Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thị phần dư nợ tín dụng của NHNNo Hoà vang và mức tăng trưởng thị phần dư nợ tín dụng như đã trình bày trong bảng trên thể hiện ưu thế vượt trội về năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong lĩnh vực tín dụng.

Thị phần dư nợ tín dụng của NHNNo Hoà vang và mức tăng trưởng thị phần dư nợ tín dụng như đã trình bày trong bảng trên thể hiện ưu thế vượt trội về năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong lĩnh vực tín dụng.

Tải bản đầy đủ - 0trang

39



- Tỷ trọng dư nợ trung hạn thấp. Tính chung cho cả ba năm, tỷ trọng dư

nợ cho vay trung hạn dều dưới 26%. Đặc biệt trong năm 2010, tỷ trọng dư nợ

trung hạn chỉ chiếm xấp xỉ 17%.

- Tỷ trọng dư nợ dài hạn khơng có.

Như vậy, NH chủ yếu cho vay ngắn hạn. Cơ cấu kỳ hạn có sự mất cân

đối. Điều này một phần là do cơ cấu huy động vốn. Trong cơ cấu huy động

vốn, tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 12 tháng qua các năm đều

rất lớn. Cụ thể, năm 2008, tỷ trọng này là 78,1%; năm 2009, tỷ trọng này là

81,08%, năm 2010 tỷ trọng này là 72,65%. Phần khác, phụ thuộc vào nhu cầu

thị trường. Các khách hàng vay, do có ít nhu cầu đầu tư, tài trợ dài hạn nên đã

lựa chọn phương thức vay ngắn hạn. Tuy nhiên, điều này cũng phản ảnh nỗ

lực chủ quan của NH trong việc tiếp cận các khách hàng vay có nhu cầu tài

trợ trung, dài hạn cũng như khả năng tư vấn, hướng dẫn, gợi ý của NH. Vì

vậy, cần có giải pháp tăng tỷ trọng cho vay trung và dài hạn.

b. Cơ cấu dư nợ theo loại hình khách hàng

Bảng 2.8. Cơ cấu dư nợ theo loại hình khách hàng

ĐVT: % trong tổng dư nợ

2008



2009



2010



1. Đơn vị sự nghiệp kinh tế (Nhà nước)



0



0,8



0,55



2. Doanh nghiệp



6,6



65,04



66,89



2. Hộ gia đình và cá nhân



53,4



34,15



32,55



100



100



100



Cộng



Nguồn: Báo cáo hoạt động tín dụng các năm 2008, 2009, 2010 của NHNNo

Hòa vang

- Tỷ trọng cho vay chủ yếu thuộc về các khách hàng doanh nghiệp. Tỷ

trọng cho vay năm thấp nhất cũng chiếm đến 46,6%. Năm cao nhất lên đến

gần 67%. Tuy số lượng khách hàng khơng cao, nhưng dư nợ bình qn trên



40



một khách hàng của nhóm khách hàng này rất cao nên tính chung quy mô cho

vay Doanh nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Việc phát triển về số lượng đối với

khách hàng nhóm này cũng vẫn cần đặt ra. Đặc điểm của các DN trên địa bàn

đều là DN nhỏ và vừa và đều là DN tư nhân hoặc DN cổ phần hóa.

- Hộ gia đình và cá nhân cũng là đối tượng khách hàng chủ lực. Tỷ

trọng cho vay nhóm này đều trên 30%. Đặc biệt, trong năm 2008, khi tình

hình kinh tế khó khăn, tỷ trọng cho vay nhóm khách hàng này đã lên đến

53,4%. Điều này cho thấy đây là nhóm khách hàng có khả năng ổn định cao

và tiềm năng mở rộng số lượng còn lớn.

