Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Xây dựng chính sách quản trị rủi ro

2 Xây dựng chính sách quản trị rủi ro

Tải bản đầy đủ - 0trang

3.2.1 Nhận diện rủi ro

Để nhận diện đầy đủ về những rủi ro có thể tác động đến hoạt động thu, chi

BHXH, có thể tiến hành rà sốt từng yếu tố tham gia như sau:

• Về nguồn tài chính cung cấp cho kế hoạch thu, chi BHXH: Có thể khơng

đầy đủ, không kịp thời do các tác động của lãi suất, thay đổi tỷ giá, biến động thị

trường chứng khốn,…

• Về cung ứng các yếu tố đầu vào cho kế hoạch thu, chi BHXH: có thể

khơng được đáp ứng kịp thời, máy móc thiết bị hư hỏng,…

• Về nhân sự: Người tham gia vào kế hoạch thu, chi BHXH có thể bị đau

ốm, bệnh tật, nghỉ việc giữa chừng, công nhân đình cơng,…

• Về các đối tượng tham gia BHXH, các doanh nghiệp, người sử dụng lao

động: có thể có hành vi gian dối, vi phạm hợp đồng, có yêu cầu thay đổi, điều chỉnh

hợp đồng, hoặc đơn phương hủy bỏ hợp đồng,…

• Về vận hành sản xuất: các yêu cầu về an tồn vệ sinh lao động phòng

chống cháy nổ có được đảm bảo hay khơng.

• Về thị trường: Khả năng giảm sút niềm tin của đối tượng tham gia và các

sản phẩm của BHXH bị tổn hại trên thị trường, xuất hiện đối thủ cạnh tranh.

• Các vướng mắc về thủ tục pháp lý, vi phạm các quy định của pháp luật,

hoặc sai sót trong nội bộ, có hành vi gian lận,…

• Tác động của thiên nhiên, những đe dọa từ thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn,

dịch bệnh,…

• Các rủi ro khác

Việc nhận diện rủi ro không đơn giản chỉ là nêu tên loại rủi ro mà cần phải mơ

tả và lượng hóa rủi ro. Cụ thể phải chỉ rõ khi triển khai kế hoạch, doanh nghiệp phải

đối diện với những loại rủi ro nào, do nhân tố nào tác động. Phải lượng hóa được

khả năng gây thiệt hại rủi ro theo nhiều kịch bản khác nhau.

3.2.2 Phân tích rủi ro

Phân tích rủi ro là một nội dung quan trọng của chính sách quản trị rủi ro.

Phân tích rủi ro giúp doanh nghiệp nhận thức đầy đủ về những rủi ro mà doanh

nghiệp có thể gặp phải. Việc phân tích rủi ro được thực hiện tố sẽ tạo điều kiện cho

doanh nghiệp đưa ra các quyết định đúng đắn về giải pháp để giảm thiểu những ảnh



Trang 50



hưởng bất lợi đến kế hoạch kinh doanh, đồng thời tận dụng những yếu tố thuận lợi

để đạt được thành công lớn hơn.

Trên cơ sở danh sách các rủi ro đã được nhận diện, nhà quản trị cần tiến hành

phân tích những rủi ro này để có thể nắm bắt đầy đủ về từng loại rủi ro thông qua

các cách tiếp cận khác nhau:

• Thứ nhất, xem xét danh sách mơ tả rủi ro nêu trên và nhận định xem rủi ro

nào có thể xảy ra, cách thức và thời điểm có thể xảy ra.

• Thứ hai, đánh giá thận trọng và kỹ lưỡng về hệ thống, bộ máy tổ chức của

doanh nghiệp, phân tích những rủi ro đối với từng bộ phận, trách nhiệm của từng bộ

phận có liên quan đến từng loại rủi ro đã được nhận diện.

• Thứ ba, nhận định xem doanh nghiệp có những điểm yếu, điểm mạnh nào

khi đối diện với từng loại rủi ro, khả năng vượt qua thách thức.

