Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.2 Ma trận về mức độ rủi ro

Bảng 3.2 Ma trận về mức độ rủi ro

Tải bản đầy đủ - 0trang

72

Như vậy, với việc kết hợp kết quả xếp loại khách hàng và đánh giá tài sản

bảo đảm giúp cán bộ QHKH đánh giá được mức độ rủi ro có thể xảy ra, xây dựng

các biện pháp kiểm soát tốt hơn và đặc biệt đối với Lãnh đạo thì lường trước được

rủi ro và ra quyết định cấp tín dụng một cách chính xác, kịp thời và khách quan hơn.

Bên cạnh đó, BIDV phải thường xun rà sốt, đánh giá Hệ thống xếp hạng

tín dụng nội bộ của BIDV đã được NHNN đánh giá rất cao và chấp thuận cho áp

dụng để có thể hồn thiện hơn nữa cũng như phát huy tối đa hiệu quả sử dụng Hệ

thống xếp hạng tín dụng nội bộ theo Điều 7 Quyết định 493. BIDV cần tiếp tục

nghiên cứu mở rộng đối tượng phân loại nợ theo điều 7 Quyết định 493 đối với tất

cả khách hàng để nhận diện nợ xấu và kết quả phân loại nợ phản ảnh chính xác nhất

chất lượng tín dụng của BIDV, liên tục cập nhật các thơng tin có liên quan để cải

tiến, chỉnh sửa ngày một hồn thiện hơn.

 Nâng cao chất lượng cơng tác thẩm định

- Nâng cao chất lượng thẩm định khách hàng : thẩm định về tư cách pháp lý

của khách, lịch sử phát triển và quan hệ tín dụng của khách hàng, uy tín của khách

hàng với đối tác, mối quan hệ của khách hàng với các chủ thể khác trong nền kinh

tế,… Việc đánh giá khách hàng dựa trên nhiều nguồn thông tin để đánh giá, tuy

nhiên nguồn thông tin quan trọng không thể thiếu là Trung tâm thông tin tín dụng

của NHNN (CIC). Việc hỏi tin CIC sẽ được thực hiện khi thẩm định, cấp giới hạn

tín dụng hoặc khi cần thiết.

- Nâng cao chất lượng thẩm định tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh của

khách hàng: Trước hết, thẩm định tính trung thực các báo cáo tài chính của khách

hàng cung cấp, thực hiện điều chỉnh số liệu một cách hợp lý nhất. Sau đó tiến hành

thẩm định tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh của khách hàng để thấy được

thực trạng tài chính, hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng.

- Nâng cao chất lượng thẩm định phương án/ dự án xin vay. Việc thẩm định

phương án/dự án sẽ tập trung phân tích về khả năng tài chính để thực hiện phương

án, tính khả thi, hiệu quả và khả năng trả nợ.

Các nội dung chính khi thẩm định phương án/dự án cần phải tiến hành phân



73

tích, đánh giá gồm:

- Thẩm định tổng nhu cầu vốn và tính khả thi phương án nguồn vốn

+ Tổng vốn tổng nhu cầu vốn của phương án/dự án: Cán bộ thẩm định phải

xem xét, đánh giá tổng nhu cầu vốn của phương án/dự án đã được tính tốn hợp lý

hay chưa, lưu ý các yếu tố làm tăng chi phí do trượt giá, phát sinh thêm khối lượng,

biến động tỷ giá ngoại tệ nếu có sử dụng ngoại tệ.

+ Nguồn vốn tham gia: Cán bộ thẩm định cần phải rà soát và đánh giá khả

năng tham gia từng loại nguồn vốn tham gia tài trợ cho phương án/dự án, kết hợp

phân tích tình hình tài chính của chủ đầu tư để đánh giá khả năng tham gia của

nguồn vốn chủ sở hữu. Chi phí của từng loại nguồn vốn, các điều kiện vay đi kèm

của từng loại nguồn vốn. Cân đối giữa nhu cầu vốn đầu tư và khả năng tham gia tài

trợ của các nguồn vốn dự kiến để đánh giá tính khả thi của các nguồn vốn thực hiện

dự án.

