Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY BIGRFEED HƯNG YÊN

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY BIGRFEED HƯNG YÊN

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Điện thoại: 03216539698

- Fax: 03213920008

- Email: bigrfeedhungyen@gmail.com

- Website: www.bigrfeed.vn

2.1.2. Q trình hình thành và phát triển của cơng ty

Bigrfeed Hưng Yên là một doanh nghiệp có đầy đủ tư cách pháp nhân,

hạch tốn độc lập, có con dấu riêng, thực hiện trách nhiệm đóng góp cho ngân

sách Nhà nước đầy đủ.

Được liên kết thành lập bởi các nhà đầu tư và những người có trình độ,

kinh ngiệm trong ngành Thức ăn chăn nuôi, Công ty cổ phần Bigrfeed Hưng

Yên đã xây dựng và lắp đặt xong nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Khu

Công Nghiệp Phố Nối B - Tân Lập - Yên Mỹ - Hưng Yên với công suất 8-10

tấn/h. Công ty đang đầu tư xây dựng chi nhánh và nhà máy ở Nghệ An với

mục tiêu thâm nhập và mở rộng thị trường miền Trung, dự kiến sẽ đi vào hoạt

động trong năm nay. Trong tương lai BIGRFEED sẽ hoàn thành dự án chuỗi

sản phẩm bao gồm" Con giống- Trang Trại- Nhà máy Sản xuất thức ăn chăn

nuôi- Chế biến thực phẩm từ Gia súc, gia cầm".

2.1.3. Những lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của Công ty

- Sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản.

- May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú).

- Bán lẻ lương thực, thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, thuốc lào lưu động

-



hoặc tại chợ.

Chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản.

Bán buôn nông, lâm sản nguyên liệu (trừ gỗ, tre, nứa) và động vật sống.

Bán lẻ lương thực trong các cửa hàng chuyên doanh.

Bán lẻ thực phẩm trong các cửa hàng chuyên doanh.

Vận tải hành khách đường bộ trong nội thành, ngoại thành (trừ vận tải



-



bằng xe buýt).

Vận tải hành khách đường bộ khác.

Vận tải hàng hóa bằng đường bộ.

Kho bãi và lưu giữ hàng hóa.

Bốc xếp hàng hóa.

Chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt.

31



2.1.4. Cơ cấu tổ chức bộ máy của cơng ty

• Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý

Công ty Cổ phần Bigrfeed Hưng n được xây dựng theo mơ hình

cơng ty cổ phần vốn góp của nhiều cổ đơng. Bộ máy của công ty được tổ chức

theo kiểu trực tuyến chức năng để tránh cồng kềnh, quá tải. Các phòng ban

liên kết với nhau theo quan hệ dọc và ngang, có các quyền hạn và trách nhiệm

xác định, có chức năng tham mưu cho giám đốc trong quản lý và điều hành

công ty.



HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ



BAN KIỂM

SỐT



BAN GIÁM ĐỐC



PHỊNG



PHỊNG



PHỊNG



PHỊNG



PHỊN



PHỊNG



BỘ



HÀNH



ĐIỀU







KCS



G



TÀI



PHẬ



CHÍNH-



HÀNH



THUẬT



KINH



CHÍNH



N



NHÂN



SẢN



DOAN



KẾ



KHO



SỰ



XUẤT



H



TỐN



PHÂN



PHÂN



PHÂN



PHÂN



PHÂN



XƯỞNG



XƯỞNG



XƯỞNG



XƯỞNG



XƯỞNG



1Sơ đồ 1: Sơ đồ cơ

2 cấu tổ chức 3bộ máy của Công

4 ty CP Bigrfeed5



Hưng Yên

2.2. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài và một số đặc điểm kinh tế kỹ thuật

liên quan.

