Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: TỒNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ

CHƯƠNG I: TỒNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Xử lý và tiêu hủy chất thải: là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất

khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường.

1.1.2. Nguồn gốc và phân loại chất thải rắn y tế

a. Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế

Chất thải rắn y tế sinh ra từ nhiều nguồn khác nhau:

• Các hoạt động khám và chữa bệnh.

• Các hoạt động chăm sóc người bệnh.

• Các hoạt động xét nghiệm.

• Trong các cơng tác phòng bệnh.

• Trong các cơng trình nghiên cứu.

• Trong các q trình đào tạo các y bác sĩ.



:Chất thải sinh hoạt

: Chất thải lâm sàng

: Chất thải hóa hoc



: Chất thải phóng xạ

: Bình áp suất



Hình 1.1: Nguồn phát sinh chất thải Bệnh viện Đa Khoa

11



b. Phân loại chất thải rắn y tế

 Chất thải lâm sàng:

Chất thải lâm sàng được chia thành 5 nhóm:

Nhóm A: chất thải nhiếm khuẩn, chứa mầm bệnh với số lượng, mật độ

đủ gây bệnh, bị nhiễm khuẩn bởi vi khuẩn, virus, kí sinh trùng, nấm…bao gồm

các vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, chất bài tiết của người bệnh như gạc, bơng,

găng tay, bột bó gãy xương, dây truyền máu…

Nhóm B: là các vật sắc nhọn như bơm tiêm, lưỡi, cán dao mổ, mảnh thủy

tinh vỡ và những vật liệu có thể gây ra vết cắt hoặc chọc thủng, dù có được sử

dụng hay khơng sử dụng.

Nhóm C: chất thải có nguy cơ lây nhiễm phát sinh từ phòng xét nghiệm:

găng tay, lam kính, ống nghiệm, túi đựng máu…

Nhóm D: chất thải dược phẩm, dược phẩm quá hạn, bị nhiễm khuẩn,

dược phẩm bị đổ, khơng còn nhu cầu sử dụng và thuốc gây độc tế bào.

Nhóm E: Các mô cơ quan người, động vật, cơ quan người bệnh, động vật,

mô cơ thể (nhiễm khuẩn hay không nhiếm khuẩn), chân tay, nhau thai, bào thai…

 Chất thải gây độc tế bào

Chất thải gây độc tế bào bao gồm vật liệu bị ô nhiễm như bơm tiêm, gạc,

lọ thuốc, thuốc quá hạn, nước tiểu, phân…chiếm 1% chất thải bệnh viện.

 Chất thải phóng xạ

Chất thải có hoạt độ riêng như chất phóng xạ. Chất thải phóng xạ gồm

chất thải rắn, lỏng, khí. Trong đó, chất thải phóng xạ rắn là những vật liệu sử

dụng trong xét nghiệm, chuẩn đoán như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm.

Chất thải phóng xạ rắn gồm các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn

đoán, điều trị, như: gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ.

Chất thải phóng xạ lỏng gồm dung dịch có chứa nhân phóng xạ phát sinh

trong quá trinh chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài

tiết, nước xúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ…

Chất thải phóng xạ khí gồm: các chất khí lâm sàng như: 113 Xe, các khí

thốt ra từ các kho chứa chất phóng xạ.



12



 Chất thải hóa học

Chất thải hóa học bao gồm chất thải rắn, lỏng, khí. Chất thải trong các cơ

sở y tế được phân thành hai loại: chất thải hóa học khơng gây nguy hại như

đường, axit béo, một số muối vô cơ, hữu cơ, và các chất thải hóa học nguy hại.

Chất thải hóa học nguy hại có từ rất nhiều nguồn, trong đó bao gồm có:

+ Formaldehyde và các hóa chất khử khuẩn khác được sử dụng trong khoa

giải phẫu, lọc máu, ướp xác và dùng để bảo quản các mẫu xét nghiệm ở một số

khoa khác.

+ Các hóa chất quang hóa có trong các dung dịch cố định và tráng phim

hydroquinone, Kalihydroxide, Bạc, Glutaraldehyde.