- Thẩm định về thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của

phương án/dự án. Thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của phương án/dự án

đóng vai trò rất quan trọng, quyết định tính khả thi của phương án/dự án. Vì vậy,

cán bộ thẩm định cần xem xét, đánh giá kỹ về phương diện này khi thẩm định . Các

nội dung chính cần xem xét, đánh giá gồm: Xác định tổng nhu cầu hiện tại và dự

đoán nhu cầu tương lai đối với sản phẩm, dịch vụ đầu ra của phương án/dự án, ước

tính mức tiêu thụ gia tăng hàng năm của thị trường; Phương thức tiêu thụ, thị trường

tiêu thụ và mạng lưới phân phối; Đánh giá, dự kiến khả năng tiêu thụ sản phẩm của

phương án/dự án

- Thẩm định về khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào của

phương án/dự án: Khách hàng có chủ động được nguồn ngun liệu đầu vào hay

khơng; Những thuận lợi, khó khăn đi kèm với việc chủ động nguồn nguyên liệu đầu

vào.

- Thẩm định về phương diện kỹ thuật: Xem xét, đánh giá địa điểm thực hiện

phương án/dự án có thuận lợi về mặt giao thơng hay khơng, có gần các nguồn cung

cấp: ngun vật liệu, điện, nước và thị trường tiêu thụ hay khơng, có nằm trong quy



74

hoạch hay không; Quy mô sản xuất và sản phẩm của dự án có phù hợp với khả năng

tài chính, trình độ quản lý, địa điểm, thị trường tiêu thụ hay không. Sản phẩm của

dự án là sản phẩm mới hay đã có sẵn trên thị trường. Quy cách, phẩm chất, mẫu mã

của sản phẩm như thế nào; Công nghệ, thiết bị có tiên tiến, hiện đại, phù hợp với

trình độ hiện tại của Việt Nam hay khơng, lý do lựa chọn công nghệ này; Quy mô,

giải pháp xây dựng, giải pháp kiến trúc có phù hợp với dự án hay khơng, có tận

dụng được cơ sở vật chất hiện có hay khơng.

- Đánh giá về phương diện tổ chức, quản lý thực hiện dự án: Xem xét kinh

nghiệm, trình độ tổ chức vận hành của chủ đầu tư dự án, năng lực, uy tín các nhà

thầu: tư vấn, thi công, cung cấp thiết bị - công nghệ…(nếu đã có thơng tin); Đánh

giá về nguồn nhân lực của dự án khả năng cung ứng nguồn nhân lực cho dự án.

- Thẩm định hiệu quả về mặt tài chính của dự án: Đây là yếu tố quyết định

đến việc Ngân hàng đồng ý tài trợ và lựa chọn dự án đầu tư. Các phương pháp thẩm

định, đánh giá khả năng hoàn trả vốn vay của dự án như phương pháp giá trị hiện tại

ròng, tỷ suất hồn vốn nội bộ, thời gian hồn vốn có chiết khấu, đồng thời phân tích

độ nhạy dự án đối với những biến động tương lai của giá thị trường, nhu cầu tiêu

thụ, lãi suất và các phương thức hoàn trả vốn vay. Đối với phương án thì đánh giá

hiệu quả của phương án để đánh giá khả năng trả nợ.

Để thực hiện được mục tiêu này, Chi nhánh có kế hoạch thường xuyên đào

tạo cho các bộ làm cơng tác tín dụng về kỹ năng thẩm định phương án/dự án, rút

kinh nghiệm từ các sai sót trước đây đã được các Đồn kiểm tra phát hiện hoặc từ

những vụ việc, đối với những dự án lớn, phức tạp có thể thuê chuyên gia thẩm định,

việc thẩm định phải đảm bảo tính độc lập, khách quan.