• Thứ tư, trao đổ ý kiến giữa các bộ phận, cá nhân có liên quan để có những

ý kiến đánh giá đa chiều về rủi ro.

• Thứ năm, cần nhận định xác xuất và quy mơ rủi ro có thể xảy ra, xếp hạng

rủi ro. Rủi ro nào có xác xuất xảy ra cao, rủi ro nào có xác xuất xảy ra thấp, rủi ro

nào có khả năng gây tổn thất lớn, rủi ro chỉ gây tác động nhỏ, rủi ro chủ yếu và rủi

ro thứ yếu, mức độ tác động của từng loại rủi ro,…

3.2.3 Đo lường rủi ro

Sau khi nhận diện, phân tích và xếp hạng rủi ro, cần tiến hành đánh giá và lập

báo cáo rủi ro. Báo cáo rủi ro phải là kết quả tổng kết của người đứng đầu doanh

nghiệp hoặc người chịu trách nhiệm chính về kế hoạch kinh doanh được triển khai.

Trên cơ sở nhận diện, phân tích rủi ro, báo cáo phải đưa ra được đánh giá về khả

năng xảy ra rủi ro và chi phí phải bỏ ra để khắc phục hậu quả khi rủi ro xảy ra so

với chi phí phải bỏ ra để quản trị rủi ro. Báo cáo đánh giá rủi ro là cơ sở để người

quản lý doanh nghiệp quyết định giải pháp xử lý, kiểm soát rủi ro.

3.2.4 Quyết định giải pháp xử lý, kiểm sốt rủi ro

Chính sách quản trị rủi ro cần xác định những nguyên tắc lựa chọn giải pháp

xử lý, kiểm sốt rủi ro:

• Thứ nhất, chỉ chấp nhận rủi ro khi có thể chịu được mất mát..



Trang 51



• Thứ hai, việc xử lý, kiểm sốt rủi ro như thế nào cần cân nhắc xác suất xảy

ra mất mát.

• Thứ ba, khơng vì mất mát nhỏ trước mắt mà mạo hiểm cái lớn hơn

Các nguyên tắc được nêu trên đây cần xem xét ứng dụng trong từng trường

hợp kinh doanh cụ thể và có thể được phối hợp với nhau để đạt được hiệu quả cao

nhất. Điều quan trọng đối với doanh nghiệp là chọn ra được những phương pháp có

lợi nhất về mặt chi phí.

3.2.5 Một số các giải pháp cụ thể để xử lý và kiểm soát rủi ro trong việc thu,

chi BHXH

3.2.5.1 Biện pháp tăng thu BHXH.

3.2.5.1.1 Đối với khoản thu từ người lao động và người sử dụng lao động.

• Trước hết về phía quản lý vĩ mơ của nhà nước cần phải có được hệ thống

văn bản pháp lý ổn định, thoả đáng trong hoạt động BHXH nói chung và cơng tác

thu BHXH nói riêng (Như việc nhanh chóng cho ra đời luật BHXH) đưa công tác

thu BHXH đi vào nề nếp và có hiệu quả.

• Cần có các biện pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH ra các lực lượng

lao động trong xã hội (nước ta mới chỉ có 14% lực lượng lao động xã hội tham gia

BHXH) theo đúng tôn chỉ của tổ chức lao động thế giới (ILO) “Mọi người lao động

đều có quyền tham gia BHXH”, điều này sẽ góp phần mở rộng tăng trưởng quỹ

BHXH và thoả mãn quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng là

lấy số đơng bù số ít.

• Tăng cường hơn nữa việc kiểm tra, rà soát số lao động thuộc diện phải

tham gia BHXH bắt buộc theo luật định, xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm,

thường xuyên đôn đốc, đối chiếu số thu BHXH của các đơn vị sử dụng lao động,

phối hợp chặt chẽ với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác thu

BHXH tại các tỉnh, thành phố, tổ chức các chương trình tập huấn, hội thảo về thu

BHXH, tăng cường tuyên truyền về chính sách, chế độ BHXH qua các phương tiện

thông tin đại chúng, trực tiếp xuống các đơn vị sử dụng lao động, tuyên truyền vận

động cho sử dụng lao động, người lao động hiểu biết và nhận thức đúng về quyền

lợi trách nhiệm trong việc tham gia BHXH.



