Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Các khái niệm cơ bản

1 Các khái niệm cơ bản

Tải bản đầy đủ - 0trang

12



Trong bài này độ mở thương mại được đo lường bằng tổng giá trị thương mại

(xuất khẩu+ nhập khẩu)/ GDP.

2.1.2 Độ mở tài chính

Độ mở tài chính được thể hiện qua sự tự do hóa khu vực tài chính. Tự do hóa

khu vực tài chính đề cập đến việc loại bỏ hoặc nới lỏng các quy định được áp đặt bởi

chính phủ đối với khu vực tài chính trong nước. Độ mở tài chính nền kinh tế thường

được đo bằng tổng của các dòng vốn tư nhân trên tổng sản phẩm quốc dân (Aizenman

và Noy, 2003). Đo lường độ mở tài chính khó khăn hơn đo lường độ mở thương mại.

Các quốc gia sở hữu một mảng rộng và hệ thống kiểm soát giá cả phức tạp; khối lượng

rất nhiều các giao dịch tài chính phức tạp. Do đó, đo lường độ mở tài chính là một

thách thức lớn và thường không bao giờ hiệu quả (Eichengreen, 2001), đo lường độ mở

tài chính thực sự khó khăn (Edison, Levine, Ricci và Slok, 2002). Các nghiên cứu thực

nghiệm đã phát triển một số biện pháp đo lường độ mở tài chính khác nhau và sử dụng

chúng để phân tích ảnh hưởng của độ mở tài chính đối với tăng trưởng và rút ra những

kết luận chính sách. Các tài liệu nghiên cứu về độ mở tài chính và mối quan hệ tăng

trưởng có thể được xem xét trên 2 kênh tiếp cận: dựa trên thực tế (de facto) và dựa trên

luật (de jure). Lane và Milesi –Frerretti (2007), đã phát triển cách đo lường độ mở tài

chính dựa trên thực tế bằng số lượng tài sản và nợ nước ngoài trên GDP. Các nghiên

cứu tiếp cận theo phương pháp này tìm kiếm mối quan hệ giữa độ mở tài chính và tăng

trưởng kinh tế; mặt khác Chinn và Ito (2006) đo lường phát triển tài chính dựa trên luật

bằng cách xây dựng các biến giả đại diện cho các hạn chế giao dịch tài chính thường

xuyên biên giới. Các nghiên cứu trên kênh này cho rằng tác dụng tăng trưởng tích cực

từ độ mở tài chính là phát triển tốt hơn về hệ thống tài chính, chất lượng thể chế, mơi

trường pháp lý và chính sách kinh tế vĩ mơ (Bekaert, Harvey, Lundbland, 2005).

Mỗi thước đo về độ mở tài chính đều có ưu và nhược điểm. Thước đo thực tế ít

nhạy cảm với yếu tố nội sinh hơn thước đo dựa trên luật. Trong khi đó thước đo dựa

trên luật có được căn cứ tốt hơn về mặt lý thuyết (Baltagi et al., 2009).



13



Trong bài này tác giả áp dụng đo lường độ mở tài chính theo thực tế vì sự sẵn có

của dữ liệu. Biến độ mở tài chính được đo lường bằng tỉ lệ đầu tư trực tiếp nước ngồi

trên GDP.

2.1.3 Sự phát triển tài chính

Schumpeterian, Gurley và Shaw (1955), Goldsmith (1969) và Hicks (1969) thảo

luận về sự phát triển tài chính kích thích tăng trưởng kinh tế (Levine, 2003). Quan

điểm của họ đề nghị phát triển các chính sách nhằm mở rộng hệ thống tài chính nhằm

thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. "Cấu trúc tài chính", quan điểm này đề cập đến kiểm soát

lãi suất, dự trữ bắt buộc cao và các chương trình tín dụng chỉ định (Ang, 2008).

McKinnon (1973) và Shaw (1973) thách thức đối với quan điểm của Keynes về

vai trò của thị trường tài chính trong q trình phát triển, cho thấy rằng sự phát triển tài

chính cao hơn có thể là kết quả của hội nhập tài chính quốc tế và sẽ dẫn đến tăng

trưởng sản lượng được gọi là tự do hóa tài chính. Các mơ hình giả định rằng

McKinnon đầu tư trong nền kinh tế đang phát triển là chủ yếu tự tài trợ, đầu tư không

thể thành hiện thực nếu khơng có đủ tiết kiệm trong các hình thức tiền gửi ngân hàng.