 Bồi dưỡng, nâng cao trình độ cán bộ về nghiệp vụ lẫn đạo đức

nghề nghiệp

Ngày nay, rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp ngày càng diễn biến

phức tạp và khó lường. Thực tế cho thấy, mọi rủi ro đối với hoạt động kinh doanh

của Ngân hàng thì rủi ro tín dụng trong cho vay của Ngân hàng phụ thuộc khá nhiều

vào chất lượng cán bộ làm công tác tín dụng và thẩm định. Ngay từ việc tuân thủ



75

chấp hành các chính sách, cơ chế tín dụng cho đến thẩm định phương án kinh

doanh, xét duyệt, quyết định cho vay, kiểm tra việc sử dụng vốn vay và thu nợ có

đúng hay sai, thành cơng hay thất bại của các khoản vay thì ngồi ngun nhân

khách quan đều có yếu tố chủ quan của con người. Yếu tố chủ quan của con người

được thể hiện ở hai yếu tố đó là trình độ, kỹ năng chưa đáp ứng được yêu cầu công

việc và yếu tố chủ quan cố ý, vì mục đích tư lợi, biến chất về đạo đức trước những

tiêu cực của xã hội. Do đó cần tiêu chuẩn hóa cán bộ hoạt động tín dụng từ khâu

tuyển dụng, sắp xếp, bố trí cán theo đúng chức năng, chun mơn, sở trường và có

đạo đức. Những cán bộ chưa đủ tiêu chuẩn, chưa đáp ứng được yêu cầu cần phải

tiến hành đào tạo và đào tạo lại nhằm bổ sung cũng như cập nhập kiến thức để phục

vụ cơng tác tín dụng được tốt hơn qua đó giảm thiểu rủi ro trong quá trình tác

nghiệp.

Để hoạt động kinh của Ngân hàng ngày một hiệu quả hơn trong mơi trường

cạnh tranh gay gắt, mở rộng tín dụng gắn với việc giảm thiểu rủi ro, Chi nhánh cần

phải xây dựng riêng cho mình cơ chế tuyển dụng, bố trí, sắp xếp và sử dụng con

người một cách hợp lý nhằm phát huy tối đa tố chất, kỹ năng, sở trường của cán

bộ, cụ thể là:

- Vấn đề tuyển dụng: Trong quá trình tuyển dụng, Chi nhánh đưa ra các tiêu

chí cụ thể về vị trí cần tuyển dụng, trong đó cần tập trung vào vấn đề đạo đức, trình

độ chuyên môn, được đào tạo bài bản, hiểu biết về nhiều lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật

và xã hội. Ngày nay, cán bộ QHKH không chỉ đơn thuần là chỉ biết cho vay vốn

mà còn biết tư vấn cho khách hàng về các vấn đề liên quan đến sản xuất kinh

doanh và tài chính. Do đó, Chi nhánh cần có chính sách thu hút tuyển dụng như ưu

tiên các sinh viên khá giỏi, có kiến thức tốt, am hiểu nhiều về lĩnh vực kinh tế xã

hội, có năng lực về phân tích, đánh giá tốt và có tinh thần trách nhiệm cao với công

việc, không nhất thiết phải là sinh viên chuyên ngành Ngân hàng. Việc tuyển dụng

cần phải công khai, minh bạch để đảm bảo kết quả tuyển dụng tốt nhất.

- Vấn đề bố trí nguồn nhân lực: Lựa chọn, bố trí nhân lực hợp lý đối với

những cán bộ có năng lực, có trình độ chun mơn và có phẩm chất đạo đức tốt



76

nhằm thay thế dần cán bộ không đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ,

đạo đức kém. Bố trí đủ và phân cơng cơng việc cho cán bộ một cách hợp lý, tránh

tình trạng quá tải cho cán bộ để đảm bảo chất lượng cơng việc, giúp cho cán bộ có

đủ thời gian nghiên cứu, kiểm tra giám sát các khoản vay một cách có hiệu quả.