2.2.1. Thị trường và cơ chế thị trường

Trong cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp luôn phải đặt mình trong

tình trạng cạnh tranh gay gắt. Để tồn tại được, đòi hỏi các doanh nghiệp phải



32



hoạt động một cách thực sự có hiệu quả, về chất lượng sản phẩm cũng như

cách thức quản lý của doanh nghiệp.

Quy luật khan hiếm đã chỉ ra rằng, nhu cầu của con người ngày càng đa dạng

phong phú, trong khi các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm thì nhu

cầu này lại càng gia tăng. Dẫn đến bắt buộc mọi doanh nghiệp phải trả lời

chính xác ba câu hỏi: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai?

Chỉ những doanh nghiệp sản xuất đúng loại sản phẩm với số lượng và chất

lượng mới được thị trường chấp nhận. Để thấy được sự cần thiết của việc

nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp, đặc biệt trong nền

kinh tế thị trường, trước hết chúng ta phải nghiên cứu cơ chế thị trường và

hoạt động của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.

Theo quan điểm kinh tế học: "Thị trường là tổng thể cung cầu đối với

một loại hàng hố nhất định trong khơng gian và thời gian cụ thể". Định nghĩa

này chủ yếu được dùng trong điều tiết vĩ mơ thị trường và mang tính lý thuyết

nhiều hơn. Đối với một nhà quản lý doanh nghiệp khái niệm thị trường phải

được gắn với các tác nhân kinh tế tham gia vào thị trường như người mua,

người bán, người phân phối thì: "Thị trường của doanh nghiệp là tập hợp

những khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp đó, tức là những khách hàng

là người mua hoặc có thể mua sản phẩm của doanh nghiệp đó"...

Song nhìn chung khái niệm về thị trường là được hiểu theo nghĩa chung

phù hợp với mỗi giai đoạn của sự phát triển hàng hố. Trên thị trường ln

tồn tại các qui luật vận động của hàng hoá, giá cả, tiền tệ... Như các qui luật

giá trị, qui luật thặng dư, qui luật giá cả, qui luật cạnh tranh... Các qui luật này

tạo thành hệ thống thống nhất và hệ thống này chính là cơ chế thị trường. Như

vậy cơ chế thị trường được hình thành bởi sự tác động tổng hợp trong sản

xuất và trong lưu thơng hàng hố trên thị trường. Thơng qua các quan hệ mua

bán hàng hố, dịch vụ trên thị trường nó tác động đến việc điều tiết sản xuất,

tiêu dùng, đầu tư và từ đó làm thay đổi cơ cấu sản phẩm, cơ cấu ngành. Nói

cách khác cơ chế thị trường điều tiết quá trình phân phối lại các nguồn lực

trong sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội một cách tối ưu nhất.

33



Tóm lại, với sự vận động đa dạng, phức tạp của cơ chế thị trường dẫn

đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sự tiến

bộ của các doanh nghiệp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Tuy nhiên để tạo ra

được sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi các doanh nghiệp phải

xác định cho mình một phương thức hoạt động riêng, xây dựng các chiến

lược, các phương án kinh doanh một cách phù hợp và có hiệu quả. Như vậy

trong cơ chế thị trường việc nâng cao hiệu quả kinh doanh vơ cùng quan

trọng, nó được thể hiện thơng qua:

Thứ nhất, nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở cơ bản để đảm bảo sự

tồn tại

và phát triển của doanh nghiệp. Sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định

bởi sự có mặt của doanh nghiệp trên thị trường, mà hiệu quả kinh doanh lại là

nhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại này, đồng thời mục tiêu của doanh nghiệp

là luôn tồn tại và phát triển một cách vững chắc. Do đó việc nâng cao hiệu

quả kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với tất cả các doanh

nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay. Do yêu cầu của sự tồn tại

