Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

16



mức thu nhập trung bình cao, độ mở thương mại có tương quan dương với phát triển

tài chính, trong khi đối với những quốc gia có mức thu nhập thấp, mối tương quan này

là nghịch chiều.

Kim và cộng sự (2009) nghiên cứu tác động của độ mở thuơng mại đến phát

triển tài chính cho các quốc gia trên thế giới. Trong những bài nghiên cứu trước, các

tác giả đã cho thấy tác động tích cực của tự do thương mại và phát triển tài chính. Tuy

nhiên, tác giả cho rằng mở cửa thương mại có thể làm gia tăng áp lực cạnh tranh, gia

tăng rủi ro từ đó dẫn đến những cuộc khủng hoảng thường xuyên, tức là tác động trong

ngắn hạn của độ mở thương mại đối với nền kinh tế. Chính vì thế, tác giả muốn tập

trung nghiên cứu tác động trong ngắn và dài hạn của độ mở thương mại đến phát triển

tài chính. Trong bài nghiên cứu, để đo lường phát triển tài chính tác giả sử dụng 3 biến:

tín dụng tư nhân, cung tiền M3, tài sản ngân hàng; độ mở thương mại đo lường bằng

logarit của tổng xuất nhập khẩu/GDP. Bên cạnh đó để kết quả nghiên cứu không bị

chệch, tác giả đưa thêm các biến kiểm sốt khác vào mơ hình nghiên cứu, gồm: GDP

trên đầu người, chi tiêu chính phủ/GDP, tỉ lệ lạm phát. Bằng cách sử dụng phương

pháp PMG (Pooled Mean Group) trên dữ liệu bảng cho 88 quốc gia từ 1960-2005

(được phân thành ba nhóm: nhóm nước thu nhập cao, nhóm nước thu nhập trung bình

và nhóm nước thu nhập thấp). Kết quả nghiên cứu cho thấy: tác động của độ mở

thương mại đến phát triển tài chính phụ thuộc vào mức thu nhập của các quốc gia. Đối

với những nước có thu nhập thấp, độ mở thương mại tác động cùng chiều đến phát

triển tài chính trong dài hạn, tác động nghịch chiều trong ngắn hạn. Đối với những

nước có thu nhập cao, độ mở thương mại tác động cùng chiều đến phát triển tài chính

trong dài hạn, khơng có tác động trong ngắn hạn.

2.2.2 Tác động của độ mở tài chính đến phát triển tài chính

Chinn và Ito (2006), nghiên cứu điều tra mối quan hệ giữa độ mở tài chính và

phát triển tài chính dựa trên dữ liệu bảng (panels data) của 108 quốc gia trong giai đoạn

1980-2000. Nghiên cứu cũng kiểm tra mối quan hệ giữa giữa tự do hóa hàng hóa và thị



17



trường tài chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy độ mở tài chính càng tăng thì thị trường

vốn chủ sở hữu càng phát triển.

Asongu (2010) nghiên cứu lý thuyết về mối liên kết giữa phát triển tài chính và

độ mở tại 29 nước đang phát triển ở Châu Phi trong vòng 21 năm từ 1987-2008. Mối

quan hệ này tương quan dương và từ đó làm góp phần tăng trưởng nền kinh tế ở các

nước đang phát triển. Kết quả cho thấy: phát triển tài chính và độ mở tài chính có mối

quan hệ hai chiều và là quan hệ nghịch chiều.

2.2.3 Tác động của độ mở thương mại, độ mở tài chính đến phát triển tài chính

Rajan và Zingales (2003), cho rằng kiểm tra các mối quan hệ giữa các cặp trên

có thể sẽ là khơng đầy đủ và thậm chí có thể gây hiểu nhầm. Rajan và Zingales đề nghị

rằng thiết lập một mối quan hệ ba biến giữa độ mở thương mại, độ mở tài chính và phát

triển tài chính là cần thiết. Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu ở 24 quốc gia công nghiệp

phát triển trong giai đoạn 1913-1999 với phương pháp hồi quy đa biến. Trong bài

nghiên cứu tác giả chỉ ra bốn yếu tố xác định sự phát triển tài chính: phát triển ngân

hàng (đo lường băng tỉ số tiền gửi ngân hàng trên GDP); phát triển thị trường vốn (đo

lường bằng tỷ số chứng khoán phát hành của những công ty nội địa được niêm yết trên

tổng vốn đầu tư cố định nội địa); chỉ số vốn hóa thị trường trên GDP; và số cơng ty nội

