại hình bảo lãnh thích hợp sẽ thu hút

được nhiều khách hàng, giúp ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng

thêm lợi nhuận. Trong thời gian, tình hình khách hàng của NHCTBT có

những biến động đáng kể như sau

Bảng 2.9: Tình hình tăng trưởng khách hàng

Đơn vị tính: tỷ đồng



Chỉ tiêu



2006



2007



2008



2009



2010



Số lượng DN vay



125



120



132



170



196



0



-5



12



38



26



28.8%



15.3%



- Số DN tăng (giảm)



- Tốc độ tăng (giảm) DN

0

- 4.0% 10.0%

(Nguồn: Phòng tổng hợp NHCTBT)



44



Hình 2.10: Tăng trưởng khách hàng

Về số doanh nghiệp là khách hàng vay vốn, ngoại trừ năm 2007 có

giảm đi 5 doanh nghiệp so với năm 2006, còn nhìn chung có xu hướng tăng

liên tục, hằng năm ngân hàng đã thu hút được hàng chục doanh nghiệp vay

vốn, nhất là năm 2009 có mức tăng cao nhất, thu hút thêm 38 doanh nghiệp

với tốc độ tăng gần 30% (lưu ý phần tăng giảm ở đây khơng có điều kiện đi

sâu phân tích chênh lệch số DN thu hút mới với số DN bỏ đi khỏi ngân hàng).

2.2.5. Phân tích mức tăng dư nợ bình quân khách hàng DNDD

Bên cạnh việc duy trì khách hàng cũ, thu hút lượng khách hàng mới thì

mức tăng trưởng dư nợ bình quân khách hàng, tức thu hút các khách hàng lớn

cũng có thể được xem như là một tiêu chí chất lượng quan trọng, một hướng

khai thác theo chiều sâu. Mức tăng trưởng dư nợ bình quân khách hàng đến

một giới hạn nào đó sẽ tiết kiệm nhiều chi phí nghiệp vụ tín dụng cho ngân

hàng nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát được rủi ro.

Tăng trưởng dư nợ bình quân khách hàng phụ thuộc vào việc tìm kiếm,



45

khai thác các khách hàng mới có tiềm lực kinh doanh, vào việc đầu tư thêm

cho khách hàng cũ trên cơ sở kích thích nhu cầu của họ và gia tăng yếu tố bảo

đảm kiểm soát rủi ro. Tình hình tăng trưởng dư nợ bình quân khách hàng thời

gian qua như sau:

Bảng 2.10: Tình hình tăng trưởng dư nợ bình qn khách hàng

Đơn vị tính: tỷ đồng



Chỉ tiêu



2006



2007



259,1



2008



2009



2010



186,0



1.Tổng dư nợ DNDD



3



228,51



5



249,04 296,16



2. Số lượng DN vay



125



120



132



170



196



3. Dư nợ bình qn/mỗi DNDD



2.07



1.90



1.41



1.46



1.51



(Nguồn: Phòng tổng hợp NHCTBT)



Hình 2.11: Tăng trưởng dư nợ bình quân khách hàng



46

Qua bảng 2.10, dư nợ bình quân trên mỗi khách hàng những năm đầu

liên tục giảm, và giảm xuống thấp nhất vào năm 2008, giai đoạn khó khăn của

nền kinh tế và tiếp tục tăng nhẹ đến năm 2010 với dư nợ bình quân trên mỗi

khách hàng là 1,51 tỷ đồng.

So sánh tốc độ (%) tăng số doanh nghiệp vay vốn tại NHCTBT với tốc

độ (%) tăng dư nợ ta có thể thấy được giai đoạn 2007- 2008 mặc dù số lượng

khách hàng tăng lên 10% nhưng do dư nợ bình quân trên mỗi khách hàng lại

giảm từ 1,9 xuống còn 1,41 tỷ đồng nên tốc độ tăng trưởng dư nợ vẫn giảm,

cụ thể là giảm 18,58% vào năm 2008. Trong khi đó, giai đoạn 2009- 2010, dư

nợ bình quân trên mỗi khách hàng đang trên đà tăng trưởng nhưng số lượng

khách hàng lại giảm sút nên tốc độ tăng trưởng dư nợ mặc dù đã tăng cao

(33,86%) vào năm 2009 nhưng lại rớt xuống 18,92% vào năm 2010.

Nhìn chung, ngoại trừ giai đoạn 2007-2008, qui mô cho vay DNDD

liên tục tăng cả về số lượng DNDD, dư nợ bình quân trên mỗi DNDD.

2.2.6. Phân tích tình hình kiểm sốt rủi ro

Như đã trình bày trong chương 1, kiểm sốt rủi ro là mục tiêu gắn liền

tăng trưởng tín dụng trong q trình mở rộng tín dụng với các chỉ tiêu đánh

giá đi kèm như Nợ quá hạn, tỷ lệ nợ quá hạn; Nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu; Tỷ lệ

xóa nợ ròng/ dư nợ; Tỷ lệ trích lập dự phòng/ dư nợ. Trong các chỉ tiêu trên,

nghiên cứu về nợ quá hạn, nợ xấu là các chỉ tiêu cơ bản nhất. Mặt khác, do

hạn chế về nguồn dữ liệu phân tích, ở đây chung ta sẽ tập trung làm rõ việc

kiểm soát rủi ro tín dụng qua tình hình nợ q hạn và nợ xấu.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sở dĩ có tình hình tăng trưởng nói chung như trên là do sự biến động cơ cấu trong dư nợ. Do vậy, để giải thích rõ hơn thực trạng tăng trưởng, luận văn sẽ đi phân tích sâu cơ cấu dư nợ trên một số hướng như sau:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×