Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT HÒA VANG

GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT HÒA VANG

Tải bản đầy đủ - 0trang

56



- Đổi mới và phát triển mạnh công nghệ ngân hàng, cung cấp thêm các

sản phẩm tín dụng, tiện ích, nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ đủ sức

cạnh tranh và hội nhập.

Căn cứ vào phương hướng hoạt động của NH trong thời gian đến, những

định hướng chủ yếu về hoạt động tín dụng của NHNNo – Chi nhánh Hòa

Vang bao gồm:

- Tiếp tục thực hiện chủ trương đẩy mạnh tăng trưởng dư nợ trong thời

gian đến và trong phạm vi chỉ tiêu kế hoạch NHNNo TP Đà Nẵng giao, nhằm

thực hiện mục tiêu kế hoạch kinh doanh chung, cải thiện năng lực tài chính,

giữ vững và mở rộng được thị phần tín dụng trên địa bàn.

- Giữ vững khách hàng truyền thống đi đôi với tiếp cận khách hàng mới,

trong đó, chú trọng tiếp cận khách hàng doanh nghiệp dân doanh, khách hàng

hộ nhằm mở rộng tín dụng có chọn lọc như đầu tư trung hạn một số doanh

nghiệp để mua sắm máy móc thiết bị - nhà xưởng…

- Tiếp tục thực hiện nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 của

Chính phủ về chính sách tín dụng phát triển nơng nghiệp, nơng thơn

- Cần gắn việc mở rộng tín dụng tín dụng với nâng cao chất lượng tín

dụng.

- Tập trung công tác thu hồi nợ quá hạn, nợ xử lý rủi ro, nợ xấu, đẩy

mạnh công tác thu hồi nợ gốc, nợ lãi tồn đọng.

- Chú trọng các giải pháp: nâng cao trách nhiệm cá nhân của cán bộ

ngân hàng trong hoạt động cấp tín dụng; tiếp tục nâng cao chất lượng các hoạt

động đào tạo, huấn luyện; triển khai việc giao khoán đến các bộ phận và từng

cá nhân, gắn việc thực hiện kết quả với khuyến khích lợi ích vật chất; đa dạng

hóa hợp lý cơ cấu tín dụng.

- Chỉ tiêu định hướng về hoạt động cấp tín dụng của chi nhánh:

+ Tăng trưởng dư nợ bình quân: 20%/năm



57



+ Tỷ lệ nợ xấu < 3%

3.1.2. Kết quả phân tích thực trạng mở rộng tín dụng tại Chi nhánh

Qua phân tích thực trạng và những nhân tố ảnh hưởng, những kết luận

chủ yếu được rút ra làm cơ sở cho đề xuất giải pháp bao gồm:

- Quy mơ tín dụng tuy vẫn đạt được mức tăng trưởng liên tục nhưng tiềm

năng tăng trưởng vẫn còn lớn bởi vì chi nhánh vẫn chưa tận dụng được ưu thế

về nguồn vốn huy động tại chỗ; ưu thế về mạng lưới và cơ sở vật chất, cũng

như ưu thế về NH chủ đạo trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

- Tiềm năng cả về tăng trưởng số lượng khách hàng và gia tăng mức vay

bình qn đều còn lớn.

- Cơ cấu cấp tín dụng vẫn còn nhiều bất cập cần hồn thiện. Các bất cập

tập trung ở những điểm nổi bật sau đây:

+ Kỳ hạn tín dụng chủ yếu là ngắn hạn. Tỷ trọng cho vay trung dài hạn

thấp.

+ Tỷ trọng cho vay Doanh nghiệp cao, cho vay hộ gia đình và cá nhân

chưa tương xứng với tiềm năng; các loại hình khách hàng khác chưa được chú

trọng.