+ Các hợp chất có halogan: Methylen chlorid, chloroform, freons, trichloro

ethylen, halothan.

+ Kim, lọ thủy tinh đựng thuốc và những chất thải khác có liên quan đến

q trình chẩn đốn và điều trị theo phương pháp hóa trị liệu tại bệnh viện.

+ Các thuốc gây độc tế bào.

+ Các dung môi:

Các thuốc mê bốc hơi: Halothane (Fluothane), Enflurane (Ethrane),

Isoflurane (Forane).

Các hợp chất khơng có Halogen: Xylene, Acetone, Isopropanol, Toluene,

Ethyl acetate, Acetonitrile, Benzene.

+ Oxyte ethylene: được sử dụng để tiệt khuẩn các thiết bị y tế, phòng phẫu

thuật nên được đóng thành bình và gắn với thiết bị tiệt khuẩn. Loại khó này có

thể gây ra nhiều độc tính và có thể gây ra ung thư ở người.

+ Các chất hóa học hỗn hợp: bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn

như: Phenol, dầu mỡ, các dung môi làm vệ sinh, cồn ethanol, methanol, acide.

 Các loại bình có chứa áp

Bình chứa khí có áp như bình CO 2, O2, gas, bình khí dung, bình khí dùng

1 lần...các bình dễ gây cháy nổ, khi thiêu đốt cần thu riêng.

 Chất thải sinh hoạt

Chất thải không bị coi là chất thải nguy hại, phát sinh từ bệnh viện, qua

trung gian của các lồi cơn trùng như ruồi, muỗi và các loài vi trùng này sẽ xâm

13



nhập nhiều nơi, qua đường thức ăn, nước uống có thể gây ra các dịch bệnh trên

phạm vi rộng.

Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh, phòng làm việc, hành

lang, các bộ phận cung ứng, nhà kho, nhà giặt, nhà ăn… bao gồm giấy báo, tài

liệu, vật liệu đóng gói, thùng cát tơng, túi nilon, túi đựng phim, vật liệu gói thực

phẩm, thức ăn dư thừa của người bệnh, rác quyét dọn từ các sàn nhà.

Một số chất thải rắn ngoại cảnh khác như lá cây, rác từ các khu vực ngoại cảnh.

1.1.3. Đặc điểm và thành phần của chất thải rắn y tế





Thành phần vật lý:

+ Đồ bơng vải sợi: gồm bông gạc, băng quần áo cũ, khăn lau, vải trải…

+ Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…

+ Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm thủy tinh, ống nghiệm…

+ Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng dụng cụ mổ…

+ Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc…

+ Đồ nhựa: hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng hàng…

+ Rác, lá cây, đất đá…







Thành phần hóa học:

+ Những chất vơ cơ: kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, sỏi đá, hóa chất…

+ Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, bộ phận cơ thể, đồ nhựa…

+ Thành phần gồm các nguyên tố: C, H, O, N, S, Cl và một số phân tro.



• Thành phần sinh học: máu, các loại dịch tiết, những động vật làm thí nghiệm,

bệnh phẩm và các vi trùng gây bệnh.

Thành phần và khối lượng của từng loại chất thải y tế có đặc trưng theo

chức năng và nhiệm vụ chuyên môn của từng bệnh viện. Chất thải y tế thường

bao gồm cả các loại chất thải có đặc tính và tác động đến sức khỏe con người và

đến môi trường giống như các loại chất thải thông thường khác. Xét về mức độ

dơ bẩn và độc hại có thể quy chất thải rắn y tế vào loại ô nhiễm bậc nhất trong

số các loại chất thải rắn của xã hội.