- Các nhóm khách hàng khác có quy mơ khơng đáng kể. Trong đó,

đáng chú ý là đơn vị sự nghiệp kinh tế và các Hợp tác xã. Các đơn vị sự

nghiệp kinh tế có tiềm năng về mở rộng tín dụng nếu có giải pháp để kiểm

sốt rủi ro tốt hơn. Tương tự, khu vực HTX vẫn chưa phải là đối tượng khách

hàng vay của NH vì NH rất sợ rủi ro đối với khu vực này.

c. Cơ cấu dư nợ theo hình thức bảo đảm tiền vay

Bảng 2.9. Cơ cấu dư nợ theo hình thức bảo đảm tiền vay

ĐVT: % trong tổng dư nợ

Năm 2008



Năm 2009



Năm 2010



79



89



91



- Bất động sản



62,04



56,48



53,8



- Động sản



24,56



34,47



33,9



- Giấy tờ có giá



0,52



5,4



10,1



- Máy móc thiết bị khác

2. Dư nợ bảo đảm không bằng tài sản

Cộng



8,23

21

100



3,63

11

100



2,16

9

100



1. Dư nợ bảo đảm bằng tài sản

Trong đó (100%):



Nguồn: Báo cáo tín dụng các năm 2008, 2009, 2010 của NHNNo Hòa vang

Qua bảng 2.9, có thể rút ra một số nhận xét chủ yếu sau đây:

- Ngân hàng vẫn chủ yếu thực hiện cấp tín dụng có bảo đảm bằng tài

sản. Tỷ trọng bảo đảm bằng tài sản chiếm trên 79%. Trong năm 2010, tỷ trọng



41



này lên đến 91%. Điều này bảo đảm cho NH hạn chế được rủi ro tín dụng.

Tuy nhiên, trên thực tế, nó sẽ hạn chế việc mở rộng quy mơ tín dụng. Tỷ lệ

cấp tín dụng/tổng huy động vốn tại chỗ của NH qua các năm vẫn còn thấp thể

hiện nhận định này: năm 2008, tỷ lệ dư nợ tín dụng/huy động vốn tại chỗ là

63,4%; qua năm 2009, tỷ lệ này giảm xuống xấp xỉ 40% và đến năm 2010, tỷ

lệ này là 46,6%. Tỷ trọng bảo đảm khơng bằng tài sản thấp và có xu hướng

giảm. Năm 2008 là 21% nhưng đến năm 2010, tỷ trọng này giảm hơn 1/2.

Trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp khó khăn, việc cho vay có bảo

đảm bằng tài sản là một định hướng đúng nhằm để ngăn ngừa rủi ro nhưng

xét về lâu dài, để gia tăng quy mơ tín dụng, điều này cần phải được cải thiện

bằng cách nâng cao tỷ trọng bảo đảm không bằng tài sản.

- Hình thức bảo đảm bằng tài sản vẫn chủ yếu dựa vào thế chấp bất

động sản. Tỷ trọng dư nợ bảo đảm bằng thế chấp bất động sản chiếm tỷ trọng

từ 53,4% đến 62,04%. Kế đó là hình thức bảo đảm bằng động sản chiếm tỷ

trọng từ 24% đến 35%. Các hình thức bảo đảm tài sản khác vẫn chưa được coi

trọng. Chẳng han, tỷ trọng bảo đảm bằng giấy tờ có giá năm 2008 chỉ chiếm

0,52%, đến năm 2010, tỷ trọng này có tăng cao nhưng cũng chỉ chiếm 10,1%.

Hình thức bảo đảm bằng máy móc, thiết bị chỉ chiếm tỷ trọng dưới 9%. Đặc

biệt trong năm 2009 chỉ chiếm 3,63% và năm 2010 chỉ chiếm 2,16%.

Trong bối cảnh kinh tế khó khăn những năm vừa qua và cả trong một

số năm sắp tới, thị trường bất động sản chứa đựng nhiều rủi ro, việc NH dựa

quá nhiều vào bảo đảm bằng bất động sản có thể sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ.

