Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Kết luận và kiến nghị

3 Kết luận và kiến nghị

Tải bản đầy đủ - 0trang

việc thoả mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào

chính khả năng lao động của họ. Nhưng trong thực tế, con người không chỉ lúc nào

cũng gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường. Trái

lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho

người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn,

bất ngờ bị ốm đau hoặc bị tai nạn trong lao động, mất việc làm hay khi tuổi già khả

năng lao động hay khả năng tự phục vụ bị suy giảm v..v...Khi rơi vào những trường

hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống khơng vì thế mà mất đi, trái lại có

cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới mhư: cần được

khám và điều trị khi ốm đau; tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc

ni dưỡng v..v...Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội

lồi người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san

sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong một nội bộ cộng đồng; đi vay, đi mượn hoặc dựa vào sự

cứu trợ của Nhà nước v..v... Rõ ràng, những cách đó là hồn tồn thụ động và khơng

chắc chắn.

Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ

biến. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải cam

kết bảo đảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định đẻ họ trang trải

những nhu cầu cần thiết khi ốm đau, tai nạn, thai sản...Trong thực tế, nhiều khi các

trưòng hợp trên khơng xảy ra và người chủ không phải chi trả một đồng nào. Nhưng

cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ một lúc phải bỏ ra trong một lúc nhiều khoản

tiền lớn mà họ khơng muốn.Vì thế mâu thuẫn chủ- thợ phát sinh, giới thợ liên kết

đấu tranh buộc chủ phải thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh này diền ra ngày càng

rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà nước đã

phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt làm tăng

vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc các giới chủ và giới thợ phải đóng góp một

khoản tiền nhất định hàng tháng được tính tốn chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi

ro xảy ra đối với người làm thuê .Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một

quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Qũy này còn được bổ sung từ ngân sách



Trang 60



Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi gặp phải

những biến cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi

của người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ

ngày càng được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ,

sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn khơng cần

thiết. Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh

chóng. Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo.

Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên

được thế giới quan niệm là BHXH đối với người lao động. Như vậy, BHXH là sự

đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp

phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở

hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người

lao động và gia đình họ góp phần đảm an tồn xã hội.

Để quỹ BHXH hoạt động có hiệu quả, an tồn, cân đối, việc phòng chống rủi

ro cho quỹ BHXH là một việc hết sức quan trọng. Công tác quản trị rủi ro trong thu,

chi từ nguồn quỹ BHXH là đòn bẫy giúp Quỹ BHXH được ổn định và cân băng.

3.3.2 Kiến nghị

Ngồi ra, còn một số ngun nhân khác dẫn đến tình trạng chậm đóng, nợ

đóng BHXH như sự bất bình đẳng trong cơng thức tính lương hưu giữa khu vực nhà

nước và khu vực tư nhân đã dẫn đến sự trốn đóng BHXH của người lao động ở khu

vực tư nhân. Mặt khác, mơ hình BHXH hiện nay khiến doanh nghiệp/người lao

động không được tham gia vào quá trình quản lý, giám sát hoạt động của quỹ,

khơng biết đồng tiền mình đóng góp được sử dụng như thế nào dẫn đến việc thiếu

lòng tin vào hoạt động của quỹ, từ đó e ngại trong việc đóng BHXH. Cũng có ý

kiến cho rằng, TTHC phức tạp của hệ thống BHXH đã gây ra sự phiền hà cho các

doanh nghiệp, khiến họ thụ động hơn trong việc chấp hành pháp luật về BHXH.

Tiểu luận xin đề xuất một số kiến nghị về chính sách



Trang 61



Một là, tăng thời gian đóng BHXH (kéo dài tuổi nghỉ hưu).