Mặt khác, Shaw (1973) trình bày "nợ trung gian" xem mà mặc nhiên cho rằng các

trung gian tài chính thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng sản lượng thơng qua vay và cho

vay. Mơ hình McKinnon đã được tiếp tục nghiên cứu bởi nhiều nhà nghiên cứu như

Kapur (1976), Mathieson (1980), Fry (1988) và Pagano (1993). Phát triển tài chính là

hiện tượng phản ảnh việc cung cấp một cấu trúc thượng tầng tài chính nâng cao cả hoạt

động sản xuất và vận hành nền kinh tế một cách trơi chảy. Nó cung cấp nguồn vốn cần

thiết định giá giá trị kinh tế của nguồn lực đang được giao dịch và hỗ trợ tiến trình thực

hiện chính sách cơng. Việc cung ứng dưới hình thức tín dụng, kiểm soát lãi suất thị

trường là sự phản ánh của phát triển tài chính trong một quốc gia nhằm mục đích đạt

được tăng trưởng kinh tế (Omotola Awojobi, 2013).

Đến đầu năm 1980, Ang (2008), McKinnonShaw đã bị chỉ trích bởi tân cấu trúc

kinh tế như Wijnbergen (1982, 1983), Taylor (1983) và buffie (1984). Trọng tâm chính

trong các mơ hình của họ giả định rằng các hộ gia đình sở hữu ba loại tài sản: tiền gửi



14



ngân hàng, vàng, và cho vay trên thị trường phi chính thức, chúng thay thế cho nhau.

Khi lãi suất huy động ngân hàng tăng lên, hộ gia đình tăng tỉ lệ tiền gửi ngân hàng, do

đó sẽ làm giảm việc cung cấp vốn vay dẫn tới khơng khuyến khích đầu tư và trấn áp

đầu ra. Nói cách khác, sự tồn tại của thị trường phi chính thức hiệu quả, tự do hóa tài

chính có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế bằng cách giảm cung cấp tín dụng.

Các mơ hình phức tạp hơn với việc tích hợp các hệ thống tài chính vào các mơ hình

tăng trưởng nội sinh phát sinh trong đầu những năm 1990 như Greenwood và

Jovanovic (1990), Bencivenga và Smith (1991, 1993), SaintPaul (1992), King và

Levine (1993b), Pagano (1993), Bencivenga et al. (1995) Greenwood và Smith (1997),

Blackburn và HUMG (1998) trình bày các nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật khác nhau

để mơ hình trung gian tài chính rõ ràng hơn trong cách tiếp cận McKinnon-Shaw. Sự

phát triển và tăng trưởng mơ hình tài chính nội sinh cho thấy sự tương tác song phương

giữa hai biến. Đó là mức độ cao hơn của sự phát triển kinh tế làm tăng nhu cầu đối với

các dịch vụ tài chính hàng đầu với một hệ thống tài chính cạnh tranh và hiệu quả hơn.

Mặt khác, tăng cường phát triển tài chính cho phép đầu tư sẽ được tung ra tăng cường

hiệu quả hơn tích lũy vốn và tăng trưởng. Khơng phải tất cả các nhà kinh tế chấp nhận

tích cực và/ hoặc mối quan hệ đáng kể giữa tài chính và tăng trưởng. Một số cho rằng

tài chính là hồn tồn khơng thích hợp trong q trình tăng trưởng, có thể điểm ra ảnh

hưởng tiêu cực của các ngân hàng, ảnh hưởng của thị trường chứng khốn, và các cuộc

khủng hoảng tài chính gây bất ổn. Trong nghiên cứu nền tảng về tài chính doanh

nghiệp hiện đại, Modigliani và Miller (1958) đưa một đề xuất khơng phù hợp. Mơ hình

của họ giả định các thị trường là hồn hảo, khơng có sự bất đối xứng thơng tin và

khơng có chi phí giao dịch trong bất kỳ hoạt động kinh tế. Trong khung này, Fama

(1980) cho rằng trong khu vực ngân hàng cạnh tranh, việc tiếp cận các thị trường vốn

là bình đẳng, sự thay đổi trong quyết định cho vay của ngân hàng nào đó cá nhân sẽ

khơng có hiệu lực về giá cả và hoạt động thực tế theo một cân bằng tổng thể (Ang,

2008). Lucas (1988) lập luận rằng các nhà kinh tế quá nhấn mạnh vai trò của các yếu tố

tài chính trong q trình tăng trưởng kinh tế. Morck và Nakamura (1999) và Morck et



15



al. (2000) chứng minh, phát triển ngành ngân hàng có thể tác động tiêu cực đến tăng

trưởng kinh tế.

2.2



Tổng quan các cơng trình nghiên cứu

Có nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về mối quan hệ tiềm tàng giữa



phát triển tài chính và phát triển kinh tế bao gồm: Beck và công sự, 2000; Darrat và

cộng sự, 2006; Ductor và Grechyna năm 2015; Guariglia và Poncet, 2008; Levine,

1997. Một số bài nghiên cứu xem xét đến nguồn gốc của sự phát triển tài chính xuất

phát từ quan điểm là từ sự tự do hóa tài chính (McKinnon, 1973), hệ thống pháp luật

(La Porta et al., 1998), sự sở hữu của chính phủ đối với các ngân hàng(Andrianova et

al., 2008), ổn định chính trị (Girma and Shortland, 2008).