Thực hiện luân chuyển cán bộ trong quản lý khách hàng để giảm trừ hạn chế những

tiêu cực do những mối quan hệ được tạo lập trong thời gian dài, phát hiện những

sai sót trong q trình cho vay. Tuy nhiên việc luân chuyển phải đảm bảo không

ảnh hưởng đến khách hàng.

Hiện nay, thực tế cho thấy cường độ làm việc của cán bộ QHKH trong thời

gian qua là khá căng thẳng, thậm chí việc làm thêm ngoài giờ cũng khá phổ biến.Và

điều này đã dẫn đến những hạn chế các hoạt động tiếp xúc với khách hàng, kiểm tra

và kiểm sốt các khoản cho vay. Vì vậy, để đảm bảo an tồn tín dụng thì việc tăng

cường cả về số lượng và chất lượng sẽ giúp cho Ngân hàng đảm bảo nhịp độ tăng

trưởng tín dụng đồng thời đảm bảo được chất lượng tín dụng.

- Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ:

Chi nhánh cần tạo điều kiện và quan tâm đúng mức việc đào tạo từ cơ bản

đến chuyên sâu về từng nghiệp vụ cụ thể, từng đối tượng khách hàng có đặc điểm

đặc thù về sản xuất kinh doanh cụ thể. Thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo

chuyên đề trao đổi các bài học kinh nghiệm liên quan đến tín dụng. Cập nhật kiến

thức nghiệp vụ và tập huấn các quy định pháp luật mới. Ngoài ra, Ngân hàng phải

thường xuyên liên kết, tổ chức các khóa đào tạo về chun mơn nghiệp vụ để nâng

cao trình độ. Nếu chưa gửi người đi đào tạo kịp thời thì có thể đào tạo tại chỗ thơng

qua hình thức th các chun gia bên ngồi, hoặc các cán bộ QHKH có kinh

nghiệm của Ngân hàng, biên soạn và cập nhật giáo trình giảng dạy mang tính thực

tiễn. Bênh cạnh đó, phát động phong trào tự nghiên cứu, học tập, nắm vững, thực

hiện đúng các quy định hiện hành và phải không ngừng nâng cao năng lực công

tác, tránh sự tụt hậu trước sự thay đổi của nền kinh tế thị trường, của công nghệ

trong quá trình phát triển và hội nhập của Ngân hàng. Yêu cầu mỗi cán bộ Ngân

hàng phải thường xuyên tu dưỡng về phẩm chất đạo đức, bản lĩnh nghề nghiệp và



77

nêu cao ý thức trách nhiệm. Hàng năm cần thực hiện rà sốt, đánh giá, phân loại

cán bộ QHKH để có hướng đào tạo, bổ sung kịp thời tránh sự hụt hẫng về đội ngũ

cán bộ QHKH. Định kỳ tổ chức thi kiểm tra tay nghề để phát hiện những nhân tố

mới bồi dưỡng, đồng thời phát hiện những cá nhân chưa đáp ứng được yêu cầu để

đào tạo, bồi dưỡng có trọng tâm, trọng điểm. Thay thế kịp thời những cán bộ sau

khi đã được đào tạo nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu.

 Có biện pháp thưởng phạt nghiêm minh nhằm khuyến khích các cá

nhân làm tốt, có tâm huyết với nghề, phê bình, kiểm điểm nghiêm khắc những

cán bộ thường để xảy ra sai sót, thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc:

Ngân hàng cần phải xây dựng cơ chế tiền lương động lực nhằm khuyến

khích những cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ trên cơ sở đánh giá kết quả cơng việc

hàng tháng, tránh tình trạng bình quân chủ nghĩa trong thu nhập. Để làm được việc

này, Chi nhánh phải giao chỉ tiêu cụ thể để từng cán bộ. Bên cạnh cơ chế tiền lương,