Một trong các nguy cơ là khả năng thanh khoản của bất động sản. Các bất

động sản nhất là ở khu vực ngoại thành thành phố trong nhiều trường hợp tính

thanh khoản là thấp, nhất là trong bối cảnh kinh tế khó khăn.Mặt khác, NH

cũng sẽ phải đối diện với nguy cơ bất động sản giảm giá. Vì vây, NH cần phải



42



có giải pháp một mặt giảm bớt tỷ trọng thế chấp bất động sản, mặt khác, gia

tăng các kỹ năng về thẩm định bất động sản thế chấp để hạn chế các rủi ro.

d. Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế và mục đích vay vốn

Bảng 2.10. Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế và mục đich vay vốn

ĐVT: % trong tổng dư nợ



1. Nơng nghiêp

2. Lâm nghiệp

3. Thủy sản

4. Khai khống



Năm



Năm



Năm



2008

13,11



2009



2010



10,85



7,75



0,90

0,77



0,37

0,83



1,93

0,40



1,11



0,21



0,20



5,97



13,74



10,64



65,74

0,00

0,07

0,66



65,89

0,00

0,00

0,63



71,60

0,14

0,00

0,00



11,17

0,50

100



7,43

0,05

100



7,17

0,17

100



5.Cơng nghiệp chế biên,

chế tạo, sữa chữa điện

6. Dịch vụ

7. Tài chính – ngân hàng

8. Bât động sản

9. Xuất nhập khẩu

10.Tiêu dùng

11. Khác

Cộng



Nguồn: Báo cáo tín dụng các năm 2008, 2009, 2010 của NHNNo Hòa vang

Trong cơ cấu dư nợ, tín dụng sản xuất – kinh doanh chiếm tỷ trọng cao.

Trong cả ba năm tỷ trọng dư nợ tín dụng sản xuất – kinh doanh trong tổng dư

nợ đều đạt xấp xỉ 90% trở lên. Cụ thể: năm 2008, tỷ trọng này là 88,33%, qua

năm 2009, tỷ trọng này là 92,55% và qua năm 2010, tỷ trọng này là 92,66%.

Dư nợ tín dụng tiêu dùng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ dưới 12% và có xu hướng

giảm tỷ trọng. Năm 2008, tỷ trọng dư nợ tín dụng tiêu dùng là 11,17%, qua

năm 2009 giảm xuống còn 7,43% và qua năm 2010, tỷ trọng này là 7,17%.

Đây là điều cần chú ý, nhất là trong xu hướng ngân hàng bán lẻ hiện nay.



43



Dịch vụ cho vay tiêu dùng là một loại dịch vụ tín dụng bán lẻ có nhiều triển

vọng.

Trong các ngành sản xuất – kinh doanh thì tỷ trọng dư nợ dịch vụ

chiếm rất cao (cả ba năm đều trên 65%), cụ thể: năm 2008, tỷ trọng dư nợ

dịch vụ chiếm trong tổng số là 65,74%, năm 2009 tỷ trọng này là 65,89% và

qua năm 2010, tỷ trọng này là 71,6%. Trong khi đó, tỷ trọng cho vay nơng

nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản chưa tương xứng với đặc điểm của địa bàn phục

vụ là mơt huyện ngoại thành có tỷ trọng nơng – lâm nghiệp- thủy sản cao

trong cơ cấu kinh tế cao so với quận nội thành. Tính chung tỷ trọng dư nợ của

3 ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản trong tổng dư nợ năm cao nhất

chỉ đạt 14,78%, năm thấp nhất chỉ đạt 9,78%. Đặc biệt, tỷ trọng cho vay nơng

nghiệp có xu hướng giảm. Năm 2008 tỷ trọng dư nợ cho vay nông ngiệp trong

tổng dư nợ là 13,11%, qua năm 2009, tỷ trọng này chỉ còn 10,85%, và qua

năm 2010, tỷ trọng này giảm xuống 7,75%. Đây là hạn chế rất cần được NH

lưu ý để có giải pháp khắc phục.