và phát triển của mỗi doanh nghiệp đòi hỏi nguồn thu nhập của doanh nghiệp

phải không ngừng tăng lên. Nhưng trong điều kiện nguồn vốn và các yếu tố

kỹ thuật cũng như các yếu tố khác của quá trình sản xuất chỉ thay đổi trong

khn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng

cao hiệu quả kinh doanh. Như vậy, hiệu quả kinh doanh là điều kiện hết sức

quan trọng trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Một cách nhìn khác là sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự

tạo ra hàng hoá, của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã

hội, đồng thời tạo ra sự tích luỹ cho xã hội. Để thực hiện được như vậy thì

mỗi doanh nghiệp đều phải vươn lên để đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí

bỏ ra và có lãi trong qúa trình hoạt động kinh doanh. Có như vậy mới đáp ứng

được nhu cầu tái sản xuất trong nền kinh tế. Và như vậy chúng ta buộc phải

nâng cao hiệu quả kinh doanh một cách liên tục trong mọi khâu của quá trình

hoạt động kinh doanh như là một yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, sự tồn tại mới

34



chỉ là u cầu mang tính chất giản đơn còn sự phát triển và mở rộng của

doanh nghiệp mới là yêu cầu quan trọng. Bởi vì sự tồn tại của doanh nghiệp

ln luôn phải đi kèm với sự phát triển mở rộng của doanh nghiệp, đòi hỏi

phải có sự tích luỹ đảm bảo cho quá trình tái sản xuất mở rộng theo đúng qui

luật phát triển. Như vậy để phát triển và mở rộng doanh nghiệp mục tiêu lúc

này khơng còn là đủ bù đắp chi phí bỏ ra để phát triển quá trình tái sản xuất

giản đơn mà phải đảm bảo có tích luỹ đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng,

phù hợp với qui luật khách quan và một lần nữa nâng cao hiệu quả kinh doanh

được nhấn mạnh.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh

tranh và tiến bộ trong kinh doanh. Chính việc thúc đẩycạnh tranh yêu cầu các

doanh nghiệp phải tự tìm tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh.

Chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận sự cạnh tranh. Trong khi thị trường

ngày càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt

và khốc liệt hơn. Sự cạnh tranh lúc này khơng còn là cạnh tranh về mặt hàng

mà cạnh tranh cả về chất lượng, giá cả và các yếu tố khác. Trong khi mục tiêu

chung của các doanh nghiệp đều là phát triển thì cạnh tranh là yếu tố làm các

doanh nghiệp mạnh lên nhưng ngược lại cũng có thể là các doanh nghiệp

không tồn tại được trên thị trường. Để đạt được mục tiêu là tồn tại và phát

triển mở rộng thì doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh trên thị

trường. Do đó doanh nghiệp phải có hàng hoá dịch vụ chất lượng tốt, giá cả

hợp lý. Mặt khác hiệu quả kinh doanh là đồng nghĩa với việc giảm giá thành

tăng khối lượng hàng hoá bán, chất lượng không ngừng được cải thiện nâng

cao...

Thứ ba, mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi

nhuận. Để thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp phải tiến hành mọi hoạt động

sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trường. Muốn vậy,

doanh nghiệp phải sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhất định. Doanh



35



nghiệp càng tiết kiệm sử dụng các nguồn lực này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội

để thu được nhiều lợi nhuận bấy nhiêu.

Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử

dụng tiết kiệm các nguồn lực xã hội nên là đIều kiện để thực hiện mục tiêu

bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh càng cao càng phản

ánh doanh nghiệp đã sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất.Vì vậy, nâng

cao hiệu quả kinh doanh là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện

mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận. Chính sự nâng cao hiệu quả

kinh doanh là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tồn tại, phát

triển của mỗi doanh nghiệp.