Chi nhánh cần tạo quỹ khen thưởng để thưởng đột xuất cho những cán bộ có thành

tích xuất sắc. Trên cơ sở kết quả cơng việc đạt được, chi nhánh có kế hoạch bồi

dưỡng để bổ nhiệm hoặc quy hoạch vào các vị trí cao hơn. Đối với cán bộ có sai

phạm thì tổ chức họp kiểm kiểm, xác định trách nhiệm cụ thể của từng cá nhân để

có hình thức xử lý nghiêm khắc như hạ lương, chuyển sang làm công tác khác có

mức lương thấp hơn, trường hợp để xảy ra sai phạm nghiêm trọng thì tuỳ theo tính

chất mà xử lý như sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động, cách chức. Có như vậy thì

kỷ cương trong hoạt động tín dụng, uy tín của Ngân hàng sẽ ngày càng được nâng

cao và chất lượng tín dụng chắc chắn sẽ được cải thiện đáng kể. Thường xuyên

quán triệt cán bộ chấp hành nghiêm túc nội quy lao động, nâng cao phẩm chất đạo

đức cán bộ.

 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ

Trước hết, Chi nhánh phải tự kiểm tra, kiểm sốt chặt chẽ thơng qua việc tuân

thủ nghiêm túc quy chế, quy trình nghiệp vụ, đảm bảo các chốt kiểm sốt trong q

trình cho vay.

Bên cạnh đó, thơng qua hoạt động kiểm tra kiểm sốt của Bộ phận kiểm tra



78

nội bộ các khu vực công tác phòng ngừa rủi ro là cơng tác kiểm tra, kiểm sốt nội bộ.

Qua hoạt động của cơng tác kiểm tra, kiểm sốt nội bộ, Ngân hàng có thể phát hiện,

ngăn ngừa và chấn chỉnh những sai sót trong việc thực hiện qui trình nghiệp vụ tín

dụng cũng như rủi ro đạo đức do cán bộ gây ra.

Việc kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng là nhằm kiểm tra tính tuân thủ các chính

sách, thủ tục cho vay, giá trị tài sản đảm bảo, pháp lý của hồ sơ tín dụng, tính hiện

thực về khả năng trả nợ của khách hàng, hồ sơ phân tích tình hình tài chính và hoạt

động sản xuất kinh doanh của khách hàng trong quá trình cho vay.

Để phát hiện các sai sót khách quan hoặc chủ quan của ngân hàng, Chi nhánh

cần có cơ chế phối hợp với Bộ phận kiểm tra nội bộ các khu vực, đề xuất bộ phận

kiểm tra thực hiện kiểm tra định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm/ 1 lần nhằm giúp chi nhánh

phát hiện kịp thời các rủi ro phát sinh.

Yêu cầu báo cáo hàng tháng công tác thực hiện các điều kiện tín dụng đã

được Hội sở chính phê duyệt để tránh tình trạng khơng chấp hành, bỏ qua các điều

kiện tín dụng cấp thiết gây ra rủi ro tín dụng.

Phản ánh trung thực, chính xác và có cơ sở về các hành vi vi phạm quy trình,

phân cấp ủy quyền phán quyết tín dụng… của các đơn vị thành viên và có kiến nghị

và đề xuất xử lý cụ thể, áp dụng các chế tài đối với các đơn vị, cá nhân gây ra nợ

xấu khơng có khả năng thu hồi.