+ Về bảo đảm tiền vay, chủ yếu vẫn dựa vào bảo đảm bằng tài sản, trong

đó hình thức thế chấp bất động sản chiếm ưu thế tuyệt đối. Cơ cấu bảo đảm

tiền vay chưa được đa dạng hóa hợp lý.

+ Về cơ cấu cho vay theo mục đích, cho vay tiêu dùng vẫn còn chiếm tỷ

trọng thấp. Điều này chưa phù hợp với xu hướng ngân hàng bán lẻ.

+ Trong cơ cấu tín dụng theo ngành, tỷ trọng cho vay ngành dịch vụ

cao, tỷ trọng cho vay nông – lâm- thủy sản chưa tương xứng với tính đặc thù

của NHNNo và địa bàn.

+ Phương thức cho vay vẫn chủ yếu là phương thức cho vay từng lần.

Các phương thức khác vẫn chưa được triển khai rộng rãi.



58



- Tỷ lệ nợ xấu nhìn chung có xu hướng giảm nhưng khơng ổn định nhất

là khi có những biến động lớn trong môi trường kinh tế vĩ mô.

- Ảnh hưởng của những biến động trong môi trường vĩ mơ lên hoạt động

tín dụng của ngân hàng là tương đối rõ rệt, trong đó chính sách của nhà nước

về khắc phục suy thoái kinh tế và lạm phát có ảnh hưởng lớn nhất. Ngân hàng

cần phải thường xuyên nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng và điều chỉnh

chiến lược và chính sách kinh doanh tín dụng cho phù hợp.

- Chi nhánh đã có những nỗ lực chủ quan dẫn đến những thành tựu về

mở rộng tín dụng như: tăng trưởng huy động vốn cao; phát triển mạng lưới;

hoàn thiện chính sách và quy trình; thực hiện các giải pháp về quản trị nội

bộ..nhưng vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục như: cơ cấu nguồn vốn huy

động ; các hạn chế về chính sách và quy trình tín dụng; về năng lực tiếp cận

thị trường.

3.2. GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG TẠI NHN0 CHI NHÁNH HỊA

VANG

3.2.1. Tích cực tiếp cận khách hàng, chủ động gợi mở nhu cầu, tư vấn,

hướng dẫn khách hàng

Cần phải coi đây là giải pháp ưu tiên vì xuất phát từ đặc điểm của đối

tượng khách hàng ở khu vực nông thôn, nhất là khách hàng hộ sản xuất – kinh

doanh: khả năng thu thập thông tin, kỹ năng kinh doanh hạn chế. Tâm lý

không dám mạo hiểm kinh doanh, e ngại vay vốn của dân cư nơng thơn.

Ngồi ra, các hộ sản xuất – kinh doanh ở nông thôn do thiếu thông tin, yếu về

quan hệ giao tiếp nên ngại trực tiếp tiếp cận với ngân hàng.

- Chuyển từ vai trò thụ động tiếp nhận đề nghị vay vốn sang vai trò chủ

động gợi mở nhu cầu cho khách hàng. Thực hiện vai trò tư vấn, hướng dẫn,

hổ trợ nhiều mặt cho khách hàng, nhất là khách hàng hộ sản xuất. Để làm

được điều này, cần phải khơng ngừng nâng cao trình độ của nhân viên tín



59



dụng. Nhân viên tín dụng vừa phải có kiến thức tốt về hoạt động tài chính –

ngân hàng, vừa phải có những hiểu biết về các lĩnh vực hoạt động sản xuất –

kinh doanh trên địa bàn mình phụ trách, vừa phải có kinh nghiệm hoạt động

tại địa bàn, thiết lập và duy trì tốt các quan hệ với chính quyền cơ sở ở địa

phương, với các tổ chức đoàn thể, và với các khách hàng cũ cũng như khách

hàng tiềm năng. Do đó, có thể nói năng lực và phẩm chất của cán bộ tín dụng

là nhân tố quyết định.

