Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG II: CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ

CHƯƠNG II: CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Phương pháp này có nhược điểm là phải băm nhỏ chất thải trước khi khử

trùng, những thiết bị băm hoặc nghiền thường hay bị sự cố về cơ khí. Hiệu qủa

khử khuẩn không ổn định, phụ thuộc rất nhiểu vào điều kiện vận hành. Chi phí

đầu tư cao, chi phí vận hành thấp và ít tác động đến mơi trường. Sau khi khử

khuẩn, chất thải được thải bỏ như chất thải y tế sinh hoạt.

c. Khử trùng bằng vi sóng



Phương pháp này có hiệu quả khử trùng tốt trong điều kiện bình thường,

giảm một phần thể tích chất thải, tốt cho mơi trường nhưng phương pháp này có

chi phí vận hành cao và thường xuyên phải bảo trì trong khi vận hành.

d. Khử trùng bằng bếp lò mặt trời



Bếp hoạt động bằng năng lượng mặt trời là giải pháp đơn giản, rẻ tiền,

giết chết phần lớn vi khuẩn có hại. Tuy nhiên, điều bất tiện của phương pháp này

là nó phụ thuộc vào thời tiết, lượng nhiệt chiếu sáng trong ngày, nhiệt độ trong

lò chỉ trong khoảng 100-150oC.

Nhược điểm của phương pháp khử trùng:





Khơng đảm bảo tiêu diệt hết mầm bệnh.







Khử trùng bằng nồi hấp cao áp hoặc sóng vi ban đòi hỏi kỹ thuật cao, đắt tiền và

vận hành phức tạp.







Phải có bãi chơn lấp để chơn chất thải sau khi được khử trùng.

2.1.2. Phương pháp chôn lấp

Phương pháp này có từ lâu đời nhất, cho đến hiện nay, vẫn được dùng phổ

biến nhất ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là những đất nước nghèo. Chủ yếu

phương pháp này dùng để áp dụng với chất thải sinh hoạt.. Do phương pháp

chơn lấp có cơng nghệ đơn giản, chi phí đầu tư và xử lý thấp nhất nên nó phù

hợp với tất cả các bệnh viện có điều kiện kinh tế khó khăn.



28



Bảng 2.1: Quy mơ các bãi chơn lấp

STT



Loại bãi



Dân số đơ thị hiện tại

(người)



Lượng rác



Diện tích



(Tấn/năm)



(ha)



1



Nhỏ



100.000



20.000



10



2



Vừa



100.000-300.000



65.000



10-30



3



Lớn



300.000-1.000.000



200.000



30-50



4



Rất lớn



1.000.000



200.000



50



(Nguồn: Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD, ngày 18/01/2001)

Nếu như lựa chọn chơn lấp chất thải sau khi đã đóng gói thì chất thải cần

được cho vào thùng kim loại hay thùng nhựa đầy đến ¾ rồi cho thêm bọt nhựa,

cát bitum, vữa xi măng hoặc chất liệu làm bằng đất sét. Sau khi đã khơ, cần rửa

kín thùng và đem đi chôn lấp.

Do chất thải rắn y tế rất nguy hại nên hiện nay, phương pháp đốt không

được khuyến khích sử dụng cho loại chất thải này. Những Bãi Chơn Lấp cải tiến

và hợp vệ sinh ngồi việc đảm bảo chống thấm của nước rác còn phải có các

cơng trình như cần cân, phân loại và xử lý rác độc hại, đầm lèn, che đậy khoan

trung gian, hệ thống thốt nước mưa riêng và phủ đất các ơ đạt độ cao. Để giảm

mùi hơi còn phải có hàng rào cách ly và sử dụng các chế phẩm vi sinh.

Cho đến nay, ở Việt Nam chưa có Bãi Chơn Lấp nào thoả mãn các yêu

cầu trên, hơn nữa phân sinh ra từ các Bãi Chôn Lấp cũng không sử dụng được

cho đồng ruộng nước ta. Tuy nhiên, ở nước ta, hầu hết phương pháp xử lý rác

sinh hoạt hiện nay là phương pháp này.



29



Hình 2.1: Bãi chơn lấp bố trí hệ thống thu khí tự động và tận dụng để phát điện

Ưu điểm:

• Vốn đầu tư thấp, quản lý dễ.