Một phần trong chất thải y tế là các loai hình chất thải có các đặc tính

riêng biệt và có nguy cơ cao gây rủi ro về mơi trường và sức khỏe cộng đồng. Vì

vậy mà chất thải y tế được xếp vào nhóm chất thải nguy hại. Chất thải rắn y tế

dần trở thành mối đe dọa lớn với sức khỏe của con người. Nếu không được thu

14



gom, phân loại, xử lý đúng sẽ là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường tạo điều kiện

thuận lợi cho việc lây lan các căn bệnh truyền nhiễm, là điều kiện cho các vi

sinh vật gây bệnh kháng thuốc và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng

Theo tổ chức y tế thế giới WHO năm 1999, thành phần của chất thải rắn y tế

bao gồm 80% chất thải rắn thông thường, 15% chất thải lây nhiễm, 3% là chất thải hóa

học, chỉ 1% là chất thải sắc nhọn, và 1% là chất thải phóng xạ, kim loại nặng.

Kết quả nghiên cứu 80 bệnh viện trung ương, địa phương trong cả nước

(Nguồn: Dự án đào tạo Việt Nam – Ơxtrây lia – Khóa học quản lí chất thải rắn)

đã cho thấy được thành phần trung bình của rác thải y tế tại các bệnh viện với hệ

số phát thải chất thải rắn y tế 2,21% kg/giường bệnh/ngày, với tỷ lệ chất thải rắn

nguy hại khoảng 22,7% so với toàn bộ chất thải chung từ bệnh viện.

a. Tính chất vật lý

Là thông số quan trọng đánh giá khả năng thu hồi phế liệu, lựa chọn cơng

nghệ thích hợp.

Sự khác nhau giữa chất thải y tế và chất thải đô thị được thể hiện ở bảng:

Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa các loại chất thải

Thành phần

Giấy

Carton

Plastic

Cao su

Vải

Thực phẩm

Rác vườn

Thủy tinh

Kim loại

Chất dịch

Misorganics



CT lây nhiễm (% CT thông thường

trọng lượng)

31

0

29

12

5

1

0

3,2

1,1

17,7

0



(% trọng lượng)

36

3

20

1,4

2,1

11,7

2

4,8

7,2

9,9

1,9



CT đô thị (%

trọng lượng)

41,9

12,2

11,2

1,6

2,9

11,9

0

7,5

6

0

0,4

(Nguồn: Cefinea)



Bảng 1.2: Thành phần chất thải (rác sinh hoạt tại Bệnh viện)

STT

1

2



Thành phần

Giấy và giấy thấm

Plastic



Phần trăm trọng lượng

(%)

60

20

15



3

4

5



Thực phẩm thừa

Kim loại, thủy tinh, chất vô cơ

Các loại hỗn hợp khác



10

7

3

(Nguồn: Cefinea)



Bảng 1.3: Thành phần chất thải nhiễm khuẩn có trong chất thải rắn y tế

STT

1

2

3

4



Thành phần

Giấy và quần áo

Plastic

Thủy tinh

Chất dịch



Phần trăm trọng lượng (%)

50 – 70

20 – 60

10 – 20

1 – 10

(Nguồn : Cefinea)



Bảng 1.4: Thành phần vật lý chất thải y tế một số bệnh viện ở TP. HCM

STT

1

2

3

4

5

6



Thành phần vật lý



Phần trăm trọng lượng



Plastic

Cao su (C4H6)n

Vải, giấy (C6H10O5)n

Lipit (C30H61C6H5O6)

Protit (C2H5O2N)

Xương (Ca, P)



(%)

30,1

24,2

36,2

0,5

4

5

(Nguồn : Cefinea)



Bảng 1.5: Thành phần hóa lý của rác y tế

Thành



Hàm lượng Khối lượng Phân tử lượng



Lượng mol



phần

C



(%)

50,85



(kg)

50,85



(g)

12



(kmol)

4,23



H



6,71



6,71



2



3,35



O



19,5



19,5



32



0,59



N



2,75



2,75



28



0,098



Ca



0,1



0,1



40



0,00025



P



0,08



0,08



15



0,0053



S



2,71



2,71



32



0,084



Cl



15,1



15,1



71



0,212



A (tro)



1,05



1,05



-



16



W (nước)



1,5



1,5



Tổng



100



100



18



0,605

(Nguồn: Cefinea)



Độ ẩm

Độ ẩm của chất thải rắn là thông số liên quan đến giá trị nhiệt lượng, xem

xét khi lựa chọn, phương pháp xử lý, thiết kế bãi chôn lấp và lò đốt. Độ ẩm thay

đổi theo thành phần và theo mùa trong năm. Tùy từng loại chất thải có độ ẩm

khác nhau 8,5 – 17%, chủ yếu là giấy, plastic chiếm tỷ lệ cao. Độ ẩm tương đối

thường thích hợp với phương pháp xử lý bằng công nghệ thiêu đốt.