- Tạo cơ hội tiếp cận các dịch vụ tín dụng cho mọi khách hàng có khả

năng và nhu cầu vay vốn, loại bỏ các trở ngại do chi phí giao dịch, do các

hiện tượng tiêu cực. Để thực hiện được giải pháp này, đòi hỏi ngân hàng phải:

+ Tăng cường khâu quảng bá, tiếp xúc trực tiếp, bám sát địa bàn để nắm

thơng tin chính xác từ phía khách hàng.

+ Có biện pháp hạn chế các hiện tượng tiêu cực từ phía nhân viên ngân

hàng trong quan hệ giao dịch tín dụng giữa khách hàng và nhân viên Ngân

hàng.

- Chú trọng hơn nữa các hoạt động chăm sóc khách hàng. Trên thực tế,

các khách hàng hộ và cá nhân vẫn ít được ưu tiên trong các hoạt động chăm

sóc khách hàng của NH. Vì vây, trong thời gian tới, cần nghiên cứu để có các

hình thức triển khai chính sách chăm sóc khách hàng thích hợp với từng đối

tượng khách hàng.

3.2.2. Tăng tỷ trọng cho vay tiêu dùng và đa dạng hóa cơ cấu tín dụng

theo ngành, theo loại hình khách hàng

- Cho vay tiêu dùng là hoạt động tín dụng bán lẻ, và là một dịch vụ phi

truyền thống của các NHTM. Phù hợp với xu hướng tăng tỷ trọng dịch vụ

bán lẻ của các NHTM, các NHTM Việt nam đều tăng cường các hoạt động

cho vay tiêu dùng. Tiềm năng mở rộng quy mô cho vay tiêu dùng rất lớn, nhất

là với điều kiện của huyện Hòa Vang, số hộ gia đình trên địa bàn chưa có



60



quan hệ vay vốn vẫn còn nhiều. Với tỷ trọng cho vay tiêu dùng chỉ xấp xỉ

11%, tăng tỷ trọng cho vay tiêu dùng cũng là một giải pháp quan trọng để mở

rộng quy mô dư nợ tín dụng của chi nhánh. Để tăng tỷ trọng cho vay tiêu

dùng, NH cần phải có những điều chỉnh trong chiến lược cơ cấu tín dụng,

đồng thời hình thành những chính sách khách hàng thích hợp với từng phân

khúc thị trường cho vay tiêu dùng. Mặt khác, tích cực triển khai các hình thức

cấp tín dụng tiêu dùng đa dạng như: cho vay qua thẻ tín dụng; cho vay trả

góp; cho vay qua người bán hàng. Tích cực áp dụng các cơng cụ đo lường rủi

ro tín dụng tiêu dùng như mơ hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng… nhằm

giảm thiểu chi phí hoạt động; tăng hiệu suất lao động của nhân viên cũng như

tạo thuận tiện tối đa cho khách hàng vay.

- Đa dạng hóa cơ cấu cho vay theo ngành kinh tế theo các định hướng cơ

bản sau:

+ Tăng tỷ trọng cho vay các ngành nông, lâm, thủy sản. Điều này phù

hợp với chủ trương của Nghị định 41 của chính phủ và cũng thích hợp với đặc

điểm của một chi nhánh NHNNo hoạt động trên địa bàn mà khu vực nông

thôn vẫn là chủ yếu với các hoạt động ngành nghề nông nghiệp, lâm nghiệp,

thủy sản đa dạng.

+ Tăng tỷ trọng cho vay công nghiệp - tiểu thủ cơng nghiệp trong cơ cấu

dư nợ tín dụng.

+ Về lâu dài, qua việc tăng tỷ trọng 2 nhóm ngành trên mà có sự điều

chỉnh giảm tỷ trọng cho vay ngành dịch vụ hiện đang quá cao.