Một xu hướng tích cực trong cơ cấu là tỷ trọng dư nợ ngành công

nghiệp chế biến, chế tạo, sửa chữa điện tương đối cao, năm 2009 đạt đến

13,74%, năm thấp nhất cũng đạt 5,97% và dư nợ kinh doanh bất động sản

chiếm tỷ trọng rất thấp, hai năm gần đây tỷ trọng này bằng 0. Điều này thể

hiện, NH đã thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của NH Nhà nước về tín dụng

kinh doanh bất động sản.

Tỷ trọng cho vay một số ngành có tỷ trọng rất thấp, khơng đáng kế.

Chẳng hạn, khai khống, xuất nhập khẩu...Điều này là do đặc điểm của địa

bàn nơi mà NH đang hoạt động.

e. Cơ cấu dư nợ theo phương thức cấp tín dụng

Bảng 2.11. Cơ cấu dư nợ theo phương thức cấp tín dụng

ĐVT: % trong tổng dư nợ



44



2008



2009



2010



20,57



38,65



40,07



0



7,45



6,34



- Cho vay từng lần

2. Các hình thức cấp tín



86,53



53,9



53,58



dụng khác (chiết khấu giấy



0



0



0



100



100



100



1. Cho vay

- Cho vay theo hạn mức

- Cho vay theo DAĐT



tờ có giá, bao thanh tốn..)

Cộng



Nguồn: Báo cáo tín dụng các năm 2008, 2009, 2010 của NHNNo Hòa vang

Cơ cấu cấp tín dụng ngày càng được đa dạng hóa tốt hơn. Tỷ trọng cho

vay theo hạn mức có xu hướng tăng (từ 20,57% năm 2008 lên 40,07% năm

2010). Đây là một xu hướng tích cực, nhất là đối với một NH hoạt động trên

một địa bàn của một huyện ngoại thành. Tương tự, cho vay theo dự án đầu tư

cũng có sự tăng tỷ trọng. Từ 0% năm 2008 lên 7,45% năm 2009 và 6,34%

năm 2010. Tương ứng với điều này là sự giảm tỷ trọng trong phương thức cho

vay từng lần.

Tuy nhiên có 2 điểm cần lưu ý để có giải pháp khắc phục:

- Tỷ trọng dư nợ cho vay theo phương thức cho vay từng lần vẫn còn cao.

- 100% dư nợ cấp tín dụng là cho vay. Các phương thức cấp tín dụng

khác theo Luât Tổ chức tín dụng vẫn chưa được triển khai như: chiết khấu

thương phiếu và giấy tờ có giá; bao thanh tốn; bão lãnh. Trong đó, bao thanh

tốn là phương thức cấp tín dụng khó triển khai tại Chi nhánh này. Trong khi

đó, chiết khấu giấy tờ có giá và bảo lãnh là hai phương thức cấp tín dụng có

thể triển khai được ngay. Điều này cho thấy đa dạng hóa phương thức cấp tín

dụng cũng sẽ là một giải pháp mở rộng tín dụng.

2.2.2.4. Đánh giá các mục tiêu kiểm soát

a. Đánh giá mục tiêu kiểm soát rủi ro tín dụng



45



Để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng trong tương quan với tăng trưởng

quy mơ tín dụng có thể sử dụng các chỉ tiêu: tỷ lệ nợ xấu/ tổng dư nợ; tỷ lệ

xóa nợ ròng/tổng dư nợ; Tỷ lệ trích lập dự phòng/tổng dư nợ...Mỗi chỉ tiêu có

một ý nghĩa nhất định và đã được phân tích ở chương 1.

Với điều kiện số liệu hiện có, luận văn sử dụng các chỉ tiêu: mức tăng

(giảm) nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu; mức tăng (giảm) tỷ lệ trích lập dự phòng/dư nợ.