Tỷ trọng

Xác định bằng tỷ số giữa trọng lượng của mẫu rác và thể tích chiếm chỗ.

Tỷ trọng thay đổi theo thành phần, độ ẩm, độ nén chặt của rác. Tỷ trọng là thông

số quan trọng phục vụ cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý vì liên quan

tới khối lượng rác thu gom và thiết kế qui mơ lò đốt. CTRYT có thành phần hữu

cơ cao nên tỷ trọng chất thải thấp 208 – 345kg/m3.

b. Tính chất hố học và giá trị nhiệt lượng

Tính chất hóa học và nhiệt lượng được xem là nhân tố khi lựa chọn

phương án xử lý chất thải, tham gia thu gom, vận chuyển. Rác thải có giá trị

nhiệt lượng cao nên xử lý bằng phương pháp thiêu đốt, rác có thành phần hữu cơ

cao, dễ phân hủy phải thu gom trong ngày và ưu tiên xử lý bằng phương pháp

sinh học.

• Tính chất hố học

Thành phần hữu cơ: được xác định là phần vật chất có thể bay hơi sau

khi nung ở 950oC.

Thành phần vơ cơ (tro): là phần tro còn lại sau khi nung ở 950 0C.

Thành phần phần trăm (%): phần trăm của các nguyên tố C, H, O, N, S

và tro. Thành phần % được xác định để tính giá trị nhiệt lượng của rác.

• Giá trị nhiệt lượng

Nhiệt thốt ra từ việc đốt CTYT là một thơng số quan trọng, có đơn vị

kJ/kg. Các lò đốt đều có bộ phận cấp khí bên trong trực tiếp ảnh hưởng đến khả

năng cháy. Vì vậy, khối lượng chất thải có thể đốt mỗi giờ phụ thuộc vào giá trị

nhiệt lượng mỗi kg chất thải.

Nhiệt lượng (Q) rác thải tính theo công thức:

Q = 339C + 1256H – 108,8(O – S) – 25,1(W + 9H) (kJ/kg)

17



Trong đó:

C: phần trăm (%) trọng lượng Cacbon trong rác.

H: phần trăm (%) trọng lượng Hidro trong rác.

O: phần trăm (%) trọng lượng Cxy trong rác.

N: phần trăm (%) trọng lượng Nitơ trong rác.

S: phần trăm (%) trọng lượng lưu huỳnh trong rác.

W: phần trăm (%) trọng lượng tro trong rác.

1.1.4. Tình trạng xả thải chất thải rắn y tế ở Việt Nam

Hiện nay, cả nước có 13674 cơ sở y tế, trong đó có 1253 bệnh viện; 1037

cơ sở thuộc hệ dự phòng; 100 cơ sở đào tạo; 180 cơ sở sản xuất thuốc và 11104

trạm y tế xã. Chỉ tính riêng khối bệnh viện, mỗi ngày phát thải khoảng 450 tấn

chất thải rắn, trong đó có khoảng 47 tấn chất thải rắn y tế nguy hại. Con số này

dự báo sẽ tăng lên khoảng 30 – 40% trong các năm tới do sự gia tăng dân số và

việc mở rộng các mục đích kinh tế. Tuy nhiên, công tác thu gom, phân loại và

xử lí chất thải rắn y tế đang là vấn đề chưa thực hiện theo đúng yêu cầu.

Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của cục khám chữa bệnh – Bộ y tế và

Viện Kiến trúc, Quy hoạch đô thị và Nông thôn – Bộ Xây dựng, năm 2009 –

2010, tổng lượng CTR y tế trong toàn quốc khoảng 100 – 140 tấn/ ngày, trong

đó có khoảng 100 -140 tấn/ ngày, trong đó có 16-30 tấn/ngày là CTR y tế nguy

hại. Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ ngày, trong đó CTR y tế nguy hại

tính trung bình là 0,14 – 0,2 kg/ giường/ ngày. Chất thải rắn y tế hiện đang ngày

một gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như gia

tăng só lượng cơ sở y tế, gia tăng giường bệnh, tăng cường sử dụng các sản

phẩm dùng một lần trong y tế, dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp

cận nhiều hơn với các dịch vụ y tế.

Tính riêng cho 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế quản lý, theo khảo sát năm

2009, tổng lượng CTR y tế phát sinh trong 1 ngày là 31,68 tấn, trung bình là

1,53 kg/giường/ngày. Lượng chất thải phát sinh tính theo giường cao nhất tại

bệnh viện Chợ Rẫy, lên đến 3,72 kg/ giường/ ngày, thấp nhất là bệnh viện Điều

dưỡng – Phục hồi chức năng Trung ương và bệnh viện Tâm thần Trung ương 2

với 0,01 kg/ giường/ ngày.

Lượng CTRYT phát sinh trong các ngày khác nhau giữa các bệnh viện tùy

thuộc vào số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật

chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng…

18



1.2. HIỆN TRẠNG VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BVĐK HÀ ĐƠNG

1.2.1.



Tổng quan về Bệnh viện Đa khoa Hà Đơng



Địa chỉ: Số 2 – Bế Văn Đàn, phường Quang Trung, quận Hà Đơng, thành

phố Hà Nội.



Hình 1.2: Vị trí địa lý BVĐK Hà Đơng

Điều kiện khí hậu:

Nằm trong vùng khí hậu đồng bằng Bắc Bộ mang đặc thù của miền khí

hậu nhiệt đới gió mùa, khu vực nghiên cứu có 2 mùa rõ rệt: mùa đông khô lạnh

và mùa hè nóng ẩm mưa nhiều.

- Nhiệt độ trung bình hàng năm là 230C. Nhiệt độ khơng khí trung bình

mùa hè là 27,50C. Nhiệt độ khơng khí trung bình mùa đơng là 18,50C.

- Lượng mưa trung bình + từ tháng 5 – 9: 235,2 mm.

+ từ tháng 10 – 4 (năm sau): 72,34 mm.

- Gió: chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính (Mùa hè gió Đơng Nam,

mùa đơng gió Đơng Bắc).

Lịch sử ra đời:

Bệnh viện Đa khoa Hà Đông là một trong những cơ sở y tế được xếp hạng

là bệnh viện đa khoa hạng 1 trong cả nước. Lịch sử hình thành và phát triển của

bệnh viện lên tới gần 100 năm nguyên là cơ sở điều trị tuyến cuối của Hà Tây cũ

19



nay trở thành bệnh viện đa khoa tuyến thành phố của Hà Nội. Tuy cơ sở vật chất

còn thiếu thốn, nguồn nhân lực còn hạn chế, xong các y bác sĩ luôn xác định rõ

nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu ở đây là khám chữa bệnh cho nhân dân đặc biệt là

các đối tượng chính sách, người nghèo và trẻ em.

Năm qua, Bệnh viện đã điều trị cho gần 300 nghìn lượt bệnh nhân, phẫu

thuật thành cơng cho 7 nghìn người bệnh có ca mổ khó. Lấy niềm vui của bệnh

nhânlàm động lực, bệnh viện luôn đảm bảo chế độ thường trực cấp cứu suốt

ngày đêm không để sai sót ảnh hưởng tính mạng người bệnh, nhiều bệnh nhân

nặng đã được cứu chữa kịp thời. Tinh thần trách nhiệm cao đối với bệnh nhân

nên bệnh viện luôn nhận được những phản hồi tích cực từ phía bệnh nhân và

người nhà bệnh nhân.