Thơng qua kết quả kiểm tra, Phòng kiểm tra, kiểm soát nội bộ thực hiện phân

loại các chi nhánh theo các mức độ rủi ro khác nhau, từ đó Hội đồng quản trị, Ban

điều hành sẽ có những biện pháp quản lý phù hợp với từng chi nhánh. Những Chi

nhánh có nhiều sai phạm, rủi ro cao sẽ bị hạ mức phán quyết tín dụng, hạn chế chỉ

tiêu tăng trưởng tín dụng,…



 Kiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng:

Cán bộ Quan hệ khách hàng thường xuyên thực hiện kiểm tra và theo dõi các

hành vi của người vay, mục đích sử dụng tiền vay, quá trình hoạt động kinh doanh,

quá trình trả nợ và giám sát các đảm bảo tín dụng nhằm tránh tình trạng người vay

vi phạm các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng. Việc phát hiện và xử lý kịp



79

thời những khoản vay có vấn đề, những khoản vay có biểu hiện mất khả năng thu

hồi là biện pháp hữu hiệu góp phần hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay.

Để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra việc sử dụng vốn vay của người đi

vay, Ngân hàng cần tiến hành các bước sau:

- Kiểm tra trước khi cho vay: bao gồm kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp của

hồ sơ pháp lý, hồ sơ vay vốn của khách hàng

- Kiểm tra trong khi cho vay: kiểm tra việc phát tiền vay, chuyển tiền vay cho

đối tác của khách hàng đúng mục đích xin vay hay khơng? Kiểm tra hồ sơ, chứng từ

giải ngân (Hợp đồng mua bán/ hoá đơn giá trị gia tăng, biên bản đối chiếu cơng nợ,

biên bản nghiệm thu, giao nhận hàng hố,…) đối chiếu với mục đích, phương án

vay vốn ban đầu của khách hàng.

- Kiểm tra sau khi cho vay: Kiểm tra việc sử dụng vốn vay, ngăn ngừa người

đi vay sử dụng vốn sai mục đích, kiểm tra tình hình sử dụng và khai thác tài sản đảm

bảo nợ vay. Kiểm tra khả năng thu hồi nợ thông qua việc kiểm tra tiền vay đang ở

hình thái nào (hàng hố, cơng nợ,..) và tình hình tài chính của người vay.

Tùy đặc điểm của từng khoản vay, việc kiểm tra sử dụng vốn vay có thể thực

hiện như sau: đối với cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động thì sau khi giải ngân

bằng tiền mặt thì kiểm tra sau 1 tuần kể từ ngày giải ngân; đối với khách hàng giải

ngân bằng chuyển khoản có tần suất giải ngân > 8 lần/1 tháng thì kiểm tra 1 tháng/

1 lần, trường hợp ít hơn thì có thể kiểm tra 10 -15 ngày/1 lần; kiểm tra việc sử dụng

vốn, vật tư đảm bảo nợ vay thì định kỳ 1tháng/ lần, hoặc 1 quí/ lần; đối với cho vay

trung và dài hạn là 6 tháng/ lần.

Việc kiểm tra tài sản bảo đảm cần kiểm tra hiện trạng tài sản, mức độ biến

động giá trị tài sản trên thị trường, khả năng xử lý tài sản bảo đảm khi xảy ra rủi ro.

Để việc kiểm tra sử dụng vốn vay có hiệu quả giúp phát hiện sớm các dấu

hiệu rủi ro, cán bộ QHKH cần chủ động đề xuất việc sử dụng một hoặc đồng thời

các phương thức kiểm tra khác nhau như kiểm tra thực tế tại hiện trường, kiểm hàng

hóa tại kho hàng, đối chiếu giá trị trên hóa đơn với thẻ xuất nhập kho và/hoặc kiểm

tra sổ sách chứng từ kế toán… Các loại giấy tờ cần được sao chụp lưu giữ để làm



80

căn cứ kết luận việc sử dụng vốn vay của khách hàng…. Tiến trình kiểm tra phải

được cán bộ QHKH lập thành biên bản kiểm tra sử dụng vốn vay. Kết quả cần nêu

ra được đầy đủ các căn cứ và khẳng định được khách hàng đã sử dụng vốn vay đúng

mục đích, hiệu quả. Trong trường hợp khách hàng có những biểu hiện bất thường

ảnh hưởng đến khả năng trả nợ, cán bộ QHKH báo cáo với lãnh đạo nhằm có biện

pháp xử lý kịp thời hạn chế rủi ro tín dụng xảy ra.