Nhìn chung, các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng đều có xu hướng giảm

qua các năm, ngoại trừ năm 2009. Tình hình rủi ro tín dụng của năm này tăng

so với năm trước là do một số khách hàng bị ảnh hưởng khủng hoảng tài

chính của năm 2008 nên ngừng sản xuất và khơng có khả năng thanh tốn nợ

đúng hạn, một số khoản vay trung hạn, tiêu dùng đời sống quá hạn phân kỳ do

cán bộ tín dụng ít nên khơng nhắc nhở, đôn đốc kịp thời dẫn đến tăng hơn so

với đầu năm. Đặc biệt, cơn bão số 9 đã làm ảnh hưởng nặng nề đến đời sống

kinh tế, xã hội tại địa phương.

Ngoải ra, những nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng cũng góp

phần làm rủi ro tín dụng nặng thêm, trong đó có 2 hạn chế lớn:

- Cơng tác thu thập thơng tin trong khâu thẩm định còn yếu dẫn đến cho

vay bị trùng lắp với các chi nhánh khác và bị chuyển nợ quá hạn theo.

- CBTD còn hạn chế trong khâu giải thích, ứng xử với khách hàng, nhất

là khách hàng hộ nông dân.

Bảng 2.12. Thực trạng rủi ro tín dụng qua các năm 2007 - 2010

Đơn

vị

tính



1. Nợ xấu



Tr.đ



Tăng, giảm so với năm trước

(+/-)

Năm 2008 Năm 2009

so với

so với

năm 2007 năm 2008

(+/-)

(+/-)

- 2373



+ 3081



Năm 2010

so với năm

2009

(+/-)

- 3179



46



2. Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ

3. Tỷ lệ trích lập dự



%

%



- 5,41

-2,1%



+ 1,44

+ 0,6%



- 2,46

- 0,7%



phòng/tổng dư nợ

Nguồn: Báo cáo tín dụng các năm 2008, 2009, 2010 của NHNNo Hòa vang

Qua năm 2010, nợ xấu giảm nhiều so với năm 2009. Dư nợ xấu giảm

đến – 3179 triệu so với năm 2009, tương ứng với mức giảm tỷ lệ nợ xấu là –

2,46%. Theo đánh giá của NH thì tình hình nợ xấu được cải thiện là do sự

lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết của Ban giám đốc giao khốn cho từng phòng,

từng cán bộ tín dụng cũng như sự nỗ lực không ngừng tận thu các khoản nợ

quá hạn và nợ xấu phát sinh của toàn chi nhánh. Bên cạnh đó, việc cho xử lý

rủi ro của ngân hàng cấp trên một số khoản nợ xấu cũng tác động tích cực đến

cơng tác thu hồi nợ xấu trong năm 2010. Trong năm 2010, chi nhánh đã thu

hồi được nợ xử lý rủi ro là 5.399 triệu đồng, đạt 107% so với hoạch giao cả

năm. Thu hồi nợ tồn đọng nhóm 2 là 331 triệu đồng. Đạt được thành cơng đó

là do chi nhánh đã thực hiện đơn đốc và giao kế hoạc thu hồi nợ xử lý rủi ro

cho từng cán bộ tín dụng, cương quyết khởi kiện một số hồ sơ ra toà nhằm thu

hồi tốt và phấn đấu hoàn thành kế hoạch mà NHNNo TP Đà Nẵng đã giao

Tỷ lệ trích lập dự phòng/tổng dư nợ tín dụng cũng diễn biến cùng chiều

với tỷ lệ nợ xấu.

b. Đánh giá năng lực sinh lời của hoạt động tín dụng

Như đã đề cập trong chương 1, năng lực sinh lời của hoạt động tín dụng

có thể đánh giá qua các chỉ tiêu khác nhau như: Tỷ lệ thu nhập lãi ròng cận

biên (NIM); Chênh lệch lãi suất bình quân; Tỷ suất sinh lời trên 1 đồng dư nợ.

