Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



- Giai đoạn hồn trả vốn tín dụng: Là giai đoạn kết thúc một vòng tuần

hồn của tín dụng nghĩa là sau khi hoàn thành một chu kỳ sản xuất T-H-T để trở

về hình thái tiền tệ, vốn tín dụng được người vay hoàn trả cho người cho vay.

Từ khái niệm Tín dụng cho thấy bản chất tín dụng thể hiện qua các đặc

trưng chủ yếu sau:

- Quan hệ tín dụng là giao dịch chỉ chuyển dịch quyền sử dụng tài sản.

Thơng thường tín dụng chủ yếu là cho vay bằng tiền. Nhưng do nhu cầu của

người vay ngày càng đa dạng nên cần có sự đa dạng hố trong hoạt động tín

dụng của ngân hàng và đó cũng chính là cơ sở cho sự ra đời của các hình thức

tín dụng như cho thuê vận hành, cho thuê tài chính bằng tài sản hữu hình như

máy móc, thiết bị, nhà xưởng, văn phòng làm việc...

- Quan hệ tín dụng là quan hệ kinh tế dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả

vốn lẫn lãi. Nghĩa là, các chủ thể trong nền kinh tế được cấp tín dụng có trách

nhiệm hồn trả vô điều kiện cả vốn và lãi cho bên cấp tín dụng khi đến hạn

thanh tốn.

- Quan hệ tín dụng là quan hệ dựa trên niềm tin vào khả năng hoàn trả

của người đi vay. Khả năng trả nợ món vay một cách tốt nhất, được coi là

thước đo mức độ tín nhiệm của người đi vay đối với người cho vay.

Tín dụng là một phạm trù kinh tế khách quan, có q trình ra đời, tồn tại và

phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Nó phản ánh mối quan

hệ vay mượn giữa các chủ thể dựa trên ngun tắc hồn trả. Theo đó, người

cho vay sẽ chuyển giao quyền sử dụng của hàng hóa hoặc tiền tệ thuộc sở hữu

của mình sang người vay và người vay có nghĩa vụ hồn trả lại người cho vay

một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu đã nhận.

Dựa vào chủ thể của quan hệ tín dụng, trong nền kinh tế - xã hội tồn tại

các hình thức tín dụng sau:

- Tín dụng thương mại

Là quan hệ tín dụng giữa các cơng ty, xí nghiệp, các tổ chức kinh tế với



6



nhau, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa cho nhau. Đây là

hình thức tín dụng ra đời sớm nhất và là cơ sở cho các hình thức tín dụng

khác. Tín dụng thương mại ra đời thúc đẩy sự phát triển mạnh của nền kinh tế

hàng hóa, đẩy nhanh q trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, đảm bảo tiến

trình sản xuất kinh doanh được thực hiện liên tục.

Tín dụng thương mại là tín dụng giữa những người có nhu cầu sản xuất

kinh doanh, có uy tín và mối quan hệ quen biết với nhau. Hơn nữa, tín dụng

thương mại còn chịu ảnh hưởng vào sự tồn tại và phát triển của nền sản xuất

hàng hóa.

- Tín dụng Ngân hàng

Là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với các tổ chức, cá nhân được

thực hiện dưới hình thức: Ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho

vay (cấp tín dụng) với các đối tượng trên.

- Tín dụng nhà nước

Là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với các đơn vị và cá nhân được thực

hiện dưới hình thức: Nhà nước sẽ đứng ra huy động vốn của các tổ chức, cá

nhân bằng cách phát hành các trái phiếu, cơng trái để sử dụng vì mục đích và

lợi ích chung của tồn xã hội. Tín dụng nhà nước có thể được thực hiện bằng

hiện vật (như: thóc, gạo, trâu, bò,…) hoặc bằng hiện kim (tiền, vàng, bạc,…),

nhưng bằng tiền là chủ yếu. Tín dụng nhà nước phát triển ở những nước có

thị trường tài chính mạnh (đặc biệt là thị trường chứng khốn).