Theo Karam và cộng sự (2010), sử dụng mơ hình tích hợp tiền tệ và tài khóa

tồn cầu của IMF để tính tác động của việc nâng tuổi nghỉ hưu ở Hoa Kỳ cho thấy,

việc nâng tuổi nghỉ hưu có thể làm tăng GDP của Hoa Kỳ lên mức 3% trong dài hạn

nhờ khuyến khích người lao động làm việc dài hơn và do đó tiêu dùng sẽ tăng lên

do thu nhập cao hơn. Như đã phân tích, tuổi nghỉ hưu của Việt Nam hiện nay tương

đối thấp với nhiều ngoại lệ cho việc nghỉ hưu sớm, dẫn đến tuổi nghỉ hưu thực tế

càng thấp hơn nữa. Kinh nghiệm cải cách hệ thống hưu trí của các nước cũng cho

thấy, việc nâng tuổi nghỉ hưu là một giải pháp mang lại tác dụng trong dài hạn, khả

thi và dễ thực hiện. Thậm chí, ở một số quốc gia như Mê-hi-cô, Hàn Quốc, Chi- lê,

Nhật Bản, Niu Di-lân, Thụy Sỹ, Thụy Điển... tuổi nghỉ hưu thực tế còn cao hơn tuổi

nghỉ hưu theo quy định do tuổi thọ tăng cao, sức khỏe của người lao động được cải

thiện và do nhu cầu cải thiện tình trạng tài chính sau khi nghỉ hưu. Năm 2014, khi

trình dự án sửa đổi Luật BHXH, Chính phủ cũng đã đề xuất phương án nâng tuổi

nghỉ hưu đối với từng nhóm đối tượng, tuy nhiên chưa được Quốc hội chấp thuận.

Tuy nhiên, về lâu dài, việc nghiên cứu nâng tuổi nghỉ hưu lên mức phù hợp với

điều kiện của Việt Nam là giải pháp cần thiết để đảm bảo tính bền vững của Quỹ

BHXH trong tương lai.

Hai là, cân nhắc giảm tỷ lệ thay thế (tỷ lệ hưởng lương hưu).

Trong dài hạn, cần nghiên cứu giảm tỷ lệ thay thế do tỷ lệ thay thế hiện nay

của Việt Nam tương đối cao. Theo Đỗ Thị Xuân Phương (2012), tỷ lệ hưởng sau

khi nghỉ hưu của Việt Nam khá cao so với các nước khác trên thế giới. Cụ thể, tỷ

lệ hưởng lương hưu theo quy định là tối đa 75%, thực tế tỷ lệ phần trăm bình

quân hưởng khi nghỉ hưu theo thời gian đóng góp BHXH là 70%, trong đó nam là

68,5%, nữ là 71,4%. Trong khi đó, tỷ lệ hưởng lương hưu trung bình trên thế

giới là khoảng 50%; các nước Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc là 46%; các nước

Tây Âu là 41%; các nước Nam Á là 55%... Theo mơ hình tính tốn của OECD, để

đảm bảo mức chi trả cao như hiện nay, người lao động Việt Nam phải đóng góp tới

trên 40% thu nhập của họ. khoảng 1,39 triệu đồng/người. Trong khi đó, theo kết



Trang 62



quả điều tra về sự phát triển của doanh nghiệp ngoài nhà nước giai đoạn 2006 2011 do TCTK cơng bố, mức thu nhập bình qn tháng trong cùng giai đoạn của

các nhóm lao động trên lần lượt là 5,26 triệu đồng/người, 2,75 triệu đồng/người và

2,87 triệu đồng/người.

Theo số liệu của TCTK, Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn cơ cấu dân số

vàng từ năm 2009 và dự báo sẽ kéo dài khoảng 30 năm. Tuy nhiên, nhìn vào cơ cấu

dân số thì tỷ lệ dân số trẻ (dưới 15 tuổi) ngày càng giảm và tỷ lệ dân số già

(trên 65 tuổi) ngày càng tăng do kết quả của chính sách kế hoạch hóa gia đình và

xu hướng tăng tuổi thọ của con người. Điều này đặt ra thách thức đối với hệ thống

an sinh xã hội nói chung và hệ thống BHXH nói riêng trong thời gian tới. Mặt khác,

mặc dù có tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động cao nhưng số người tham gia