Trang 52



• Cần phải xác định lại tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH một cách chính xác

hơn trên cơ sở khoa học. Để tương ứng với mức hưởng trợ cấp BHXH nhằm đảm

bảo sự chi trả của quỹ BHXH, tránh vỡ quỹ (theo dự đoán của ILO với mức đóng

góp và mức hưởng hiện nay đến năm 2030 quỹ BHXH sẽ bị thâm hụt, ILO khuyên

nên đưa tỉ lệ đóng góp quỹ BHXH lên là 30% lương, một số tính tốn của các nhà

nghiên cứu trong nước thì để được hưởng 75% lương thì mức đóng góp phải là

35% quỹ lương còn nếu đóng góp 20% thì chỉ nên được hưởng 45% lương.

3.2.5.1.2 Với các khoản thu khác.

• Cần tích cực khai thác các khoản viện trợ, đóng góp từ các tổ chức từ trong

nước và ngồi nước.

• Mạnh dạn sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi đi đầu tư sinh lời vào mục tiêu phát

triển kinh tế đất nước vừa tăng việc làm cho xã hội, mở rộng đối tượng tham gia

BHXH, vừa tránh để nguồn vốn chết để tăng thu từ lãi đầu tư.

• Tăng cường đào tạo cán bộ đầu tư quỹ vừa đảm bảo tăng trưởng quỹ vừa

đảm bảo ổn định quỹ.

• Cần có những chính sách mới trong việc sử dụng vốn nhàn rỗi của quỹ

BHXH cho phù hợp với điều kiện nước ta bước vào nền kinh tế thị trường và sự ra

đời thị trường chứng khoán.

3.2.5.2 Các biện pháp giảm chi BHXH.

• Tổ chức ở các cấp, các ngành thực hiện việc chi trả các chế độ đầy đủ, kịp

thời theo đúng quy định của Nhà nước.

• Tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát hoạt động chi BHXH theo từng chế

độ, từng địa phương, ngành nghề tránh các hiện tượng tiêu cực trong chi BHXH và

có những biện pháp xử lý thích đáng vơí những trường hợp vi phạm.

• Tăng cường, tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, nâng cao năng lực

của các cán bộ nhằm tăng hiệu quả quản lý của các cán bộ này cho thích nghi vơí

điều kiện mới.

• Úng dụng cơng nghệ tin học vào quá trình quản lý hoạt động BHXH nói

chung, quản lý thu - chi nói riêng nhằm tăng hiệu quả quản lý các hoạt động này.



Trang 53



3.2.5.3 Bất đối xứng thông tin trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội

3.2.5.3.1 Một là, cơ quan bảo hiểm xã hội thiếu thơng tin về đối tượng tham

gia BHXH.

• Chưa xác định thơng tin chính xác về đối tượng thuộc diện tham gia

BHXH và đối tượng của BHXH. Đối tượng tham gia BHXH bao gồm người lao

động và người sử dụng lao động. Đối tượng được bảo hiểm là thu nhập của người

lao động bị giảm, mất khi xảy ra các rủi ro trong quá trình lao động như ốm đau,

sinh con, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết.

Như vậy, lợi ích của đối tượng tham gia BHXH gắn với đối tượng của BHXH. Nói

cách khác, người tham gia BHXH sẽ có nhiều thông tin hơn về đối tượng bảo hiểm

hơn là cơ quan BHXH.

Cơ quan BHXH thiếu thông tin về đối tượng thuộc diện tham gia và đối tượng

bảo hiểm là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng hiện nay DN

không tham gia BHXH; tham gia không đầy đủ cho tổng số lao động hiện có của

DN thuộc đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc; hoặc tham gia với mức lương

làm căn cứ đóng BHXH thấp hơn mức lương thực trả cho người lao động.