Một nguồn khác của sự phát triển tài chính, được nêu lên ở một số ít bài nghiên

cứu nhưng đang ngày càng tăng lên về số lượng là sự mở cửa. Các tài liệu có liên quan

đã tập trung vào hai biến liên quan đến sự mở cửa bao gồm: giữa độ mở thương mại và

sự phát triển tài chính (Beck, 2002; Braun and Raddatz, 2005; Do and Levchenko,

2004; Mishkin, 2009); giữa độ mở tài chính và sự phát triển tài chính (Chinn and Ito,

2006; Levine, 2001); và giữa độ mở thương mại và độ mở tài chính(Aizenman and

Noy, 2009). Các nghiên cứu này thường tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa sự cởi mở

và sự phát triển tài chính, và giữa mở cửa thương mại và mở cửa tài chính ở các nền

kinh tế đã và đang phát triển.

2.2.1 Tác động của độ mở thương mại đến phát triển tài chính

Do, Q.-T và Levchenko, A.A (2004), sử dung hồi quy OLS cho dữ liệu được thu

thập từ 20 quốc gia OECD và 55 nước đang phát triển trong giai đoạn 1965-1995 để

nghiên cứu về độ mở thương mại có tác động đến phát triển tài chính của một quốc gia

hay không. Trong bài nghiên cứu tác giả đã đưa ra các biến: phát triển tài chính (được

đo lường bằng tín dụng tư nhân/ GDP); độ mở thương mại (được đo lường bằng tổng

xuất nhập khẩu/GDP) và một số biến kiểm soát khác. Kết quả nghiên cứu đầu tiên cho

thấy rằng mức độ tác động của độ mở thương mại đến phát triển tài chính của mỗi quốc

gia phụ thuộc vào mức thu nhập trung bình của quốc gia đó. Đối với những quốc gia có



16



mức thu nhập trung bình cao, độ mở thương mại có tương quan dương với phát triển

tài chính, trong khi đối với những quốc gia có mức thu nhập thấp, mối tương quan này

là nghịch chiều.

Kim và cộng sự (2009) nghiên cứu tác động của độ mở thuơng mại đến phát

triển tài chính cho các quốc gia trên thế giới. Trong những bài nghiên cứu trước, các

tác giả đã cho thấy tác động tích cực của tự do thương mại và phát triển tài chính. Tuy

nhiên, tác giả cho rằng mở cửa thương mại có thể làm gia tăng áp lực cạnh tranh, gia

tăng rủi ro từ đó dẫn đến những cuộc khủng hoảng thường xuyên, tức là tác động trong

ngắn hạn của độ mở thương mại đối với nền kinh tế. Chính vì thế, tác giả muốn tập

trung nghiên cứu tác động trong ngắn và dài hạn của độ mở thương mại đến phát triển

tài chính. Trong bài nghiên cứu, để đo lường phát triển tài chính tác giả sử dụng 3 biến:

tín dụng tư nhân, cung tiền M3, tài sản ngân hàng; độ mở thương mại đo lường bằng

logarit của tổng xuất nhập khẩu/GDP. Bên cạnh đó để kết quả nghiên cứu không bị

chệch, tác giả đưa thêm các biến kiểm sốt khác vào mơ hình nghiên cứu, gồm: GDP

trên đầu người, chi tiêu chính phủ/GDP, tỉ lệ lạm phát. Bằng cách sử dụng phương

pháp PMG (Pooled Mean Group) trên dữ liệu bảng cho 88 quốc gia từ 1960-2005

(được phân thành ba nhóm: nhóm nước thu nhập cao, nhóm nước thu nhập trung bình

và nhóm nước thu nhập thấp). Kết quả nghiên cứu cho thấy: tác động của độ mở

thương mại đến phát triển tài chính phụ thuộc vào mức thu nhập của các quốc gia. Đối

với những nước có thu nhập thấp, độ mở thương mại tác động cùng chiều đến phát

triển tài chính trong dài hạn, tác động nghịch chiều trong ngắn hạn. Đối với những

nước có thu nhập cao, độ mở thương mại tác động cùng chiều đến phát triển tài chính

trong dài hạn, khơng có tác động trong ngắn hạn.

2.2.2 Tác động của độ mở tài chính đến phát triển tài chính

Chinn và Ito (2006), nghiên cứu điều tra mối quan hệ giữa độ mở tài chính và

phát triển tài chính dựa trên dữ liệu bảng (panels data) của 108 quốc gia trong giai đoạn

1980-2000. Nghiên cứu cũng kiểm tra mối quan hệ giữa giữa tự do hóa hàng hóa và thị



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Các khái niệm cơ bản

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×