- Tín dụng quốc tế

Đây là quan hệ tín dụng giữa các chính phủ, giữa các tổ chức tài chính

tiền tệ được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau nhằm trợ giúp lẫn

nhau để phát triển kinh tế xã hội của một nước, như: việc vay mượn giữa các

quốc gia, giữa các Ngân hàng hay các tổ chức tài chính ở các nước khác

nhau,...Thời kỳ kinh tế mở, Việt Nam đã mở ra một kỷ nguyên mới: mối quan



7



hệ quốc tế giữa các nước được mở rộng về kinh tế lẫn chính trị. Hiện nay, các

tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế, như: Tổ chức Liên Hiệp Quốc, Quỹ tiền tệ

Quốc tế, Ngân hàng Thế giới,... đã cấp nhiều hạn mức tín dụng cho Việt Nam

với thời gian và lãi suất ưu đãi, nhằm mục đích đầu tư vào các dự án có giá trị

lớn, phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước, như xây dựng cầu - đường,

cơng trình thủy điện, dự án khai thác dầu,... Ngồi ra, hình thức tín dụng

quốc tế còn bao gồm hình thức tín dụng giữa Ngân hàng nước ngoài cấp cho

các tổ chức hay cá nhân trong nước,... Quan hệ tín dụng quốc tế phát triển ở

những nước có nền kinh tế mở, hội nhập cùng kinh tế thế giới, nhất là trong

xu thế kinh tế thế giới ngày nay, tín dụng quốc tế ngày càng trở nên phổ biến.

1.1.2. Các nguyên tắc cơ bản của TD

Xuất phát từ bản chất của TD là phải hoàn trả đúng hạn cả vốn và lãi. Vì

vậy, hoạt động TD phải dựa trên các nguyên tắc sau:

a. Vốn vay phải có mục đích, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu

quả:

Để đảm bảo ngun tắc hồn trả và đảm bảo cho nền kinh tế phát triển

cân đối, thì khi cho vay, cần phải biết người vay sử dụng vào mục đích gì, có

khả năng thu hồi nợ hay khơng, lợi nhuận tạo ra có đủ trang trại nợ gốc và lãi

vay không, mức độ mạo hiểm như thế nào.

Tính mục đích của TD thể hiện ở chỗ lựa chọn đối tượng cho vay, bao

gồm cả hai mặt: cho ai vay và cho vay cái gì? Cho vay có mục đích khơng chỉ

giới hạn trong việc cho vay phải nhằm đúng các đối tượng cụ thể như cho

vay để trả tiền mua đối tượng cụ thể; mà phải hướng việc cho vay vào những

khâu mấu chốt nhằm tạo ra hiệu quả.

Khi việc cho vay được thực hiện một cách có mục đích thì khả năng

mang lại hiệu quả là điều gần như chắc chắn.



8



b. Vốn vay phải hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả vốn và lãi

Nguyên tắc này thể hiện đầy đủ bản chất của TD là sự hoàn trả trọn vẹn,

đầy đủ về mặt giá trị và có thêm lợi tức theo cơng thức vận động của quỹ cho

vay ( T-T’). Nó cũng bảo đảm tơn trọng qui luật lưu thông tiền TD: Tiền TD

thường xuyên quay trở về nơi phát hành ra nó.

Để thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải sử dụng cơng cụ kỳ hạn nợ.

Xác định một kỳ hạn nợ hợp lý, tổ chức thu nợ nhanh chóng kịp thời,... điều

đó vừa đảm bảo cho hoạt động của NH được tiến hành thường xuyên liên tục,

vừa thúc đẩy các tổ chức đi vay quan tâm hoàn thành đúng thời hạn kế hoạch

và hợp đồng kinh tế.

c. Cho vay có bảo đảm

Thực chất của nguyên tắc này là sự đảm bảo khả năng thu hồi nợ cho tổ

chức TD. Có nhiều hình thức bảo đảm khác nhau: thế chấp, tín chấp, bảo

lãnh, cầm cố,...Hiện nay vấn đề cho vay có bảo đảm ở nước ta được xem xét

dưới nhiều góc độ. Trong một chừng mực nào đó sự bảo đảm tốt nhất cho một

khoản vay chính là tính khả thi của dự án xin vay đó. Và vì thế việc thẩm định

dự án cho vay chiếm tầm quan trọng hàng đầu.

1.1.3. Tín dụng ngân hàng

1.1.3.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là hoạt động mà ngân hàng cấp tín dụng cho khách

hàng dưới hình thức cho vay, bảo lãnh, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có

giá, cho th tài chính và các hình thức khác.

Bản chất của tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử

dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định

với một khoản chi phí nhất định.

Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội

dung:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×