địa niêm yết/100 dân. Nghiên cứu này đã đưa ra lý thuyết nhóm lợi ích để tóm tắt kết

quả nghiên cứu của họ. Họ cho rằng lợi ích nhóm, trong ngành cơng nghiệp đặc thù và

ngành tài chính, thường xun khơng còn do sự phát triển tài chính. Lý do được đưa ra

là do sự phát triển tài chính sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho các công ty mới được thành lập,

từ đó sẽ tăng cường sự cạnh tranh. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy, khi quốc gia mở

cửa dòng vốn mạnh, phát triển tài chính tương quan dương mạnh với tự do hóa thương

mại; nhưng nếu mức độ mở cửa dòng vốn giảm thì độ tương quan giữa phát triển tài

chính và tự do hóa thương mại cũng giảm theo.

Dựa trên bài nghiên cứu của Rajan và Zingales (2003), Law (2009) đã nghiên

cứu tác động của động của độ mở thương mại, độ mở tài chính đến phát triển tài chính

bằng cách sử dụng dữ liệu bảng cho 43 nước đang phát triển trong 21 năm từ 1980-



18



2001, áp dụng phương pháp GMM và PMG để đưa ra kết quả ước lượng. Độ mở

thương mại được đo lường bằng tổng xuất nhập khẩu /GDP. Độ mở tài chính được đo

lường bằng dòng vốn tư nhân và chỉ số tự do hóa tài chính được xây dựng bởi hai nhà

nghiên cứu Chinn và Ito (2002). Sự phát triển tài chính được đo lường bằng hai yếu tố :

phát triển khu vực ngân hàng (đo lường bằng cung tiền M3/GDP, tín dụng dành cho tư

nhân/GDP, và tín dụng nội địa của khu vực ngân hàng/GDP), và phát triển thị trường

vốn (đo lường bằng số lượng các công ty nội địa được niêm yết trên sàn chứng khoán).

Kết quả thực nghiệm ở các nước đang phát triển ( Law, 2009), chỉ ra rằng việc mở cửa

đồng thời thương mại và tài khoản vốn có tác động tích cực đến sự phát triển tài chính

(bổ sung cho lý thuyết của Rajan và Zingales ,2003). Trong bài nghiên cứu cũng khẳng

định tác động của độ mở thương mại đối với phát triển tài chính đối với mỗi quốc gia

phụ thuộc vào thu nhập trung bình của quốc gia đó. Law nhấn mạnh rằng phát hiện của

ông nên được hiểu một cách thận trọng vì mẫu của ơng là các nước đang phát triển, nơi

mà các lĩnh vực tài chính là chủ yếu được điều khiển bởi hệ thống ngân hàng.

Baltagi et al. (2009), sử dụng phương pháp GMM trên dữ liệu bảng để nghiên

cứu về mở cửa thương mại, mở cửa tài chính và phát triển tài chính cho cả nước đang

phát triển và nước công nghiệp. Độ mở thương mại được đo lường bằng tổng xuất nhập

khẩu/GDP. Độ mở tài chính được đo lường bằng: chỉ số tự do hóa tài chính (thu thập

cho 42 nước đang phát triển từ 1980-2003) được tính bằng tổng tài sản và nợ nước

ngồi của quốc gia/GDP và chỉ số tự do hóa dòng vốn được đo lường từ bốn biến giả

về giới hạn giao dịch vốn được trình bày trong báo cáo của IMF. Nhân tố phát triển tài

chính được đo lường bằng tín dụng tư nhân và chỉ số vốn hóa chứng khốn thị trường.