Đây cũng là những chỉ tiêu có thể sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động tín

dụng của NH.



47



Tuy nhiên, điều kiện về số liệu chỉ cho phép tính chỉ tiêu chênh lệch lãi

suất bình quân.

Bảng 2.13. Tình hình tăng, giảm lãi suất

Mức tăng



Mức tăng



(+)/giảm (-) 2009



(+)/giảm (-) 2010



1. Lãi suất bình quân đầu ra



so với 2008

- 0,7



so với 2009

+ 0,06



(%/tháng)

2. Lãi suất bình quân đầu vào



- 0,22



+ 0,03



(%/tháng)

3. Chênh lệch lãi suất bình quân



- 0,22



- 0,03



Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2008, 2009, 2010

Chênh lệch lãi suất bình quân năm 2008 rất cao. Trong khi đó, chênh

lệch lãi suất của năm 2009 giảm - 0,22%, tức giảm - 40% so với năm 2008.

Lý do: lãi suất bình quân đầu vào và đầu ra đều giảm so với năm 2008 nhưng

lãi suất bình quân đầu ra giảm đến 0,7%/tháng trong khi lãi suất bình quân

đầu vào chỉ giảm 0,22%. Dẫn đến, chênh lệch lãi suất giữa đầu ra và đầu vào

giảm đến - 0,22%/tháng. Đây là mức giảm cực lớn, phản ảnh những biến

động trong kinh tế vĩ mô. Qua năm 2010, chênh lệch lãi suất bình quân tăng

0,03%, tức tốc độ tăng là 8,3% so với năm 2009 do lãi suất bình quân đầu ra

và đầu vào đều tăng, trong khi mức tăng của lãi suát bình quân đầu ra nhanh

hơn (0,06% so với 0,03%)

Trên thực tế, chỉ tiêu chênh lệch lãi suất bình quân phụ thuộc chủ yếu

vào những biện động trong nền kinh tế. Tuy nhiên, nó cũng phản ảnh được

những nỗ lực chủ quan của NH trong hoạt động huy động vốn và cấp tín

dụng. Cụ thể, phản ảnh cơ cấu huy động vốn, chính sách lãi suất, cơ cấu cấp

tín dụng, cơ cấu sử dụng tài sản, chính sách định lãi suất đầu ra, năng lực của

ngân hàng trong việc quản trị rủi ro lãi suất.



48



2.3. PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU ĐẾN

THỰC TRẠNG MỞ RỘNG TÍN DỤNG

2.3.1. Nhóm nhân tố bên ngồi Ngân hàng

a. Những nhân tố thuộc về mơi trường vĩ mơ

Q trình mở rộng tín dụng của NHNNo – Chi nhánh Hòa vang trong

những năm qua chịu ảnh hưởng khá rõ từ những biến động trong nền kinh tế

vĩ mô.

Sau một thời gian đạt tốc độ tăng trưởng cao và giữ ổn định các chỉ tiêu

lạm phát, lãi suất, tỷ giá, dưới tác động của những tác nhân bên ngoài cộng

với những thiếu sót chủ quan trong điều hành, nền kinh tế đã gặp những khó

khăn lớn trong năm 2008. Sản xuất, xuất khẩu bị suy giảm, đình trệ, lạm phát

cao, lãi suất liên túc tăng cao, các ngân hàng bị thiếu hụt thanh khoản buộc

phải tham gia vào cuộc đua lãi suất. Chính phủ buộc phải thực hiện chính

sách thắt chặt tiền tệ, tín dụng, tài khóa. Trong điều kiện đó, mức tăng trưởng

tín dụng của tất cả các ngân hàng đều bị suy giảm, rủi ro tín dụng có nguy cơ

gia tăng.