Về loại hình khách hàng, phù hợp với chủ trương của Nghị định

41/2010/NĐ-CP, NH nên hướng đến các đối tượng khách hàng mà trước đây

vì nhiều lý do, NH chưa có quan hệ tín dụng hoặc có quy mơ tín dụng rất nhỏ.

Chẳng hạn, khu vực Hợp tác xã và tổ hợp tác hoặc các đơn vị sự nghiệp kinh

tế phục vụ phát triển nông ngiệp nông thôn trên địa bàn. Một trong những lý



61



do quan trọng nhất dẫn đến ngân hàng vẫn chưa thực sự quan tâm mở rộng tín

dụng đến các loại hình khách hàng này là vấn đề e ngại rủi ro tín dụng của

nhóm khách hàng này là cao hơn mức bình quân. Để giải quyết vấn đề này,

một mặt cần nâng cao năng lực thẩm định tín dụng và đưa các khách hàng này

vao diện xếp hạng tín dụng , nâng cao chất lượng xếp hạng tín dụng, mặt

khác, áp dụng cơ chế phì bù rủi ro, qua đó, áp dụng chính sách phân biệt lãi

suất theo mức rủi ro.

3.2.3. Triển khai rộng rãi phương thức cho vay theo hạn mức; cho vay

theo dự án đầu tư và các hình thức cấp tín dụng khác

- Cần áp dụng các biện pháp có hiệu lực để nâng tỷ trọng của phương

thức cho vay theo hạn mức và cho vay theo dự án đầu tư.:

+ Phương thức cho vay theo hạn mức sẽ giúp giải quyết được nhiều vấn

đề về chi phí, vừa giảm chi phí của ngân hàng vừa tạo thuận tiện cho khách

hàng. Do đó, áp dụng phương thức này cũng là một giải pháp quan trọng

hướng tới mục tiêu mở rộng tín dụng. Tuy nhiên, để triển khai rộng rãi

phương thức cho vay này đòi hỏi nhiều điều kiện, trong đó, điều kiện quan

trọng nhất là hệ thống thông tin về khách hàng là đầy đủ, chuẩn xác, được cập

nhật liên tục, hệ thống đo lường và đánh giá rủi ro tín dụng của ngân hàng có

chất lượng và vận hành tốt. Đặc biệt, phải kiểm soát được thường xun các

dòng tiền vào, ra của khách hàng. Đó cũng là những điều kiện mà chi nhánh

cần phải chuẩn bị và khơng ngừng hồn thiện.

+ Đối với phương thức cho vay theo dự án đầu tư: Cho vay theo dự án

đầu tư thường có quy mơ dư nợ lớn/từng dự án. Mặt khác, phương thức cho

vay này cho phép cải thiện cơ cấu kỳ hạn vì đa số các khoản vay dự án đầu tư

thường có kỳ hạn dài. Do đó, tăng tỷ trọng cho vay dự án đầu tư là một

phương thức hổ trợ tốt cho mở rộng tín dụng. Để triển khai tốt phương thức

cho vay này, đòi hỏi cơ bản nhất là ngân hàng phải có điều kiện tiếp cận thông



62



tin về dự án đầu tư trước các đối thủ cạnh tranh. Do đó, năng lực tiếp cận

khách hàng, năng lực thu thập thông tin là những yêu cầu cao nhất cần phải

đáp ứng. Những điều này đòi hỏi NH phải thay đổi định hướng đầu tư và có

chiến lược chi tiêu đúng đắn, hợp lý. Ngoài ra, để mở rộng cho vay theo

phương thức này cũng đòi hỏi NH phải có những kỹ năng mới trong thẩm

định dự án, áp dụng những công cụ mới trong phân tích tín dụng.

- Nghiên cứu triển khai từng bước các hình thức cấp tín dụng ngồi hình

thức cho vay truyền thống. Chẳng hạn, trong điều kiện cụ thể của ngân hàng,

có thể đưa vào áp dụng hai hình thức: chiết khấu giấy tờ có giá và bảo lãnh.