Nhược điểm:

• Là nguồn gây ơ nhiễm mơi trường đất và nước ngầm;

• Cần có diện tích xây dựng lớn;

• Là nguồn ủ cho các mầm bệnh truyền nhiễm và dịch bệnh xã hội.



2.1.3. Phương pháp trơ hoá (cố định và đóng rắn)

Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi để xử lý chất thải nguy hại

trong đó có cả rác y tế. Đó là qúa trình xử lý trong đó xử lý chất thải nguy hại

được trộn với phụ gia hoặc bê tơng để đóng rắn chất thải nhằm khơng cho các

thành phần ơ nhiễm lan truyền ra ngồi. Chất thải cần hóa rắn được nghiền tới

kích thước thích hợp, sau đó được đưa vào máy trộn theo từng mẻ. Các chất phụ

gia như xi măng, cát và polymer được bổ sung vào để thực hiện q trình hòa

trộn khơ, sau đó tiếp tục bổ sung nước vào để thực hiện q trình hòa trộn ướt.

Q trình khuấy trộn diễn ra làm cho các thành phần trong hỗn hợp hòa trộn đều

30



tạo thành hỗn hợp đồng nhất. Sau thời gian hòa trộn cần thiết, hỗn hợp được cho

vào các khuôn lập phương. Sau 28 ngày bảo dưỡng khối rắn, q trình đóng rắn

diễn ra làm cho các thành phần ô nhiễm hoàn toàn bị cô lập. Khối rắn sẽ được

kiểm tra cường độ chịu nén, khả năng rò rỉ và lưu giữ cẩn thận tại kho, sau đó

vận chuyển đến bãi chơn lấp an tồn.

Chất thải



Nghiền



Nước

Xi măng



Thiết bị trộn



Cát, đá



Đổ khn, hóa rắn



Hình 2.2: Sơ đồ cơng nghệ cố định và đóng rắn chất thải

Chơn lấp an tồn

Cơng nghệ này đang được áp dụng để:

- Cải tạo khu vực chứa chất thải nguy hại.

- Xử lý các sản phẩm nguy hại của các quá trình xử lý khác.

- Xử lý và tồn trữ các chất nguy hại an toàn hơn, giảm thiểu khả năng phát

tán ra môi trường xung quanh.

Các chất dính vơ cơ thường dùng là: vơi, xi măng porand, bentonic,

pizzolan, thạch cao, silicat. Chất kết dính hữu cơ thường dùng là: epoxy,

polyester, nhựa asphalt, polyolefin, ure formaldehyt.

2.1.4. Phương pháp đốt



Thiêu đốt là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất trong xử lý CTRYT

hiện nay. Tại các nước tiên tiến, lò đốt CTRYT ln đi đồng bộ với xử lý khí

thải. Đốt chất thải là q trình oxy hóa chất thải bằng oxy của khơng khí ở nhiệt

độ cao, phá hủy các hợp chất, phức chất nguy hại thành các chất không độc hại

đến môi trường. Phương trình tổng quát:

CxHyOz + (x+y/4+z/2) O2 = xCO2 + yH2O

31



Đây là quy trình xử lý cuối cùng áp dụng cho CTRYT nguy hại mà không

thể tái chế, tái sử dụng hay lưu trữ an tồn trong bãi chơn lấp.

Việc sử dụng các lò thiêu đốt rác thải hiện nay thường khơng chỉ dừng lại

ở mục đích giảm thể tích ban đầu của rác mà còn có mục đích thu hồi nhiệt để

phục vụ dân sinh và các ngành công nghiệp cần nhiệt. Thơng thường, nhiệt độ từ

khí đốt được chuyển về dạng hơi nước, được dẫn đi theo các đường ống dẫn đến

các khu vực cần nhiệt, hoặc được dẫn đi theo các ống dẫn nước được lắp đặt

theo ống tỏa nhiệt của lò thiêu. Với các lò thiêu hiện đại ngày nay, có thể lắp đặt

được nồi hơi để thu nhiệt từ khí cháy mà khơng cần phải cung cấp thêm khơng

khí hoặc độ ẩm.



Hình 2.3: Hệ thống lò đốt chất thải rắn

Chất thải từ lò đốt chia làm 2 nhóm

Các sản phẩm do sự cháy khơng hồn tồn như arsenic, crom, beri, heli…

có nguồn gốc từ các chất ô nhiễm ban đầu.