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý bệnh viện:

Cùng với sự đổi mới trong công tác và dịch vụ khám chữa bệnh, bệnh

viện đa khoa Hà Đông – đơn vị y lớn ở Hà Nội nhanh chóng nhận được sự tin

tưởng từ phía người dân. Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Bộ Y

tế, Sở Y tế, các cấp ngành của thành phố Hà Nội cùng với sự nỗ lực của tập thế

lãnh đạo, cán bộ nhân viên, BVĐK Hà Đông không ngừng phát triển cả về trang

thiết bị, cơ sở vật chất và kỹ thuật. Bệnh viện có tổng cộng 33 khoa (27 khoa

lâm sàng, các khoa lâm sàng khối nội, các khoa cận lâm sàng) và 6 phòng chức

năng.

Các đồn thể chính trị và tổ chức xã hội.

+ Đảng bộ bệnh viện gồm 23 chi bộ với 158 đảng viên.

+ Cơng đồn cơ sở Bệnh viện gồm 32 cơng đồn bộ phận với 471

đồn viên cơng đồn.

+ Đồn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có 121 đồn viên.

+ Chi hội Cựu chiến binh có 93 hội viên.

+ Chi hội Y tá điều dưỡng có 259 hội viên.

Hiện nay, bệnh viện có đến 550 giường bệnh, với đội bác sĩ, y tá lên đến

515 cán bộ, 100 nhân viên. Nằm ở vị trí trung tâm của thành phố Hà Nội, mỗi

ngày, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông tiếp nhận hàng loạt các bệnh nhân trên cả

nước. Các bệnh nhân chủ yếu đến khám chữa bệnh và điều trị nội trú. Trung

20



bình mỗi ngày, bệnh viện tiếp nhận khoảng 650 lượt bệnh nhân đến khám và

chữa bệnh.

1.2.2.



Thành phần và khối lượng rác thải y tế tại BVĐK Hà Đông

Thành phần rác thải y tế tại bệnh viện phát sinh phụ thuộc chủ yếu vào

các hoạt động chuyên môn và quản lý, số giường bệnh và số bệnh nhân nằm

điều trị. Rác thải tại bệnh viện được phân loại thành:

+ Rác nguy hại (chiếm 10-15%);

+ Rác thải sinh hoạt (chiếm 85-90%).

Bảng 1.6: Khối lượng rác thải trong 3 năm (2008-2010)

TT

1

2

3



Năm

Khối lượng rác ( tấn)

2008

150

2009

165

2010

185

(Nguồn: Đề tài thực hiện năm 2011)

Từ bảng trên ta thấy, lượng rác thải mỗi năm càng tăng. Vậy, lượng rác có

xu hướng tăng lên theo năm do lượng bệnh nhân đến khám bệnh ngày càng tăng.

Bảng 1.7: Thành phần và khối lượng chất thải rắn tại BVĐK Hà Đơng

STT



Nhóm chất thải y tế



Khối lượng chất thải

(kg/tháng)

1

Chất thải phóng xạ

Khơng xác định

2

Bình chứa áp suất

Khơng xác định

3

Chất thải lây nhiễm

1585

4

Chất thải hữu cơ, hóa học nguy hại

15

5

Các chất thải thông thường

600

Tổng cộng

900

(Nguồn: Đề tài thực hiện năm 2011)

Theo khảo sát cho thấy, lượng rác bình quân mỗi năm của bệnh viện thải



ra khoảng gần 196 tấn rác thải các loại. Trong đó, rác thải thơng thường chiếm

số lượng lớn nhất 90,36%, nhỏ nhất là chất thải hóa học 0,09%, trong đó tổng số

rác thải bệnh viện Đa Khoa Hà Đơng thì lượng chất thải phóng xạ khơng xác

định được.

Rác thải hữu cơ chiếm 49,3% là lớn nhất, chiếm tỷ lệ bé nhất là bệnh

phẩm chỉ 0.5% trong tổng khối lượng chất rắn của bệnh viện. Đây là bệnh viện

đa khoa nên chất thải chủ yếu là do hoạt động sinh hoạt của bệnh nhân, người

nhà bệnh nhân, và nhân viên y tế nên lượng rác là nhiều nhất.

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: TỒNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×