Theo quy định được áp dụng trước ngày 1/1/2016, tiền lương đóng BHXH đối

với người lao động thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết

định là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động, không bao gồm các

khoản phụ cấp. Vì vậy, trong thực tế, các DN đã lợi dụng quy định này bằng cách hạ

thấp tiền lương ghi trong hợp đồng lao động, bổ sung thêm các khoản phụ cấp và

trợ cấp; hoặc tăng các khoản phụ cấp chưa tính đóng.

• Thiếu cơ sở dữ liệu tập trung về người tham gia BHXH. Ở cấp quản lý vĩ

mơ, cơ quan BHXH chưa có cơ sở dữ liệu tập trung toàn quốc. Dữ liệu cần thiết để

quản lý bao gồm quá trình tham gia, sổ BHXH và xét hưởng BHXH, chi trả chế độ

BHXH còn phân tán ở các địa phương trong khi người lao động thường xuyên di

chuyển, biến động. Điều này dẫn đến tình trạng người lao động trục lợi Quỹ BHXH

dưới nhiều hình thức khác nhau như làm nhiều sổ BHXH và đề nghị hưởng ứng ở

nhiều địa phương...



Trang 54



• Thiếu sự liên kết giữa các ban ngành liên quan để chia sẻ thông tin. Xét ở

phạm vi rộng hơn, thông tin bất cân xứng còn thể hiện ở sự khác biệt và không

thống nhất thông tin giữa BHXH và các cơ quan liên quan. Để thực hiện thu BHXH

cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa tổ chức BHXH và các cơ quan liên quan như cơ

quan thuế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư... Nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan

này sẽ xác định được chính xác, đầy đủ số lượng lao động thuộc diện tham gia

BHXH, tạo cơ sở để thu BHXH được hiệu quả.

3.2.5.3.2 Hai là, người lao động thiếu thông tin về BHXH.

Người lao động thiếu thông tin về bản chất, mục tiêu của BHXH, về quyền lợi

và nghĩa vụ; điều kiện tham gia; Hồ sơ, thủ tục tham gia BHXH... có thể do các

ngun nhân sau:

• Cơng tác tun truyền, phổ biến về BHXH mặc dù đã được triển khai rộng

rãi song còn chưa hấp dẫn và thu hút đối tượng. Do đối tượng tham gia BHXH đa

dạng, thuộc nhiều thành phần kinh tế, nhiều ngành nghề, lĩnh vực, độ tuổi, giới tính,

trình độ dân trí… khác nhau nên các hình thức phổ biến pháp luật về BHXH chưa

tiếp cận tới từng người lao động.

• Hiểu biết của người lao động về chính sách BHXH còn hạn chế. Điều này

ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định có hay khơng tham gia BHXH, tham gia như thế

nào... của người lao động. Nếu không hiểu biết hoặc hiểu biết không đầy đủ về

BHXH, người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc sẽ tìm cách trốn đóng;

người lao động thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện sẽ quyết định không hoặc

không tiếp tục tham gia BHXH.

• Người lao động còn thiếu cơng cụ để quản lý quá trình tham gia và hưởng

BHXH của mình. Theo quy định hiện hành, hàng tháng người sử dụng lao động sẽ

trích tiền đóng BHXH của người lao động cùng với phần đóng góp của mình nộp

cho cơ quan BHXH. Điều này giúp quá trình quản lý thuận tiện hơn vì điều kiện để

người lao động tham gia BHXH bắt buộc là phải có quan hệ lao động. Tuy nhiên,

quy định này dẫn đến tình trạng nhiều đơn vị sử dụng lao động trích tiền đóng

BHXH của người lao động nhưng không nộp cho cơ quan BHXH.