Các sản phẩm sinh ra do quá trình cháy khơng hồn tồn trong buồng sơ

cấp. Chất thải có nhiệt lượng cao tiêu thụ nhiều ơxi trong q trình cháy.

32



Trong q trình thiết kế lò đốt cần kèm theo hệ thống xử lý khí thải, lưu ý

các yếu tố đảm bảo sự đốt chày hoàn toàn: lượng O2 cung cấp, nhiệt độ cháy từ

900 – 1200oC, thời gian đốt và mức xáo trộn. Cần lưu ý vật liệu chế tạo lò để

đảm bảo chịu nhiệt cao. Khí thải sau khi làm nguội được xử lý bằng dung dịch

trung hòa.

Ưu điểm:





Giảm 70 – 90% trọng lượng chất thải hữu cơ trong chất thải, chuyển thành dạng

khí trong thời gian ngắn.







Các chất ơ nhiễm trong khí thải sinh ra từ q trình đốt có thể được xử lý đến

mức cần thiết.







Khơng tốn nhiều diện tích.







Xử lý tại chỗ tránh được rủi ro khi vận chuyển.







Có thể thu hồi nhiệt để sử dụng lại hoặc chuyển thành các dạng năng lượng

khác.







Kiểm sốt được ơ nhiễm khơng khí, giảm tác động đến mơi trường khơng khí.







Ơ nhiễm nước ngầm ít hơn đối với phương pháp sinh học và chơn lấp.







Xử lý triệt để chỉ tiêu ơ nhiễm của chất thải rắn.







Hiệu quả xử lý cao đối với các chất thải hữu cơ chứa vi trùng gây bệnh và các

chất thải nguy hại.







Tro thải sau khi đốt thường là những chất trơ.

Nhược điểm:

• Phát sinh nhiều khí thải độc hại nên phải thêm chi phí xử lý khí thải.

• Chi phí đầu tư ban đầu cao.



33







Vận hành trên dây chuyền khá phức tạp, đòi hỏi cơng nhân có trình độ kỹ thuật

và tay nghề cao.

• Cần bổ sung nhiên liệu đầu vào cho lò đốt.







Khơng phải mọi chất thải đều có thể đốt được (chất khơng cháy được, chất

phóng xạ, chất thải dễ nổ).

2.2. LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ RÁC CHO BVĐK HÀ ĐƠNG



2.2.1. Lựa chọn cơng nghệ xử lý CTRYT

Dựa vào các phương pháp xử lý rác y tế đã nêu, các phương pháp đều có

ưu nhược điểm riêng. Khử trùng bằng hố chất khơng đảm bảo hiệu quả khử

trùng, chất thải vẫn còn nguy cơ lây nhiễm cao, sau khi xử lý lại cần xây dựng

bãi chôn lấp; phương pháp chôn lấp thường không qua xử lý nên ảnh hưởng đến

mơi trường, lại tốn diện tích đất và có khả năng gây ra bệnh dịch. Xét về lâu dài,

phương pháp này khơng nên được lựa chọn.

Qua các phân tích trên, phương pháp thiêu đốt CTRYT là thích hợp, phù

hợp điều kiện nhiều vùng ở nước ta, có nhiều ưu điểm, giảm 90 – 95% trọng

lượng chất thải hữu cơ trong rác, chất thải phát sinh từ q trình đốt có thể được

xử lý tại chỗ, tránh rủi ro khi vận chuyển, hiệu quả cao đối với chất thải nguy

hiểm, chất thải lây nhiễm cao. Nhược điểm của phương pháp có thể khắc phục

bằng cách lắp đặt thêm hệ thống xử lý khí thải.

2.2.2. Tình hình áp dụng cơng nghệ đốt chất thải rắn y tế hiện nay

Hiện nay, công nghệ đốt được hầu hết các nước trên Thế giới ưu tiên áp

dụng để phân hủy rác thải. Ở các nước Tây Âu có khoảng 23% tổng lượng chất

thải rắn được đốt có tới 80% là đốt có thu hồi năng lượng, ở Mỹ 28 bang có lò

đốt thu hồi năng lượng, ở Đức lượng rác đem đốt chiếm 36%; Canada 80%;

Pháp và Bỉ 54%; Đan Mạch 48%; Anh 90%; Ý 75%; Nhật 75%... Để xử lý hơn

400 triệu tấn rác thải nguy hại hàng năm, ở Nhật Bản đã có khoảng 3.000 lò đốt

rác.