Họ đã làm nổi bật hiệu ứng tương tác đồng thời giữa mở cửa thương mại và mở cửa tài

chính lên sự phát triển tài chính. Sự tương tác giữa mở cửa thương mại và mở cửa tài

chính có thể được dùng để đánh giá tác động biên của của sự gia tăng mở cửa thương

mại và tài chính lên sự phát triển tài chính. Bởi vì lý thuyết này chỉ ra rằng một quốc

gia sẽ mở cửa thương mại khi tài khoản vốn của nó bị đóng lại, lúc đó sẽ có các chính

sách tài chính bổ sung để ngăn chặn các tác động tiêu cực đến nền cơng nghiệp hiện tại



19



(ví dụ: lãi suất). Tuy nhiên các chính sách này sẽ ngăn chặn sự phát triển tài chính. Do

đó tác động biên của mở cửa thương mại sẽ là tiêu cực hay bằng không đối với sự phát

triển tài chính khi tài khoản vốn bị đóng cửa. Kết quả này chỉ ra rằng cả mở cửa thương

mại và mở cửa tài chính đều có ý nghĩa thống kê quan trọng trong việc xác định sự

phát triển tài chính. Mở cửa thương mại trong khi khơng mở cửa tài chính và ngược lại

vẫn có thể tạo ra sự phát triển tài chính.

Sự khác biệt về kết quả nghiên cứu, sử dụng dữ liệu từ các quốc gia khác nhau,

ngụ ý rằng các mơ hình tương tác giữa mở cửa thương mại và mở cửa tài chính và phát

triển tài chính có thể khác nhau đáng kể giữa các quốc gia. Vì bối cảnh về lịch sử, kinh

nghiệm, văn hóa, thị trường tài chính là khác nhau giữa các quốc gia. Các nghiên cứu

thực nghiệm sử dụng dữ liệu từ các nước phát triển và đang phát triển dường như chỉ

cung cấp được một phần hỗ trợ cho các lý thuyết cơ bản.

Thomas và cộng sự (2008), nghiên cứu về mối liên kết giữa phát triển tài chính,

độ mở thương mại, độ mở tài chính và tăng trưởng bằng cách sử dụng dữ liệu chuỗi

thời gian của 16 nước ở khu vực Tiểu Sahara châu Phi. Để thực hiện nghiên cứu tác giả

đã sử dụng các biến: tăng trưởng (được đo lường bằng GDP thực trên đầu người), độ

mở thương mại (được đo lường bằng tổng xuất nhập khẩu/GDP), phát triển tài chính

(có thể được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau như: M2/GDP, tín dụng nội địa

cho khu vực tư nhân/GDP…). Kết quả ước lượng cuối cùng được đưa ra sau khi tác giả

thực hiện lần lượt các kiểm định. Thứ nhất, tác giả thực hiện phân tích khám phá nhân

tố để tìm ra những nhân tố đo lường sự phát triển tài chính. Thứ hai, tác giả thực hiện

kiểm định nghiệm đơn vị và kiểm định đồng liên kết để xem xét tính dừng và mối đồng

liên kết trong chuỗi dữ liệu. Dựa theo đó, tác giả sẽ thực hiện các kiểm định mối quan

hệ nhân quả giữa các biến trong mơ hình. Cuối cùng, tác giả thực hiện kiểm định nhân

quả Granger, Var và VECM. Bài nghiên cứu đã đưa ra các kết quả: thứ nhất, khơng có

mối quan hệ trong dài hạn giữa các nhân tố phát triển tài chính, độ mở và tăng trưởng

kinh tế. Thứ hai, ít có bằng chứng cho thấy có mối quan hệ nhân quả giữa chiều sâu tài



20



chính và tăng trưởng kinh tế. Thứ ba, tồn tại một mối liên hệ giữa độ mở thương mại

và độ mở tài chính.

Hanh (2009) điều tra các mối liên kết hai chiều giữa phát triển tài chính với độ

mở tài chính và độ mở thương mại của hai mươi chín nước đang phát triển tại châu Á

trong 14 năm từ 1994–2008. Trong bài nghiên cứu có các biến chính: phát triển tài

chính (được đo lường bằng cung tiền M3/GDP và tín dụng cho khu vực tư nhân/GDP ;

độ mở tài chính (được đo lường bằng FDI/GDP (FDI) và dòng vốn tư nhân/ GDP ); độ

mở thương mại (được đo lường bằng tổng xuất nhập khẩu của quốc gia/GDP). Ngồi

ra, còn có các biến kiểm soát khác: biến đo lường độ rủi ro quốc gia; tốc độ tăng trưởng