Trang 55



3.2.5.4 Hậu quả của bất đối xứng thông tin trong bảo hiểm xã hội

Một là, lựa chọn bất lợi: Với sản phẩm bảo hiểm vốn có đặc tính vơ hình, chất

lượng sản phẩm chỉ có thể đánh giá hồn chỉnh khi xảy ra rủi ro và người tham gia

BHXH được nhận các khoản trợ cấp từ cơ quan BHXH. Vì thế, những lựa chọn bất

lợi của người lao động có thể là không tham gia BHXH, tham gia với mức tiền

lương thấp hơn mức tiền lương thực nhận từ người sử dụng lao động…

Các lựa chọn này khiến người lao động không được nhận trợ cấp, hoặc được

nhận trợ cấp với mức thấp tương ứng với mức đóng. Lợi thế thơng tin về đối tượng

được bảo hiểm giúp người lao động lựa chọn mức tiền lương, tiền công (đối với

BHXH bắt buộc) và mức thu nhập (đối với BHXH tự nguyện) giúp họ tối đa hóa lợi

ích.

Nếu một người có xác suất xảy ra rủi ro lớn, đặc biệt với những sự kiện bảo

hiểm có thể dự đốn trước thời điểm phát sinh như sinh con, họ sẽ hợp thức hóa hồ

sơ để tham gia BHXH với mức lương cao. Ngược lại, họ đăng ký tham gia BHXH

với mức lương thấp để tiết kiệm chi phí trong hiện tại. Nếu cơ quan BHXH khơng

kiểm sốt được mức lương làm căn cứ đóng BHXH thực tế của người lao động sẽ là

nguyên nhân dẫn đến mất cân đối thu - chi.

Bên cạnh đó, BHXH tự nguyện trong trường hợp thực hiện cả các chế độ ngắn

hạn như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp còn phải đối mặt với

sự lựa chọn ngược nghĩa là tình huống những người tham gia BHXH là những

người có khuynh hướng rủi ro cao bởi thơng tin bất đối xứng còn thể hiện qua hiểu

biết của người tham gia bảo hiểm về rủi ro của mình.

Người lao động sẽ khơng tham gia bảo hiểm nếu nhận thấy mức độ thỏa dụng

thấp khi tham gia một sản phẩm bảo hiểm nào đó, ví dụ những người khỏe mạnh có

xu hướng khơng tham gia bảo hiểm chăm sóc sức khỏe, những người đã qua độ tuổi

sinh đẻ khơng có nhu cầu tham gia chế độ thai sản… Trong tình huống đó, số lượng

người tham gia thấp làm tăng phí bảo hiểm và giảm độ bao phủ của BHXH.

Hai là, tâm lý ỷ lại (rủi ro đạo đức): Cụ thể, sau khi đã tham gia BHXH, bên

có nhiều thông tin hơn, tạo ra bất lợi cho bên còn lại để trục lợi là người lao động,



Trang 56



người sử dụng lao động, bệnh viện... Về lý thuyết, BHXH là sản phẩm không mong

đợi, nghĩa là người tham gia bảo hiểm khơng muốn được hưởng trợ cấp vì điều đó

đồng nghĩa với rủi ro xảy ra với họ. Tuy nhiên, với những sự kiện khơng hồn tồn

mang tính rủi ro như sinh con hoặc khi rủi ro đã xảy ra người lao động tìm cách gia

tăng số tiền trợ cấp.

Hình thức trục lợi BHXH đa dạng và xuất hiện ở tất cả các loại hình BHXH

bao gồm BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) và ở tất cả

các chế độ bao gồm chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp,

hưu trí, tử tuất. Với BHXH bắt buộc, đối tượng có thể bị tai nạn ngồi giờ làm việc

nhưng được hợp lý hóa là tai nạn lao động trong giờ làm việc để hưởng chế độ; có

thể đăng ký tham gia BHXH tại nhiều nơi với mức tiền lương làm căn cứ đóng

BHXH cao hơn mức lương thực tế để được hưởng nhiều khoản trợ cấp khi sinh con;

có thể báo ốm xin hưởng BHXH để giải quyết việc của cá nhân…

Với BHTN, người lao động tranh thủ nhảy việc để hưởng khoản bảo hiểm này

hoặc chủ sử dụng lao động chứng nhận thất nghiệp để hưởng BHTN. Với BHYT,

lợi thế về thông tin liên quan đến đặc thù chuyên mơn khiến tình trạng trục lợi dưới

nhiều hình thức như lạm dụng các dịch vụ kỹ thuật đắt tiền; các xét nghiệm sinh hóa

được làm nhiều lần, trùng lặp nhau; lạm dụng thuốc, kê đơn thuốc một cách rộng

rãi, tốn kém và bất hợp lý… trở nên phổ biến và khó kiểm sốt xuất phát từ cả phía

cơ sở khám chữa bệnh và người tham gia BHYT.