Ở Mỹ, Anh, Hà Lan, Phần Lan, Thụy Điển, Canada đã triển khai nhiều lò

đốt chất thải nguy hại trong đó thu hồi nhiệt để cấp cho nồi hơi phát điện. Ở Mỹ,

Canada chủ yếu đốt chất thải theo cơng nghệ lò quay (khoảng 70%), trong khi

đó ở các nước Châu Âu lại chủ yếu là đốt trên lò nhiệt phân tĩnh.



34



Ở Việt Nam, rác thải nguy hại với độc tính đã và đang tác động tiêu cực

một cách trầm trọng đến sức khỏe con người và môi trường sống. Trước đây do

chưa được quan tâm đúng mức, hầu hết các loại rác nguy hại trên được thu gom

và đưa đi xử lý chung với rác sinh hoạt.

Cho đến nay, Hà Nội có khoảng 40 Bệnh viện Trung ương và Địa phương

cùng với hành trăm trung tâm y tế cấp huyện và xã, mỗi ngày mỗi cơ sở này thải

ra khoảng 11 – 12 tấn chất thải y tế. Theo thống kê của Công ty Môi trường đô

thị Hà Nội (URENCO), mỗi ngày chỉ thu gom được khoảng 60% lượng chất thải

trên và 5% trong số đó được đem xử lý bằng phương pháp thiêu đốt, số còn lại

được đem đi chơn lấp.

Trước đây ở Hà Nội chỉ có 2 lò đốt rác y tế ở Bệnh viện Lao phổi và Bệnh

viện Việt Đức, nhưng do công nghệ lạc hậu vẫn gây ô nhiễm môi trường. Từ

tháng 7/1996, Hà Nội đã khởi động dự án “Xây dựng xưởng đốt chất thải độc

hại tập trung cho các Bệnh viện ở Hà Nội” do Sở Y tế làm chủ đầu tư. Đến

5/1999, lò đốt rác y tế DEL MONEGO-200 của Italy, đã đưa vào hoạt động một

đạt tại Nhà máy chế biến phế thải Cầu Diển, huyện Từ Liêm. Với công suất xử

lý 200 kg/h (2 tấn/ngày), hiện nay đã đáp ứng phần lớn rác y tế của các Bệnh

viện và Trung tâm y tế ở hà Nội (trong 6 tháng đầu năm 2003, lò đốt đã xử lý

được 210 tấn rác y tế, với giá thành thiêu hủy là 5.000 đ/kg. Tuy nhiên vẫn chưa

đáp ứng nhu cầu xử lý rác y tế từ các phòng khám chữa bệnh tư nhân ở Hà Nội.

Thành phố Hồ Chí minh có hơn 100 cơ sở y tế lớn nhỏ và hơn 4.000

phòng khám bệnh tư nhân. Nhưng sở GTCC mới thu gom được rác thải của 56

cơ sở y tế khu vực nội thành với lượng rác khoảng 5,5 tấn /ngày và được đem đi

đốt tập trung tại Nhà máy xử lý rác y tế Bình Hưng Hòa trên lò đốt rác y tế

Hoval công suất 7 tấn/ngày của Bỉ.

Nhằm đáp ứng nhu cầu xử lý ô nhiễm bảo vệ mơi trường, một số lò đốt

rác y tế đã được nhập ngoại như dự án “Trang bị 25 lò đốt chất thải rắn y tế cho

các cụm bệnh viện” từ nguồn vốn ODA của Chính phủ Áo, do hãng

HOVALWERK AG cung cấp năm 2001, bao gồm 12 lò HOVAL MZ2 (ở các

Tỉnh Hà Tây, Bắc Giang, Hà Tỉnh, Quảng Nam, An Giang, Cà Mau...), 12 lò

MZ4 (ở Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hải Dương, Nghệ An, Bình Định, Cần

Thơ...) và 1 lò GG4 ở Biên Hòa, Đồng Nai. Lò đốt rác y tế HOVAL có cơng suất

7 tấn/ngày do Cơng ty Mơi trường Đơ thị TP. Hồ Chí Minh nhập từ Bỉ, hiện lắp

35



đặt tại Trung tâm hỏa táng Bình Hưng Hòa để xử lý rác tập trung cho Thành phố

Hồ Chi Minh. Lò HOVAL A>G cơng suất 20 Kg/h nhập từ Thụy Sĩ cho Bệnh

viện Lê Lợi – TP. Vũng Tàu. Lò BIC của Bỉ ở Bệnh viện Long Thành – Đồng

Nai...