2.2.2. Tổng quan về thị trường thức ăn chăn nuôi

Trong những năm gần đây, sản xuất thức ăn chăn nuôi rõ ràng là một

thị trường béo bở, nhưng các doanh nghiệp trong nước hiện vẫn đang hồn

tồn lép vế. Năm 2012, trong khi ngành chăn ni điêu đứng do giá sản phẩm

xuống thấp, dịch bệnh, thiếu vốn… dẫn đến tình trạng hàng loạt doanh nghiệp

trong nước phải thu hẹp sản xuất hoặc phá sản thì các doanh nghiệp nước

ngoài vẫn liên tục mở thêm nhà máy sản xuất thức ăn cho ngành này. Các

doanh nghiệp ngoại tỏ ra áp đảo. Theo chiến lược phát triển ngành chăn nuôi,

Việt Nam cần tới 18-20 triệu tấn thức ăn công nghiệp; đến năm 2015 và năm

2020 là 25- 26 triệu tấn. Thị trường thức ăn chăn nuôi Việt Nam có doanh số

hàng năm lên tới 6 tỷ USD và mức tăng trưởng luôn trong khoảng 1315%/năm. Sự hấp dẫn của thị trường này đã lôi cuốn đủ mặt các tập đồn sản

xuất thức ăn nhất nhì thế giới vào Việt Nam như: CP Group (Thái Lan),

Cargill (Hoa Kỳ), NewHope (Trung Quốc)…

Năm 2014, CP Group (CPG) có thêm 6 nhà máy thức ăn chăn nuôi tại

Việt Nam. New Hope cũng có kế hoạch tương tự. Cơng ty TNHH Thức ăn

chăn nuôi Kyodo Sojitz (KSF) của Nhật Bản đã đưa vào hoạt động một nhà

máy có cơng suất 200.000 tấn/năm tại Long An. Trong năm 2012, Công ty

Cargill Việt Nam đã khánh thành nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi thứ 9 tại



36



Việt Nam, đưa công suất lên 1 triệu tấn/năm và dự kiến tăng lên 1,5 triệu

tấn/năm từ năm 2015.

Đây là câu chuyện ẩn chứa đằng sau đó là những rủi ro cho ngành chăn

nuôi Việt Nam. Thức ăn chăn ni chiếm tới 70% chi phí chăn ni và có khả

năng quyết định giá thành sản phẩm khi bán ra thị trường. Đến nay, CPG đã

phát triển thành một chuỗi chăn ni khép kín, từ sản xuất con giống (lợn,

gà), thức ăn chăn nuôi cho đến chế biến thực phẩm. CPG hiện đang nắm giữ

khoảng 40% thị phần thịt gà công nghiệp, 50% thị phần trứng gà công nghiệp,

18-20% thị phần thức ăn gia súc tại Việt Nam. Trong đó, doanh thu từ thức

ăn chăn ni chiếm 52,6%, còn lại là doanh thu từ các sản phẩm khác. Mặc

dù đã có 3.000 cửa hàng, nhưng CPG sẽ xây dựng thêm 10.000 cửa hàng bán

lẻ trên cả nước. Không thể đứng n nhìn các doanh nghiệp nước ngồi làm

mưa làm gió thị trường, một vài doanh nghiệp Việt Nam với chiến lược hợp

lý, đang từng bước phát triển thương hiệu, mở rộng thị trường thức ăn chăn

nuôi. Công ty Proconco, một cái tên Việt Nam hiếm hoi đứng trong top những

doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn ni có sản lượng lớn là một ví dụ.

Proconco đang nằm trong sự quản lý của ba công ty lớn của Việt Nam là

Masan (chiếm 40% sở hữu), Tổng Công ty Công nghiệp Thực phẩm Đồng

Nai (Dofico) (20%), Tín Nghĩa (20%). Masan mua Proconco là nhằm hoàn tất

chuỗi giá trị trong ngành thực phẩm của tập đồn này. Tồn bộ quy trình sản

xuất thực phẩm của Masan được khép kín, từ cung cấp ngun liệu, ni, chế

biến tới phân phối. Dofico thì đang từng bước hoàn thiện chiến lược đầu tư

“từ trang trại đến bàn ăn” thông qua việc xây dựng Khu liên hợp công nông

nghiệp (Agropark). Đây là cách các doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh

sản xuất theo chuỗi giá trị, giống như các doanh nghiệp nước ngoài đang thực

hiện. Proconco đang sở hữu thế mạnh thức ăn chăn nuôi cho cá tra. Do đó,

chiến lược phát triển tiếp theo của Proconco là nâng cao tỷ lệ sản xuất, tiêu

thụ thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm và đã xây dựng các trại giống để

thử nghiệm sự hiệu quả các sản phẩm mới. Một công try khác của Việt Nam,

37



Công ty Thủy sản Hùng Vương (HVG) thực hiện chiến lược M&A để làm chủ

việc sản xuất thức ăn cho tôm cá. Đầu năm 2013, Hùng Vương đã mua 5,63

triệu cổ phiếu của Công ty cổ phần Thức ăn chăn nuôi Việt Thắng (VTF)

nhằm tăng tỷ lệ sở hữu từ 28,54 lên 55,31%. VTF là doanh nghiệp sản xuất

thức ăn chăn nuôi hàng đầu tại đồng bằng sông Cửu Long với cơng suất

350.000 tấn/năm. Cơng ty có ba nhà máy, gồm nhà máy Sa Đéc 1, 2 và nhà

máy Lai Vung. Đến năm 2014, VTF nâng tổng công suất lên 480.000 tấn/năm

và đầu tư phát triển thêm ngành sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn

cho thủy sản khác. Việc đưa VTF trở thành công ty con giúp HVG tiết kiệm

được rất lớn chi phí thức ăn chăn ni. Ngồi ra, Hùng Vương cũng mua lại

Nhà máy sản xuất Thức ăn thủy sản Việt Đan với giá trị 74 tỷ đồng, công suất

100.000 tấn/năm. Điều này sẽ làm cho năng lực sản xuất thức ăn cho cá của

Hùng Vương tăng lên nhiều lần. Một thành viên gián tiếp của HVG là Công

ty cổ phần Thức ăn thủy sản Hùng Vương Tây Nam với công suất 150.000

tấn/năm cũng là nguồn cung cấp thức ăn thủy sản với chi phí thấp cho các

vùng ni của HVG. Việc sở hữu nhiều nhà máy thức ăn chăn nuôi là “bàn

đạp” phục vụ cho mục tiêu chiếm 25-30% trên tổng kim ngạch xuất khẩu của

ngành (khoảng 3 tỷ USD) vào năm 2015 của HVG.

Theo ông Lê Bá Lịch, Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn ni Việt Nam,

thì sự lép vế của doanh nghiệp Việt Nam trước doanh nghiệp nước ngoài

trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi chủ yếu nằm ở chỗ không xác định được

“máy cái” của ngành là premix. Đây là hỗn hợp các chất giàu dinh dưỡng có

hoạt tính sinh học cao bổ sung vào thức ăn hỗn hợp nhằm cân đối các chất

dinh dưỡng, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn của vật nuôi. Hàng