Ba là, vấn đề người ủy thác và người đại diện: Xảy ra khi người đại diện (giám

đốc cơng ty) làm việc vì lợi ích của mình bất chấp lợi ích của người ủy thác. BHXH

quản lý đối tượng tham gia theo danh sách đơn vị sử dụng lao động. Trong việc

đóng phí BHXH, chủ sử dụng lao động chính là người đại diện, người lao động là

người ủy thác.

Trong khi đó, bên có lợi thế về thông tin hơn là người sử dụng lao động; điều

này dẫn đến tình trạng người sử dụng lao động hàng tháng vẫn trích tiền đóng

BHXH của người lao động từ tiền lương, tiền công của họ; nhưng không nộp cho cơ

quan BHXH làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động. Người lao động vốn



Trang 57



yếu thế hơn trong mối quan hệ lao động, lại thiếu thơng tin và khơng có đầy đủ

cơng cụ để giám sát q trình đóng góp của người sử dụng lao động dẫn đến người

sử dụng lao động mưu cầu lợi ích cá nhân bất chấp lợi ích của người lao động bị

ảnh hưởng.

3.2.5.5 Để giảm bất đối xứng thông tin trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội

Ứng dụng lý thuyết về giảm tính bất đối xứng thơng tin của Michael Spence nhà kinh tế học Hoa Kỳ đạt giải Nobel Kinh tế năm 2001 và Joseph Stiglitz - nhà

kinh tế Hoa Kỳ, đạt giải Nobel Kinh tế năm 2001 vào việc giảm bất đối xứng thông

tin trong lĩnh vực BHXH tương ứng như sau:

Một là, cơ chế phát tín hiệu: Mặc dù, bên có lợi thế thơng tin hơn là người lao

động, song việc không tham gia BHXH cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của

người lao động khi gặp rủi ro. Do đó, để trang bị cho người lao động những kiến

thức, hiểu biết cơ bản về BHXH, từng bước tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức,

BHXH cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền đến các đối tượng thơng qua

nhiều hình thức đa dạng, phong phú: bằng các phương tiện thông tin đại chúng (tivi,

báo, đài…), pano, áp phích, tờ rơi; Lồng ghép nội dung BHXH vào các buổi sinh

hoạt tại thôn, xã, các hội, đoàn thể, các DN, cơ quan. Ngoài ra, thúc đẩy hiệu quả

hoạt động của trang thông tin điện tử của BHXH nhằm giúp tổ chức BHXH tiếp cận

với từng người lao động với chi phí thấp hơn rất nhiều so với hình thức tuyên

truyền trực tiếp.

Hai là, cơ chế sàng lọc: Với vai trò là người mua, đối tượng tham gia BHXH

có thể tìm hiểu thơng tin về chế độ chính sách, hồ sơ thủ tục tham gia BHXH; Điều

kiện, thủ tục hưởng BHXH… từ kênh thơng tin chính thức của BHXH hoặc các

kênh thông tin độc lập khác, chẳng hạn như chuyên mục hỏi đáp của các báo,

chuyên mục hộp thư bạn đọc trên truyền hình… Trong khi đó, với vai trò là người

bán, cơ quan BHXH có thể nắm bắt thông tin về người tham gia một cách chủ động

thông qua công tác thống kê, điều tra; hoạt động thanh tra, kiểm tra; hoặc phối hợp

với các cơ quan liên quan như cơ quan thuế...