Những năm gần đây, đã có nhiều đơn vị trong nước tham gia vào việc

nghiên cứu chế tạo lò đốt rác với nhiều chủng loại và công suất khác nhau nhằm

đáp ứng nhu cầu cấp thiết bảo vệ môi trường hiện nay như: lò đốt rác y tế LRH500 của Sở KHCN & MT TP. Hồ Chí Minh; các lò đốt rác cơng nghiệp LODRA

và lò đốt rác y tế LODY của Cơng ty cổ phần FBE Vietnam; lò đốt rác y tế của

Viện Môi trường và Tài nguyên chế tạo cho Trung tâm Y tế Bến Cầu, Tây Ninh;

lò đốt rác do Trường Đại Học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh chế tạo cho Bệnh

viện Cù Lao Minh, Bến tre; lò đốt rác y tế của Viện Cơ học ứng dụng chế tạo

cho Trung tâm lao và bệnh phổi Tiền Giang...

2.2.3. Công nghệ thiêu đốt chất thải rắn y tế

a. Công nghệ đốt

Công nghệ thiêu đốt là đốt chất thải một cách có kiểm sốt trong một

vùng kín, mang nhiều hiệu quả. Quá trình đốt được thực hiện hoàn toàn, phá hủy

hoàn toàn chất thải độc hại bằng cách phá vỡ các liên kết hóa học, giảm thiểu

hay loại bỏ hồn tồn độc tính. Hạn chế tập trung chất thải cần loại bỏ vào môi

trường bằng cách biến đổi chất rắn, lỏng thành tro. So với CTYT chưa xử lý, tro

thải vào mơi trường an tồn hơn.

Việc quản lý kim loại, tro và các sản phẩm của quá trình đốt là khâu quan

trọng. Tro là một dạng vật liệu rắn, trơ gồm C, muối, kim loại. Trong quá trình

đốt, tro tập trung ở buồng đốt (tro đáy), lớp tro này xem như chất thải nguy hại.

Các hạt tro có kích thước nhỏ có thể bị cuốn lên cao (tro bay). Tàn tro cần chơn

lấp an tồn vì thành phần nguy hại sẽ trực tiếp gây hại. Lượng kim loại nặng

được xác định qua việc kiểm tra khói thải và tro dư của lò đốt.

Thành phần khí thải chủ yếu là CO 2, hơi nước, NOx, hydrogen chloride và

các khí khác. Các khí vẫn tiềm ẩn khả năng gây hại cho con người và mơi

trường, vì vậy cần có hệ thống xử lý khói thải từ lò đốt.

Lò đốt thường được chia làm 2 buồng

Buồng đốt chính: gồm 2 giai đoạn

36



+ Giai đoạn 1: chất thải được sấy khô.

+ Giai đoạn 2: cháy và khí hóa.

Buồng đốt sau: gồm 3 giai đoạn

+ Giai đoạn 3: phối trộn.

+ Giai đoạn 4: cháy ở dạng khí.

+ Giai đoạn 5: ơxi hố hồn tồn.

Cơ sở hóa học của phương pháp này là tại nhiệt độ đủ cao và thời gian lưu

tương ứng thì bất kì một Hydrocarbon hay hợp chất hữu cơ nào cũng đều có thể

bị oxy hóa đến CO2 và H2O. Tuy nhiên, cũng có thể gặp một số vấn đề xảy ra

như sự đốt cháy khơng hồn tồn của nhiều hợp chất hữu cơ, kết quả sẽ tạo ra

những aldehydes và acide hữu cơ có thể làm tăng thêm mức độ ơ nhiễm hoặc sự

oxi hóa những dẫn xuất hữu cơ có chứa photpho hay halogen sẽ tạo ra những

chất gây ô nhiễm hông mong muốn ( SO2, HCL, HF, Phosgen...)