Đây là hai hình thức cấp tín dụng đã được nhiều ngân hàng áp dụng, trong khi

ở ngân hàng vẫn chưa có khoản cấp tín dụng nào thuộc hai hình thức này. Về

mặt pháp lý, các quy định hiện thời về hai hình thức này là tương đối rõ. Vấn

đề là cần phải có các hình thức gợi mở nhu cầu, phát huy vai trò tư vấn,

hướng dẫn khách hàng.

- Đa dạng hóa phương thức chuyển tải vốn đến hộ gia đình, cá nhân cũng

là một giải pháp cần được lưu ý. Hiện các NHNNo ở các địa phương đã và

đang áp dụng 3 hình thức chuyển tải vốn đến các hộ gia đình và cá nhân vay

vốn:

+ Cho vay trực tiếp hộ gia đình, cá nhân thơng qua tổ vay vốn

+ Cho vay hộ gia đình, cá nhân thơng qua doanh nghiệp

+ Cho vay hộ gia đình, cá nhân thơng qua việc ủy thác cho các Tổ chức

tín dụng ở nơng thơn.

Đối với NHNNo huyện Hồ Vang, cả ba hình thức chuyển tải vốn trên

cũng cần được vận dụng đối với cho vay hộ gia đình, cá nhân, đặc biệt là ở

khu vực nơng thơn. Trong đó, cần nghiên cứu hình thức cho vay hộ gia đình,

cá nhân thơng qua các doanh nghiệp, kết nối giữa doanh nghiệp chế biến, thu

mua với hộ nơng lâm, ngư nghiệp.



63



3.2.4. Hồn thiện chính sách về bảo đảm tiền vay

Kết quả phân tích thực trạng và những nhân tố ảnh hưởng được trình bày

ở tiểu mục 3.1.2 đã nêu những vấn đề bất cập cần hồn thiện trong thực trạng

áp dụng chính sách bảo đảm tiền vay tại chi nhánh.

Xét ở góc độ hổ trợ cho mục tiêu mở rộng tín dụng, chính sách bảo đảm

tiền vay của chi nhánh cần được hoàn thiện ở những điểm cơ bản sau:

a. Tăng tỷ trọng cho vay bảo đảm không bằng tài sản

Đây là một trong những giải pháp cơ bản cần tháo gỡ để mở rộng tín

dụng nhất là đối với những chi nhánh ngân hàng hoạt động ở khu vực nông

thôn. Sỡ dĩ như vậy là vì khách hàng ở khu vực này thường khơng có tài sản

bảo đảm đầy đủ so với nhu cầu khoản vay; thị trường bất động sản thường có

tính thanh khoản thấp; tài sản bảo đảm thường khó đáp ứng hoàn toàn các yêu

cầu về phương diện pháp lý... Để thực hiện giải pháp này, NH cần phải:

+ Gắn với việc tăng kỹ năng thẩm định tín dụng nói riêng, kỹ năng quản

trị rủi ro tín dụng của NH nói chung.

+ Áp dụng cơ chế mức phí bù rủi ro thay thế cho tài sản bảo đảm. Về lý

thuyết, đã xây dựng được mơ hình xác định tương quan giữa tỷ lệ giá trị tài

sản trên giá trị khoản vay với mức phí bù rủi ro. Đây là mơ hình có tên gọi là

mơ hình cấu trúc kỳ hạn của rủi ro. Có thể áp dụng mơ hình này trong việc

xác định mức phì bù rủi ro trong điều kiện không bảo đảm bằng tài sản.