Trang 58



Bên cạnh đó, thông qua việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong

việc thực hiện BHXH, cơ quan BHXH có thể thiết lập cơ sở dữ liệu tập trung cho

toàn Ngành và tạo điều kiện cho người lao động công cụ để cùng với BHXH quản

lý tốt hơn việc thực hiện trách nhiệm của người sử dụng lao động.

3.2.5.6 Những nguyên nhân chính của việc vi phạm pháp luật bảo hiểm xã

hội

Theo những góc độ nghiên cứu khác nhau có thể nêu ra những nguyên nhân vi

phạm pháp luật bảo hiểm xã hội khác nhau. Trong phạm vi tiếp cận từ góc độ pháp

luật và thực tiễn thực hiện, xin đề cập một số nguyên nhân cơ bản làm cơ sở đề xuất

những biện pháp khắc phục:

Trước hết, phải thấy rằng những quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội là

chưa đầy đủ, chưa điều chỉnh hết các quan hệ có liên quan đến việc đóng bảo hiểm

xã hội của người sử dụng lao động, người lao động và của Nhà nước.

Thứ hai, trình độ nhận thức của người sử dụng lao động, người lao động và kể

cả các cơ quan của Nhà nước về trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội còn hạn chế.

Tâm lí của đa số người lao động là không mặn mà với các khoản đóng góp (kể cả

đóng thuế). Tầm quan trọng, vị trí, vai trò của quỹ bảo hiểm xã hội liên quan mật

thiết đến đời sống của hàng triệu người chưa được thể hiện đúng trong pháp luật.

Thứ ba, tính cưỡng chế của Luật bảo hiểm xã hội với các hành vi vi phạm

pháp luật còn ở mức độ nhẹ, chưa phù hợp với yêu cầu thực tế.

Thứ tư, việc quản lí nhà nước của Bộ lao động-thương binh và xã hội trong

việc thực hiện thu bảo hiểm xã hội của Bảo hiểm xã hội Việt Nam còn nhiều hạn

chế, chưa đạt hiệu quả cao.

3.3 Kếtluậnvàkighị

3.3.1 Kết luận

Con người muốn tồn tại và phát triển được trước hết phải ăn, mặc, ở và đi lại

v..v...Để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động để làm ra

những sản phẩm cần thiết. Khi sản phẩm tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con

người ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn. Như vậy,



Trang 59



việc thoả mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào

chính khả năng lao động của họ. Nhưng trong thực tế, con người khơng chỉ lúc nào

cũng gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường. Trái

lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho

người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn,

bất ngờ bị ốm đau hoặc bị tai nạn trong lao động, mất việc làm hay khi tuổi già khả

năng lao động hay khả năng tự phục vụ bị suy giảm v..v...Khi rơi vào những trường

hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống khơng vì thế mà mất đi, trái lại có

cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới mhư: cần được

khám và điều trị khi ốm đau; tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc

ni dưỡng v..v...Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội

lồi người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san

sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong một nội bộ cộng đồng; đi vay, đi mượn hoặc dựa vào sự

cứu trợ của Nhà nước v..v... Rõ ràng, những cách đó là hồn tồn thụ động và khơng

chắc chắn.

Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ

biến. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải cam

kết bảo đảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định đẻ họ trang trải

những nhu cầu cần thiết khi ốm đau, tai nạn, thai sản...Trong thực tế, nhiều khi các

trưòng hợp trên khơng xảy ra và người chủ không phải chi trả một đồng nào. Nhưng

cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ một lúc phải bỏ ra trong một lúc nhiều khoản

tiền lớn mà họ khơng muốn.Vì thế mâu thuẫn chủ- thợ phát sinh, giới thợ liên kết

đấu tranh buộc chủ phải thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh này diền ra ngày càng

rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà nước đã

phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt làm tăng

vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc các giới chủ và giới thợ phải đóng góp một

khoản tiền nhất định hàng tháng được tính tốn chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi

ro xảy ra đối với người làm thuê .Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một

quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Qũy này còn được bổ sung từ ngân sách



Trang 60



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Xây dựng chính sách quản trị rủi ro

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×