Quá trình cháy phải tuân thủ theo nguyên tắc “3T”- nhiệt độ, thời gian, độ

xáo trộn cùng với điều kiện thứ tư là oxy. Ngoài ra, nhiệt trị của rác hay của

nhiên liệu cũng sẽ ành hườn đến quá trình cháy.

Nhiệt độ càng cao thì phản ứng càng hồn thiện và hạn chế được sự hình

thành các sản phẩm hữu cơ độc hại. Tuy nhiên cần giới hạn nhiệt độ tối đa cung

cấp cho lò đốt. Trong lò đốt, nếu nhiệt độ càng cao thì khả năng bay hơi của các

kim loại nặng theo khí thải càng cao. Điều này gây khó khăn trong việc xử lý

khí thảo. Ngồi ra, nếu nhiệt độ quá cao thì gây ra quá trình kết tro xỉ, gây cản

trở quá trình vận hành, làm giảm thiểu hiệu quả sử dụng.

Chất thải được giữ ở nhiệt độ cao càng lâu thì hiệu quả tiêu hủy càng lớn,

khả năng hình thành các sản phẩm hữu cơ độc hại càng nhỏ. Các chất thải rắn có

thể cần khoảng 30 phút hoặc vài giờ để đốt cháy hồn tồn, phụ thuộc vào các

chất thải và loại lò đốt. Các tiêu chuẩn về lò đốt quy định thời gian lưu trong lò

buồng thứ cấp, thường là 1 giây trong khoảng 871 – 1100 0C. Khi đốt chất thải

nguy hại, để hạn chế sản sinh ra đioxin, furans,..thì nhiệt độ buồng đốt thứ cấp

phải lớn hơn 110000C, thời gian lưu cháy lớn hơn 2 giây.

Độ xáo trộn là khả năng hòa trộn giữa chất thải và oxy trong sự biến thiên

nhiệt độ trong lò đốt. Mức độ xáo trộn càng lớn thì q trình cành dễ điều khiển,

khơng khí được cung cấp tốt hơn và mức độ tiêu hủy hồn thiện hơn. Độ hòa

37



trộn bao gồm cả mức độ xáo trộn của chất thải trong buồng đốt sơ cấp và mức

độ xáo trộn của dòng khí trong buồng thứ cấp.

Sự có mặt của Oxy là yếu tố quan trọng để xác định mức độ tiêu hủy chất

thải và khả năng hình thành các sản phẩm hữu cơ.

Cả bốn yếu tố đều mang ý nghĩa quyết định. Đặc biệt lưu ý nếu cung cấp

thiếu oxy sẽ sinh ra nhiều chất ô nhiễm thứ cấp độc hại. Do đó trong quá trình

vận hành phải tính đến hệ số dư thừa khơng khí cung cấp cho phản ứng cháy.

b.



Các loại lò đốt cơ bản



Có 2 kiểu lò cơ bản:

Lò quay (chuyển động quay): có cấu tạo hình trụ, nằm ngang. Chuyển

động quay quanh trục của lò làm chất thải được đảo trộn đều, nâng cao hiệu quả

cháy. Lò được chế tạo với cơng suất lớn, chi phí đầu tư và vận hành rất cao.

Lò tĩnh (khơng chuyển động): có cấu tạo đơn giản, hiệu quả cao. Cơng

suất thiết kế của lò tĩnh thường là nhỏ hoặc trung bình. Có các loại lò: lò đốt

thiết kế đơn giản, lò đốt 1 khoang, lò đốt 2 khoang.

So sánh một số đặc điểm các loại lò đốt:

Bảng 2.2: Đặc điểm một số lò đốt.

Đặc điểm

Lò 1 khoang

Lò 2 khoang



Lò quay



Cơng suất (kg/ngày)



100 – 200



200 – 1000



500 – 3000



Nhiệt độ (oC)



300 – 400



800 – 1000



1200 – 1600



Bộ phận làmsạch khí



Khó lắp đặt



Lắp với lò lớn



Có sẵn



Nhân lực



Cần đào tạo



Chi phí



Tương đối thấp



Có chun

mơn

Chi phí cao



Trình độ cao

Khá đắt



Phương pháp thiêu đốt phụ thuộc hiệu quả sử dụng của từng loại lò:

Lò đốt thùng quay (Rotary – Kiln Incineration)

Cấu tạo lò đốt thùng quay được thể hiện trong hình:



38



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG II: CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×