GDP; tỷ giá hối đoái thực; biến giả để đo lường khủng hoảng tài chính. Mối quan hệ

giữa phát triển tài chính và độ mở được tác giả kiểm định qua ba bước. Đầu tiên, tác

giả kiểm định tính dừng và số đồng liên kết của dữ liệu. Tiếp theo, tác giả sử dụng

phương pháp phân tích đồng liên kết của Pedroni (1999) để kiểm định mối quan hệ dài

hạn giữa các biến. Cuối cùng, tác giả sử dụng phương pháp Difference GMM được xây

dựng bởi Arellano và Bond (1991) để đưa ra kết quả ước lượng. Bài nghiên đã đạt

được những kết quả quan trọng sau: Thứ nhất, bài nghiên cứu cho thấy một mối quan

hệ nhân quả giữa phát triển tài chính với độ mở tài chính và độ mở thương mại. Sự mở

cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ ở các nước đang phát triển là điều kiện tiên quyết

cho sự phát triển. Và ngược lại, phát triển tài chính và độ mở tài chính tạo điều kiện

cho các nước đang phát triển đạt được lợi ích lớn hơn trong việc mở cửa thương mại.

Thứ hai, bài nghiên cứu cho rằng mối quan hệ giữa các chỉ số đo lường phát triển tài

chính và độ mở tài chính là khơng đồng nhất. Tồn tại một mối tương quan dương giữa

độ mở tài chính và tín dụng dành cho khu vực tư nhân. Trong khi đó, khơng có bằng

chứng cho thấy mối quan hệ giữa độ mở tài chính với cung tiền M3.

Chengsi Zhang , Yueteng Zhu , Zhe Lu (2015) nghiên cứu thực nghiệm các tác

động năng động của độ mở thương mại và độ mở tài chính đối với sự phát triển tài

chính ở Trung Quốc. Ngồi việc sử dụng dữ liệu bảng của 30 tỉnh của Trung Quốc

trong giai đoạn 2000-2009, sử dụng phương pháp hồi quy GMM để nghiên cứu xem



21



xét các khía cạnh khác nhau của sự phát triển tài chính, cụ thể là quy mơ, hiệu quả và

cạnh tranh, và kiểm tra cả tác động biên trực tiếp của độ mở về các chỉ số khác nhau

của phát triển tài chính. Nghiên cứu có thể được coi như là một mơ hình minh họa của

liên kết giữa độ mở và phát triển tài chính trong một quốc gia. Kết quả nghiên cứu này

đóng góp quan trọng sự phát triển nghiên cứu về lĩnh vực tài chính. Kết quả nghiên cứu

điều tra thực nghiệm có một số phát hiện thú vị đáng chú ý. Đầu tiên, độ mở tài chính

có tác động tiêu cực đối với quy mơ, nhưng lại tác động tích cực đối với hiệu quả và

cạnh tranh của phát triển tài chính ở Trung Quốc. Thứ hai, các tác động biên của độ mở

về hiệu quả tài chính và cạnh tranh là tích cực trong tỉnh có độ mở nhất, trong khi các

tác động biên của độ mở đối với quy mô của phát triển tài chính nói chung là tiêu cực

(Rajan và Zingales ,2003) giả thuyết có thể được sửa đổi bằng cách xem xét các tính

năng quốc gia cụ thể của phân phối trong các loại của các công ty kinh doanh và phân

phối các nguồn lực tài chính. Thứ ba, tác động biên của độ mở đối với phát triển tài

chính khác nhau giữa các tỉnh khác nhau ở Trung Quốc, và các vấn đề nhóm lợi ích đặc

biệt nghiêm trọng ở các tỉnh có mức độ thấp của độ mở thương mại và độ mở tài chính.



22



CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 đã trình bày các lý thuyết về độ mở thương mại, độ mở tài chính và

phát triển tài chính; các cơng trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề

tài. Chương 3 sẽ tập trung vào phương pháp và mơ hình nghiên cứu để giải quyết các

câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu đã được đặt ra ở phần giới thiệu. Phương pháp sử dụng

để nghiên cứu là phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng mơ hình VECM để

nghiên cứu, sử dụng các kiểm định đơn vị, quan hệ nhân quả Granger Causibility, kiểm

định đồng liên kết. Sau khi phân tích mơ hình VECM tác giả tiến hành thảo luận kết

quả nghiên cứu .