Biện pháp kiểm tra, giám sát này khơng chỉ hạn chế rủi ro có thể xảy ra, đánh

giá được hiệu quả hoạt động tín dụng, tạo mối quan hệ lâu dài, bền vững với khách

hàng, tiếp thị các loại sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng nằm phục vụ nhu cầu của

đối tượng vay vốn mà thơng qua đó còn nhắc nhở, đơn đốc việc hồn thành cơng tác

trả nợ, trả lãi khi đến hạn thanh toán. Để đảm bảo chất lượng các biên bản kiểm tra

cũng như theo dõi việc kiểm tra của cán bộ có thực hiện thường xun hay khơng,

Lãnh đạo phòng QHKH phải kiểm tra nội dung các biên bản kiểm tra.

 Chuẩn hoá các quy trình, quy chế liên quan đến hoạt động cho vay

Việc chuẩn hoá các quy chế, quy trình sẽ giúp các Chi nhánh thống nhất trong quá

trình thực hiện, chất lượng thẩm định, kiểm tra giám sát sẽ được nâng lên rõ rệt..

Việc xây dựng quy trình chuẩn xác sẽ hạn chế việc bỏ qua những bước quan trọng

khi thẩm định, xem xét cho vay hay kiểm tra sau khi cho vay. Chuẩn hoá các mẫu

biểu tín dụng như Hợp đồng bảo đảm tiền vay, Hợp đồng tín dụng sẽ giúp cho chi

nhánh hạn chế được những bất lợi khi xảy ra tranh chấp.

 Tăng cường công tác thu thập, xử lý và lưu trữ thơng tin

Vấn đề thơng tin có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế rủi ro tín

dụngtrong cho vay. Để xây dựng được hệ thống thơng tin phòng ngừa rủi ro tín

dụng, Chi nhánh cần phải khơng ngừng đổi mới phương pháp thu thập, lưu trữ và

xử lý thông tin khách hàng, thông tin quản trị đảm bảo cho Ban lãnh đạo có thể tiếp

cận được các nguồn thơng tin tin cậy, có hệ thống một cách nhanh chóng và thuận

lợi. Một khi có những thơng tin kịp thời, được cập nhật thường xuyên, chính xác,

phù hợp, đầy đủ và được trình bày cơ đọng, súc tích, rõ ràng nhưng vẫn đảm bảo độ



81

chi tiết cần có sẽ góp phần vào việc ra quyết định cho vay được chính xác, an toàn,

hạn chế cũng như ngăn chặn các rủi ro phát sinh.

3.2.2 Hoàn thiện các biện pháp xử lý rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp

 Cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng trên cơ sở nguồn thu đảm

bảo, chắc chắn và phương án trả nợ cơ cấu khả thi

Hiện nay, tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam thực hiện cơ

cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng theo quyết định 1131/QĐ-QLTD1 của Ngân

hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam ngày 12/03/2009 về việc quy định cơ cấu lại

thời hạn trả nợ và gia hạn bảo lãnh, trong đó quy định cấp phê duyệt tín dụng đồng

thời là cấp phê duyệt cơ cấu lại nợ; các Chi nhánh chỉ thực hiện cơ cấu lại nợ đối

với các khoản vay ngắn hạn có thời gian khơng vượt q 12 tháng và đối với các

khoản vay trung dài hạn không vượt quá ½ thời hạn cho vay; nếu vượt quá thời hạn

cơ cấu ở chi nhánh thì phải trình Hội sở chính.