Đối với đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, hộ sản xuất kinh

doanh ở nông thôn, các hợp tác xã, chủ trang trại, Nghị định 41 của chính phủ

quy định tổ chức tín dụng được phép cho vay khơng có bảo đảm bằng tài sản

theo các mức:

Tối đa đến 50 triệu đồng đối với cá nhân, hộ sản xuất nông, lâm, ngư,

diêm nghiệp



64



Tối đa đến 200 triệu đồng đối với các hộ kinh doanh, sản xuất ngành

nghề hoặc làm dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn

Tối đa đến 500 triệu đồng đối với các đối tượng là các hợp tác xã, chủ

trang trại

Ngoài ra, nghị định này cũng quy định các NH xem xét cho vay tín chấp

đối với các đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình trên cơ sở bảo đảm

của các tổ chức chính trị - xã hội ở nông thôn.

Như vậy, với các đối tượng khách hàng nói trên, NH đã có được cơ sở

pháp lý vững chắc để tiến hành cho vay bảo đảm không bằng tài sản cũng như

cho vay dựa trên cơ sở tín chấp (mà về thực chất vẫn là cho vay bảo đảm

khơng bằng tài sản)

b. Đa dạng hóa cơ cấu bảo đảm bằng tài sản theo hướng giảm bớt tỷ

trọng bảo đảm bằng thế chấp bất động sản

Biến động của thị trường bất động sản trong thời gian qua cho thấy

những rủi ro tiềm ẩn trong hình thức bảo đảm này, Chẳng hạn, rủi ro về thanh

khoản, rủi ro về giá...Vì vậy, cần thiết phải áp dụng các hình thức bảo đảm đa

dạng hơn: tăng tỷ trọng bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ, máy móc thiết bị; triển

khai hình thức bảo đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai...

c. Nâng cao kỹ năng thẩm định tài sản bảo đảm, trong đó chú ý kỹ năng

thẩm định gía trị, tính pháp lý, khả năng thanh khoản.

3.2.5. Tiếp tục phát triển mạng lưới giao dịch với hình thức thích hợp

Số lượng khách hàng vay vốn của NH còn thấp so với tiềm năng là một

nhận định được rút ra từ phân tích thực trạng. Một trong những lý do là mặc

dù có những ưu thế nhất đinh về phân bổ mạng lưới cơ sở giao dịch nhưng do

địa bàn quá rộng (chiếm đến 80% diện tích của TP Đà nẵng), dân cư phân bố

không đều, các chi nhánh hoặc phòng giao dịch chỉ phân bố ở khu vực đông

dân cư nên làm giảm khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng của những hộ ở xa



65



cơ sở giao dịch. Mặt khác, với các hộ gia đình nơng thơn, do những hạn chế

về tâm lý, về thông tin, về kiến thức, việc tiếp xúc trực tiếp với nhân viên

ngân hàng là một trong những tiền đề quan trọng để họ nảy sinh nhu cầu vay

vốn. Do vậy, nhu cầu mở rộng mạng lưới giao dịch, đưa cơ sở giao dịch đến

gần hơn với các khu vực dân cư là một vấn đề cần đặt ra.

Tuy nhiên, việc mở rộng mạng lưới giao dịch cũng nảy sinh các vấn đề

về chi phí và hiệu quả kinh doanh. Đây là bài tốn khó phụ thuộc vào nhiều

yếu tố, đòi hỏi những cân nhắc nhiều mặt. Giải pháp khả thi cho vấn đề này

đối với ngân hàng là nghiên cứu các hình thức thích hợp của điểm giao dịch

phù hợp với quy mô giao dịch hiện tại và tiềm năng. Theo hướng đó, có thể

bố trí các điểm giao dịch gọn nhẹ hoặc mạnh dạn thí điểm hình thức đại lý

giao dịch.

Dự án Ngân hàng lưu động cũng là một kênh chuyển tải vốn kịp thời đến

với những khu vực xa trung tâm nhằm giúp cho hộ gia đình, hộ sản xuất nông

thôn tiếp cận được vốn vay kịp thời cũng như các dịch vụ khác của ngân hàng.

