Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Kết quả nghiên cứu

3 Kết quả nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

50



tăng, sản lượng công nghiệp khu vực nhà nước tăng lên bên cạnh đó tỷ lệ số người đi

học gia tăng thì sẽ kiềm chế tín dụng của hệ thống tài chính ảnh hưởng tiêu cực đến sự

phát triển tài chính (Law, 2009). Ngồi các giải pháp đã nêu thì để quản lý cho vay và

tiền gửi trong hệ thống tài chính cần bổ sung thêm giải pháp đối với chi tiêu của chính

phủ trong đó lưu ý đến vấn đề chi tiêu cơng và nợ cơng.

Đối với mơ hình thể hiện sự co giãn của tỷ lệ của tổng số tiền tiết kiệm hộ gia

đình trên GDP danh nghĩa. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong dài hạn độ mở thương

mại, độ mở tài chính đang tác động tiêu cực đến sự phát triển tài chính hay tỷ lệ tiền

tiết kiệm hộ gia đình trong hệ thống tài chính phù hợp với kết quả nghiên cứu của

(Guariglia và Poncet, 2008). Nghiên cứu đã đồng ý quan điểm của Braun và Raddatz

(2005) cho rằng chi tiêu chính phủ, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng, sản lượng công

nghiệp khu vực nhà nước, tỷ lệ số người đi học gia tăng là động lực để gia tăng tiết

kiệm và tự do hóa tài chính tại Việt Nam. Giải pháp đưa ra tương tự đối với các giải

pháp đã đề xuất ở trên.

Đối với mơ hình thể hiện sự co giãn của hiệu quả được đo bằng tỷ lệ tín dụng

được phân bổ cho các doanh nghiệp tư nhân trên tổng tín dụng trong nước. Kết quả

nghiên cứu cho thấy độ mở thương mại, độ mở tài chính đang tác động tích cực đến sự

phát triển tài chính hay tỷ lệ tín dụng phân bổ cho khu vực tư nhân trong hệ thống tài

chính (Rajan và Zingales (2003), Baltagi et al., (2009)). Nghiên cứu kiểm chứng giả

thiết của Beck (2002), Braun và Raddatz (2005): Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng, sản

lượng công nghiệp khu vực nhà nước, tỷ lệ số người đi học gia tăng Trong khi đó chi

tiêu chính phủ giảm làm gia tăng tín dụng đối với khu vực tư nhân.



51



CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

5.1



Kết luận

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa độ mở thương mại và độ mở tài chính, sự phát



triển tài chính và tăng trưởng kinh tế Việt Nam, sử dụng các dữ liệu tài chính quốc gia

từ năm 1990 đến năm 2017. Thực hiện định lượng các vấn đề nghiên cứu với phần

mềm EVIEWS 8 bằng việc phân tích mơ hình VECM đối với mơ hình các nhân tố

được đề xuất bởi Chengsi Zhang , Yueteng Zhu , Zhe Lu (2015).

Xem xét sự co giãn của tỷ lệ tổng dư nợ trong hệ thống tài chính (bao gồm cả

ngân hàng và phi ngân hàng tổ chức tài chính). Kết quả hồi quy mơ hình VECM cho

thấy trong dài hạn độ mở thương mại và độ mở tài chính hay tự do hóa tài chính tác

động tiêu cực đến sự phát triển tài chính hay dự nợ trong hệ thống tài chính. Khi tốc độ

tăng trưởng kinh tế tăng, sản lượng công nghiệp khu vực nhà nước tăng lên bên cạnh

đó tỷ lệ số người đi học gia tăng thì sẽ làm gia tăng tự do hóa tài chính. Như vậy để

phát triển tài chính mà cụ thể là hoạt động cho vay của hệ thống tài chính, Việt Nam

cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu, giảm nhập khẩu tăng xuất khẩu

hạn chế nhập siêu, quản lý và sử dụng tốt nguồn vốn nước ngoài, các giải pháp thúc

đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và quan

tâm đến vấn đề giáo dục.

Đối với mơ hình thể hiện sự co giãn của tỷ lệ của tổng số tiền cho vay và tiền

gửi trong hệ thống tài chính trên GDP danh nghĩa. Trong dài hạn độ mở thương mại và

độ mở tài chính đang tác động tiêu cực đến sự phát triển tài chính hay tỷ lệ cho vay và

tiền gửi trong hệ thống tài chính. Chi tiêu chính phủ gia tăng thì tỷ lệ số tiền cho vay và

tiền gửi hệ thống tài chính có xu hướng tăng hay có nghĩa là tự do hóa tài chính càng

lớn. Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng, sản lượng công nghiệp khu vực nhà nước tăng

lên bên cạnh đó tỷ lệ số người đi học gia tăng thì sẽ kiềm chế tín dụng của hệ thống tài

chính ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển tài chính. Ngồi các giải pháp đã nêu thì để

quản lý cho vay và tiền gửi trong hệ thống tài chính cần bổ sung thêm giải pháp đối với

chi tiêu của chính phủ trong đó lưu ý đến vấn đề chi tiêu cơng và nợ cơng.



52



Đối với mơ hình thể hiện sự co giãn của tỷ lệ của tổng số tiền tiết kiệm hộ gia

đình trên GDP danh nghĩa. Trong dài hạn độ mở thương mại, độ mở tài chính đang tác

động tiêu cực đến sự phát triển tài chính hay tỷ lệ tiền tiết kiệm hộ gia đình trong hệ

thống tài chính. Chi tiêu chính phủ, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng, sản lượng công

nghiệp khu vực nhà nước, tỷ lệ số người đi học gia tănglà động lực để gia tăng tiết

kiệm và tự do hóa tài chính tại Việt Nam.

Đối với mơ hình thể hiện sự co giãn của hiệu quả được đo bằng tỷ lệ tín dụng

được phân bổ cho các doanh nghiệp tư nhân trên tổng tín dụng trong nước. Độ mở

thương mại, độ mở tài chính đang tác động tích cực đến sự phát triển tài chính hay tỷ lệ

tín dụng phân bổ cho khu vực tư nhân trong hệ thống tài chính. Tốc độ tăng trưởng

kinh tế tăng, sản lượng công nghiệp khu vực nhà nước, tỷ lệ số người đi học gia tăng

Trong khi đó chi tiêu chính phủ giảm làm gia tăng tín dụng đối với khu vực tư nhân.

5.2



Hạn chế nghiên cứu

Trong q trình nghiên cứu của tác giả gặp khơng ít khó khăn về thời gian, lược



khảo các tài liệu tham khảo, hệ thống cơ sở lý thuyết đối với độ mở thương mại, sự

phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế vẫn còn hạn chế. Do đó nghiên cứu này chỉ

phản ánh một phần nào đó về mối quan hệ giữa các yếu tố này ảnh hưởng đến kết quả

nghiên cứu ứng dụng thực tế. Trong thời gian tới Tác giả đầu tư thời gian, kinh phí, mở

rộng quy mô mẫu nghiên cứu sâu hơn, bổ sung lý thuyết nghiên cứu, cơng trình nghiên

cứu có liên quan trong nước và quốc tế tìm ra các nhân tố mới và mơ hình phù hợp hơn

nữa đối với độ mở thương mại, sự phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Kết quả nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×