3.1 Thiết kế nghiên cứu

3.2.1 Dữ liệu nghiên cứu

Thời kỳ lấy mẫu kéo dài qua các năm từ năm 1990 đến năm 2017 (28 năm ) như

vậy tương ứng với 28 mẫu nghiên cứu. Nguồn dữ liệu GDP (Y), dân số, kim ngạch

xuất nhập khẩu, các chỉ tiêu tài chính của nền kinh tề như cho vay, tiền gửi, sản lượng

ngành công nghiệp khu vực nhà nước và tư nhân được lấy từ trang web của Tổng cục

Thống kê Việt Nam (https://www.gso.gov.vn) qua các năm.

3.2.2 Mơ hình nghiên cứu và các giả thiết

Nghiên cứu mối quan hệ giữa độ mở thương mại, độ mở tài chính và sự phát

triển tài chính tại Việt Nam, tác giả vận dụng cơ sở lý thuyết về các lý thuyết độ mở

thương mại, độ mở tài chính, sự phát triển tài chính và tăng trưởng, phát triển kinh tế.

Nghiên cứu dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm phát triên từ mơ hình của các tác giả

Chengsi Zhang , Yueteng Zhu , Zhe Lu (2015) bên cạnh đó tham khảo các cơng trình

nghiên cứu nên tảng như Levine (2001); Beck (2002); Rajan và Zingales (2003), Braun

và Raddatz (2005); Chinn và Ito (2006) ; Aizenman và Noy (2009), Mishkin (2009),

Baltagi et al. (2009), Law (2009). Nghiên cứu này thực hiện các kiểm định tính dừng

(Augmented Dicky-Fuller (1979)), kiểm định quan hệ nhân quả (Granger causibility),



23



kiểm định Johansen và phân tích mơ hình VECM. Mơ hình nghiên cứu đề xuất và các

giả thiết nghiên cứu cụ thể như sau :

LnFDt = β0 +γlnFDt-1+β1lnTOt+ β2lnFOt + β3lngdpit + β4lngovit

+β5lnstatet +β6lnenrollt +µt



(1)



Trong đó, FD là chỉ tiêu phát triển tài chính, TO là chỉ tiêu độ mở thương mại,

FO là chỉ tiêu độ mở tài chính. Các biến kiểm soát bao gồm GDP (gdp), tỷ lệ chi tiêu

của chính phủ đối với GDP (gov), tỷ lệ sản lượng công nghiệp của khu vực nhà nước

chia cho tổng sản lượng công nghiệp (state), và enroll là tỷ lệ người được đi học trong

độ tuổi đi học.





Sự phát triển tài chính (FD)



Một số biện pháp đo lường sự phát triển tài chính bao gồm tỷ lệ nợ phải trả của

hệ thống tài chính trên GDP danh nghĩa (Levine Et al, 2000), tỷ lệ tiền gửi trên GDP

(Rajan và Zingales, 2003), tỷ lệ tín dụng cho Khu vực tư nhân trên GDP (Levine và

cộng sự, 2000), và tỷ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán trên GDP (Baltagi và cộng sự,

2009, Rajan và Zingales, 2003). Theo định nghĩa, có thể phân loại thành các biện pháp

đo lường quy mô và các biện pháp đo lường tính hiệu quả để đo lường sự phát triển tài

chính.

Biện pháp đầu tiên đo lường phát triển tài chính là quy mơ được đo bởi ba biến

sau đây: biến đầu tiên là tỷ lệ tổng dư nợ trong hệ thống tài chính (bao gồm cả ngân

hàng và phi ngân hàng tổ chức tài chính) trên GDP danh nghĩa; nó được ký hiệu DEPT

(Lu và Yao, 2009). Thứ hai là tỷ lệ của tổng số tiền cho vay và tiền gửi trong hệ thống

tài chính trên GDP danh nghĩa, và được ký hiệu là FIR. Chỉ số này là một xấp xỉ cho

các tỷ lệ tương quan tài chính (Goldsmith, 1969). Chỉ số thứ ba là tỷ lệ của tổng số tiền

tiết kiệm hộ gia đình trên GDP danh nghĩa; nó được ký hiệu là SAV (Guariglia và

Poncet, 2008) .

Biện pháp thứ hai là các chỉ số hiệu quả được đo bằng tỷ lệ tín dụng được phân

bổ cho các doanh nghiệp tư nhân trên tổng tín dụng trong nước (ký hiệu là PRV).

(Beck et al, 2000;. Chinn và Ito, 2006; Levine et al. , 2000). Khi tín dụng tư nhân



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×