chục năm nay, các cơng ty nước ngồi sản xuất hàng ngàn tấn premix bán trên

thị trường Việt Nam và không có đối thủ cạnh tranh. Nhà nước đã đầu tư hàng

chục tỷ đồng để nghiên cứu sản xuất premix, nhưng đến nay chưa có kết quả

để đưa vào sản xuất, giúp doanh nghiệp chủ động hạ giá thành thức ăn chăn

ni. Nói vậy để thấy rằng, trong thời điểm hiện tại, các doanh nghiệp sản

38



xuất thức ăn chăn nuôi của Việt Nam vẫn gặp mn vàn khó khăn trước sức

mạnh của các doanh nghiệp ngoại. Để có thể cạnh tranh sòng phẳng trong thị

trường béo bở này, đòi hỏi các doanh nghiệp nội phải vạch ra một con đường

phù hợp. Ngồi vấn đề về tài chính, nhân lực, một kế hoạch nâng cao hiệu quả

kinh doanh sản xuất là điều cấp bách phải thực hiện. 2.2.3. Đối với Công ty

Cổ phần Bigrfeed Hưng Yên Là một công ty hoạt động trong lĩnh vực sản

xuất thức ăn chăn nuôi, Công ty Cổ phần Bigrfeed Hưng Yên có những cơ hội

và thách thức rõ ràng. Sự cạnh tranh của nền kinh tế thị trường nói chung,

cùng những khó khăn của thị trường cung cấp thức ăn chăn ni nói riêng đã

phân tích ở trên buộc công ty phải đưa ra một chiến lược phát triển vững chắc,

ổn định thay vì tăng trưởng “bong bóng”. Việc nâng cao hiệu quả trong hoạt

động sản xuất kinh doanh là xương sống của sự bền vững, nhưng không phải

doanh nghiệp nào cũng thành công với chiến lược của mình. Rõ ràng đây là

một hoạt động quan trọng hàng đầu, cấp thiết của Công ty. Với đề tài đã lựa

chọn của mình, em hi vọng có được sự đóng góp nhỏ trong việc nghiên cứu

và hồn thiện phương pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

của Công ty Cổ phần Bigrfeed Hưng Yên.

2.3. Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Cơng ty

2.3.1. Tình hình tài chính của Doanh nghiệp

* Phân tích tình hình tài sản, nguồn vốn của Cơng ty qua BCĐKT

Bảng 2.1: Tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty

31/12/2014

Chỉ tiêu



31/12/2013

Tỷ



Số tiền



trọng



Chênh lệch

Tỷ



Số tiền



trọng



Số tiền



Tỷ lệ

(%)



Tỷ

trọng



(%)



(%)



1. TSNH



92.236.648 72,80



87.166.578 69,70



2. TSDH



34.462.403 27,20



37.897.064 30,30 -3.434.661 -9,06 -3,10



Tổng tài sản



126.699.051



100



125.063.643



39



100



5.070.070 5,82



1.635.408 1,31



(%)

3,10



0



1. NPT



80.712.452 63,70



81.938.460 66,51 -1.226.007



2. VCSH



45.986.598 36.30



43.125.182 33,49



Tổng nguồn vốn



126.699.051



100



125.063.643



100



-1,5 -2.81



2.861.416 6,64



2,81



1.635.408 1,31



0



(Nguồn: Bảng cân đối kế tốn Cơng ty Bigrfeed Hưng Yên-31/12/2013 )

Tình hình tài sản: Tổng tài sản cuối năm tăng so với đầu năm hơn 1,6

tỷ đồng, tương ứng tăng 1,31% là do trong năm TSDH giảm đi 3.434 triệu

đồng nhưng TSNH tăng hơn 5 tỷ đồng. Quy mô tài sản của công ty mở rộng

sẽ tạo điều kiện cho việc mở rộng SXKD nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh

của công ty.

TSNH tăng là do năm 2014, công ty đã thu hồi được nợ từ một số

khách hàng làm lượng tiền mặt tăng thêm. Ngoài ra, số tiền công ty chi ra để

mở rộng mặt bằng nhưng khơng được chính quyền địa phương phê duyệt, làm

các khoản phải thu khác tăng hơn 4 tỷ đồng.

TSDH giảm là do trong năm, Giá trị hao mòn lũy kế tăng (do thời gian

hữu ích của một số máy móc ngắn hơn so với ước tính trước đó nên công ty

phải điều chỉnh tăng khấu hao), dẫn đến TSCĐ giảm 2,4 tỷ đồng. Ngồi ra,

năm 2014 cơng ty khơng có phải thu dài hạn nên TSDH khác trong năm giảm

so với 2014 là gần 1 tỷ đồng.