BHXH bắt buộc chỉ đạt khoảng 80% so với số lao động thuộc diện tham gia

BHXH bắt buộc theo quy định của Luật BHXH và 20% so với lực lượng lao

động. Độ tuổi nghỉ hưu được cho là thấp (55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với nam)

với cơ chế tính lương hưu trong khu vực nhà nước còn nhiều bất cập (chỉ tính tiền

lương làm cơ sở đóng BHXH của 10 năm cuối) và chế độ nghỉ hưu sớm (đủ 20

năm đóng BHXH). Các vấn đề về bảo toàn và phát triển Quỹ BHXH như cho vay

với lãi suất thấp, các khoản vay khó có khả năng thu hồi, chưa có cơ chế đầu tư hiệu

quả…

Ba là kiên quyết thực hiện luật BHXH đối với sai phạm

• Quy định cụ thể các hình thức xử phạt nếu đóng thiếu, đóng chậm, khơng

đóng... Mức xử phạt cần nâng cao, nghiêm khắc hơn quy định hiện hành (quy định

phạt hành chính hiện hành tối đa là 20 triệu trong khi đó có doanh nghiệp nợ kéo

dài hàng tỉ đồng, doanh nghiệp sẵn sàng nộp phạt vì xác định mức phạt có khi

khơng bằng mức lãi xuất tiết kiệm ngân hàng). Mức phạt cần xác định theo tỉ lệ so

với số tiền đóng chậm hoặc thời gian nợ và một số hành vi vi phạm có thể đưa vào

tội chiếm dụng tài sản để xử lí bằng luật hình sự.

• Cần quy định cụ thể trách nhiệm và các hình thức xử phạt đối với cơ quan

quản lí nhà nước là Bộ lao động-thương binh và xã hội và cơ quan thực hiện thu bảo



Trang 63



hiểm xã hội là Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Để đảm bảo tăng cường cơ chế kiểm tra

giám sát nên quy định 5 năm một lần Bộ lao động-thương binh và xã hội phải thay

mặt Chính phủ báo cáo trước Quốc hội về tình hình thu, chi, quản lí và dự báo tài

chính quỹ bảo hiểm xã hội vì việc này liên quan đến quyền lợi của hàng chục triệu

người lao động và người nghỉ hưu



Trang 64



TÀI LIỆU THAM KHẢO

[01]. Chính phủ. 2017. Luật Bảo hiểm Xã hội.

[02]. Chính phủ. 2017. Luật Bảo hiểm Y tế.

[03]. Chính phủ Việt Nam, Báo cáo tình hình quản lý và sử dụng Quỹ BHXH các

năm giai đoạn 2007 - 2013.

[04]. Nguyễn Thị Lan Hương và nhóm biên soạn. (2013). Phát triển hệ thống an

sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020. Viện khoa học Lao động và Xã hội. Hà

Nội.

[05]. Giang Thanh Long (2008), Quỹ BHXH: Nhân tố tác động, thách thức và lựa

chọn chính sách cho Việt Nam.

[06]. Đỗ Thị Xuân Phương (2012), Cải cách bảo hiểm hưu trí cho người lao động:

Thực trạng và giải pháp.

[07]. Nguyễn Quang Thu (2008), Quản trị rủi ro và bảo hiểm trong doanh nghiệp,

Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội.

[08]. ILO (2013), Đánh giá và dự báo tài chính Quỹ Hưu trí của Việt Nam, tháng

8/2013.

[09]. ILSSA (2012), An sinh xã hội cho khu vực phi chính thức và người lao động

phi chính thức ở Việt Nam: Kết quả rà soát tài liệu và cơ sở dữ liệu.

[10]. Allianz Dresdner Economic Research, Allianz international pension papers,

tháng 01/2014.

[11]. Karam, Muir, Pereira and Tuladhar, Macroeconomic effects of public

pension reforms, IMF Working Paper, 2010.

[12]. OECD (2013), OECD Factbook 2013: Economic, environmental and social

statistics, OECD Publishing, Paris.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Kết luận và kiến nghị

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×