Điều kiện cơ cấu lại nợ :

-



Khách hàng có văn bản đề nghị cơ cấu thời hạn trả nợ



-



Khách hàng khơng có khả năng trả nợ đúng hạn đã thoả thuận trong hợp



đồng tín dụng do nguyên nhân khách quan

-



Dư nợ vay đang tồn tại dưới hình thái tài sản công nợ, được bảo đảm đầy



đủ bằng tài sản theo quy định bảo đảm tiền vay hiện hành của NHĐT và có khả

năng trả nợ trong các kỳ hạn tiếp theo hoặc trong một khoảng thời gian nhất định.

 Bán các khoản nợ

Ở Việt Nam thị trường hoạt động mua bán nợ mới hình thành, tính cạnh

tranh hạn chế, các ngân hàng mới chỉ được thực hiện thí điểm và cũng chỉ dừng lại

ở việc bán các khoản nợ xấu đã được xử lý rủi ro chuyển hạch toán ngoại bảng. Để

giải pháp này thực sự trở thành một giải pháp xử lý nợ xấu có hiệu quả, ngồi điều

kiện khách quan là thị trường mua bán nợ phải phát triển, khung hành lang pháp lý

điều chỉnh các quan hệ mua bán nợ trên thị trường cũng như các quy định về mua

bán nợ giữa các bên tham gia phải được ban hành và hồn thiện, thì trên cơ sở

Quyết định số 59/2006/QĐ-NHNN của NHNNVN về việc mua bán nợ, BIDV cần



82

xây dựng một quy trình bán nợ cụ thể để Chi nhánh thực hiện như sau:

- Bước 1: Tiến hành phân tích, lựa chọn danh mục tín dụng hoặc các khoản

nợ chịu tác động của các nhân tố khách quan và chủ quan sẽ gây ra rủi ro tín dụng

trong cho vay hoặc rủi ro đã phát sinh để thực hiện bán các danh mục tín dụng hoặc

các khoản nợ.

- Bước 2: Xây dựng phương án bán nợ phải thể hiện các nội dung sau: đánh

giá khó khăn, thuận lợi của khách nợ; xác định tính pháp lý, tính sở hữu, tính thanh

khoản, giá trị còn lại của tài sản bảo đảm khoản nợ; xác định giá bán dự kiến dựa

trên so sánh phương án thu hồi dần và phương án tái đầu tư vốn.

- Bước 3: Tiến hành đàm phán, thương lượng với các Công ty mua bán nợ

về mức giá mua bán danh mục tín dụng hoặc khoản nợ của khách nợ và ký biên

bản thỏa thuận về giá mua bán và thông báo khách nợ về khoản nợ sẽ bán và

Chủ nợ mới.

- Bước 4: Thực hiện ký hợp đồng mua bán nợ, xuất hóa đơn bán các khoản

nợ, chuyển giao xác nhận nợ ba bên: Ngân hàng, khách nợ, chủ nợ mới và bàn giao

hồ sơ khoản vay, tài sản bảo đảm.

Đối với các khoản nợ có tài sản bảo đảm và tài sản bảo đảm được đánh giá

là có khả năng phát mại nhưng tính luân chuyển thấp, giấy tờ hợp pháp: cần phối

hợp các Công ty mua bán nợ để xử lý thơng qua hình thức bán thoả thuận hoặc triển

khai thực hiện bán đấu giá khoản nợ qua trung tâm đấu giá có chức năng thực hiện

tổ chức đấu giá theo quy định.

Theo phương thức bán nợ thỏa thuận, một bộ hồ sơ vay vốn và hồ sơ đảm

bảo tiền vay hoàn hảo là một lợi thế rất lớn của ngân hàng trong quá trình đàm

phán, thỏa thuận giá bán khoản nợ với bên mua nợ.

Đối với khoản nợ xấu không có tài sản bảo đảm hoặc tài sản bảo đảm khơng

đủ hồ sơ pháp lý, khơng có tranh chấp, khách nợ còn tồn tại và hoạt động: xác định

khả năng tự thu, bán nợ theo hình thức bán chỉ định (bán khoản nợ cho bên mua nợ

theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ…).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.2 Ma trận về mức độ rủi ro

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×