Các số liệu trình bày ở bảng 2.4 và 2.5. và 2.12 cho thấy ảnh hưởng

của các nhân tố này lên q trình mở rộng tín dụng của NHNNo Chi nhánh

Hòa vang. Số lượng khách hàng của năm 2009 giảm so với năm 2008. Tỷ lệ

nợ xấu của năm 2009 tăng 1,44% so với năm 2008. Đó là do hậu quả của suy

thoái kinh tế năm 2008.

Tuy nhiên, trong điều kiện biến động lãi suất cao, ngân hàng không chỉ

gặp khó khăn mà về mặt nào đó cũng có những thuận lợi. Chẳng hạn, trong

năm 2008 là năm mà biến động lãi suất theo chiều hướng tăng cao đột biến,

tính tốn cho thấy chênh lệch lãi suất bình qn lên đến 0,55% là mức rất cao

so với các năm khác. Điều này dẫn đến mặc dù dư nợ năm 2008 thấp hơn năm

2009 nhưng thu nhập lãi từ hoạt động tín dụng lại cao hơn.



49



Qua năm 2009 - 2010, với chính sách kích cầu của Chính phủ, đặc biệt

với chính sách cho vay hổ trợ lãi suất, quy mơ tín dụng của các ngân hàng có

điều kiện thuận lợi để gia tăng. Dư nợ cho vay hổ trợ lãi suất của chi nhánh

đến 31/12/2010 đã lên đến 8.789 triệu đồng chiếm tỷ lệ 4,87% tổng dư nợ.

Trong đó: dư nợ cho vay theo Quyết định 131 là 399 triệu đồng; Dư nợ cho

vay theo Quyết định 443 là 5.507 triệu đồng; Dư nợ cho vay theo Quyết định

497 là 1.384 triệu đồng, trong năm 2010 cho vay thêm 1499 triệu đồng. Do

đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng của 2 năm 2009, 2010 đều cao. Đặc biệt năm

2009, năm triển khai chính sách kích cầu, tốc độ tăng dư nợ lên đến 59% so

với năm 2008. Tuy nhiên, do lãi suất đã tương đối đi vào ổn định nên chênh

lệch lãi suất bình quân giảm dẫn đến thu nhập từ hoạt động tín dụng cũng

giảm so với năm trước.

- Sự ổn định về chính trị - xã hội của đất nước là một nhân tố vĩ mơ có

tác động tích cực đến mở rộng quy mơ tín dụng. Tuy trong năm 2008, nền

kinh tế có gặp khó khăn nhưng ổn định chính trị - xã hội vẫn được Đảng và

Nhà nước duy trì tốt. Điều này thúc đẩy đầu tư sản xuất – kinh doanh, tạo

động lực để các chủ thể vượt qua khó khăn, duy trì sản xuất – kinh doanh.

Đây là điều kiện căn bản để duy trì tăng trưởng quy mơ tín dụng

- Hành lang pháp lý nói chung, các văn bản pháp lý liên quan đến tín

dụng nói riêng ngày càng được hồn thiện cũng là nhân tố thúc đẩy mở rộng

tín dụng. Đặc biệt, với việc Chính phủ ra nghị định về chính sách tín dụng

phục vụ phát triển nông ngiệp, nông thôn (Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày

12/04/2010). Mặc dù, nghị định mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/06/2010

nhưng chi nhánh đã nhanh chóng triển khai ngay đến các đơn vị cá nhân trên

địa bàn huyện. Chi nhánh đã kết hợp với UBNN Huyện tổ chức các Hội nghị

nhằm tuyên truyền rộng rãi đến nhân dân nắm rõ toàn bộ nội dung của Nghị

định. Nhờ vậy, số khách hàng thuộc diện cho vay theo nghị định này đã tăng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thị phần dư nợ tín dụng của NHNNo Hoà vang và mức tăng trưởng thị phần dư nợ tín dụng như đã trình bày trong bảng trên thể hiện ưu thế vượt trội về năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong lĩnh vực tín dụng.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×