Về cơ cấu của tài sản,ta thấy TSNH luôn chiếm tỷ trọng lớn và có xu

hướng tăng (cuối năm 2014 là 69,7%, cuối năm 2014 là 72,8%). TSDH có tỷ

trọng thấp hơn và đang có xu hướng giảm (cuối năm 2014 so với đầu năm tỷ

trọng giảm 3,1%). Như vậy, chúng ta có thể nhận định rằng công ty đang tăng

cường đầu tư vào TSNH, giảm việc đầu tư vào TSDH, điều này là hồn tồn

hợp lí với cơng ty hoạt động trong lĩnh vực SXKD vì phần lớn nhu cầu vốn

phục vụ cho SXKD của công ty chủ yếu là nguồn vốn lưu động.

Tình hình nguồn vốn: Tổng nguồn vốn cuối năm so với đầu năm tăng

nhẹ, tăng lên 1,6 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 1,31%. Phân tích cụ thể nguồn

vốn:

40



Nợ phải trả trong năm giảm hơn 1,2 tỷ đồng, tương ứng giảm 1,5% là

do nợ ngắn hạn giảm 4,6 tỷ đồng và nợ dài hạn tăng 3,4 tỷ đồng. Nợ ngắn hạn

giảm là do đến năm 2014, khoản vay dài hạn ngân hàng MB của công ty 5 tỷ

đồng đến hạn trả, thêm vào đó, cơng ty trả nợ lương cán bộ công nhân viên

làm khoản phải trả người lao động giảm 177 triệu đồng. Nợ dài hạn tăng là

do, sau khi trả 5 tỷ tiền vay ngân hàng, công ty tiếp tục vay thêm 5 tỷ nữa với

thời hạn 5 năm, làm cho khoản này so với đầu năm tăng 3,4 tỷ đồng.

Vốn chủ sở hữu cuối năm 2014 tăng hơn 2,8 tỷ đồng, tương ứng tăng

6,64% là do trong năm cơng ty làm ăn có lãi, LNST tăng và sau khi phân chia

hết thì phần lợi nhuận chưa phân phối còn lại tăng.

Về cơ cấu trong nguồn vốn, tỷ trọng nợ phải trả trong nguồn vốn chiếm

phần lớn. Điều đó có nghĩa là cơng ty đang có hướng mạo hiểm trong kinh

doanh. Tuy nhiên, nếu công ty biết tận dụng tốt các khoản vay thì có thể phát

huy được đòn bẩy tài chính, khuếch đại ROE. VCSH chiếm tỷ trong thấp hơn

nhưng có xu hướng tăng, cuối năm so với đầu năm tăng 2,81% (từ 33,49% lên

36,3%). Như vậy, lãnh đạo công ty đã bắt đầu chú ý đến tính tự chủ về tài

chính, hướng đến tính an tồn trong kinh doanh.

Nhận xét: Việc quy mơ tài sản, nguồn vốn cuối năm 2014 tăng so với

đầu năm cho thấy sự mở rộng trong quy mô kinh doanh của DN, điều này là

dễ hiểu khi trong những năm vừa qua mặc dù tình hình kinh tế khó khăn, cạnh

tranh khá gay gắt, nhưng cơng ty đã cố gắng tìm ra hướng đi của mình bằng

việc tìm thêm khách hàng mới, nghiên cứu thị trường, thay đổi mẫu mã sản

phẩm nhằm tăng doanh thu, lợi nhuận cho DN.

2.3.2 Phân tích kết quả kinh doanh của Công ty qua BCKQKD

Bảng 2.2 Khái quát tình hình kết quả kinh doanh

Chỉ tiêu

1. Doanh thu bán hàng và cung cấp

dịch vụ

2. Các khoản giảm trừ doanh thu



Năm 2014

230,87

1,518

10,93

5,816



41



Năm 2013

200,53

1,154

6,1

42,554



Chênh lệch

Số tiền

%

30,340,364



15.13



4,793,262



78.03



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY BIGRFEED HƯNG YÊN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×