Đối với những cơ sở giao dịch hiện có (Trung tâm chi nhánh Hòa vang;

Chi nhánh Hòa Sơn. Phòng giao dịch Hòa Phước) tiếp tục đầu tư hiện đại hóa

trang, thiết bị, xây dựng, cải tạo cơ sở khang trang, đáp ứng đủ các tiêu chuẩn

của một cơ sở giao dịch, đồng thời là một bằng chứng vật chất cho hoạt động

Marketing, tạo uy tín cho ngân hàng.

3.2.6. Đối mới cơ cấu kỳ hạn và chính sách kỳ hạn trong chính sách tín dụng

- Tăng kỳ hạn vay bình quân theo hướng tăng tỷ trọng vay trung dài hạn.

Trong đó, chú ý triển khai các khoản vay dài hạn hiện chưa được áp dụng. Để

làm được điều này cần phải triển khai các biện pháp đồng bộ sau:

+ Điều chỉnh cơ cấu kỳ hạn huy động vốn theo hướng tăng tỷ trọng huy

động vốn trung, dài hạn. Như đã phân tích ở chương 2, tỷ trọng huy động tiền

gửi không kỳ hạn và dưới 12 tháng chiếm tỷ trọng cao trong tổng huy động.



66



Đây là một trong những nguyên nhân làm cho ngân hàng bị hạn chế trong

việc tăng tỷ trọng cho vay trung dài hạn. Vì vây, NH phải nỗ lực nhiều hơn

trong việc tìm kiếm các nguồn vốn có kỳ hạn trên 12 tháng.

+ Tăng tỷ trọng cho vay theo dự án đầu tư. Tỷ trọng cho vay theo dự án

đầu tư hiện vẫn còn thấp, năm cao nhất vẫn chưa đạt đến 8%. Việc tăng tỷ

trọng cho vay theo dự án đầu tư sẽ kéo theo tỷ trọng cho vay trung, dài hạn sẽ

tăng. Mặt khác, cho vay theo dự án đầu tư thường có quy mơ lớn, do đó một

mặt sẽ mở rộng quy mô, mặt khác, tận dụng được lợi thế tiết kiệm chi phí do

quy mơ để nâng cao năng lực sinh lời. Hiện nay, NHNNo Hoà vang cũng đã

tiến hành tiếp cận các dự án đầu tư. Trong thời gian tới, NH cần nỗ lực hơn

nữa để nâng dư nợ cho vay theo dự án đầu tư.

+ Nghiên cứu áp dụng cấu trúc kỳ hạn của khoản vay phù hợp với đặc

điểm biến động lãi suất từng thời kỳ. Về lý thuyết, tương quan về lãi suất giữa

các khoản vay có cùng mức rủi ro vỡ nợ, khả năng thanh khoản, và thuế thu

nhập nhưng khác nhau về kỳ hạn gọi là cấu trúc kỳ hạn của lãi suất. Để có

chính sách lãi suất hợp lý, cần phải xây dựng các mức lãi suất phân biệt theo

từng kỳ hạn căn cứ vào diễn biến của lãi suất theo từng thời kỳ. Điều này, đòi

hỏi phải có dự báo tốt về sự biến động lãi suất.

+ Cơ cấu kỳ hạn cho vay còn phụ thuộc vào năng lực quản trị rủi tro lãi

suất của ngân hàng. Thường để hạn chế rủi ro lãi suất, cơ cấu kỳ hạn của tài

sản của NH phải phù hợp với cơ cáu kỳ hạn của nợ. Mặt khác, những khoản

cho vay có kỳ hạn càng dài thì rủi ro lãi suất càng lớn. Do đó, tăng cường

năng lực quản trị rủi ro lãi suất, áp dụng những mơ hình quản trị rủi ro lãi suất

tiên tiến là một giải pháp để có thể hạn chế những tác động tiêu cực của rủi

tro lãi suất, tăng tính chủ động trong việc xác định cơ cấu dư nợ tín dụng theo

kỳ hạn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT HÒA VANG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×