Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chủ tịch Hồ Chí Minh ln khuyến khích học sinh, sinh viên phải kết

hợp giữa việc học với việc thực hành. Vì vậy ngồi học tập lý thuyết thì

ngành nghề nào cũng cần phải có sự thực hành, ngồi việc được dạy chun

mơn, nghiệp vụ trong nhà trường thì việc sinh viên tích lũy kinh nghiệm qua

thực tiễn trải nghiệm cuộc sống cũng ngày càng được chú trọng hơn. Hơn

nữa, đi làm thêm ít nhiều còn thể hiện sự tự lập của sinh viên. Ở nhiều nước

trên thế giới, sinh viên khi đã vào Đại học là sống hoàn toàn tự lập, sinh viên

ra ở riêng với gia đình và tự lập về mọi mặt, điều này giúp cho sinh viên dễ

thích nghi với cuộc sống hơn. Sinh viên tự lo cho cuộc sống của bản thân mà

không làm phiền đến cha mẹ. Sự tự lập của sinh viên ở những nước này giúp

sinh viên trưởng thành hơn trong cuộc sống, tuy nhiên điều này chỉ có thể xảy

ra phổ biến ở những nước phát triển như Mỹ, Anh… Còn ở Việt Nam, sinh

viên cũng có nhu cầu sống tự lập, cũng muốn đi làm thêm nhưng ròa cản kinh

tế nói chung khiến sinh viên khơng có điều kiện thực hiện. Khơng chỉ sinh

viên mà còn rất nhiều người lao động chưa có việc làm. Nhà nước chưa có

nhiều những chính sách hỗ trợ việc làm nói chung đến từng đối tượng.

Hơn nữa, ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật thì đòi

hỏi một lực lượng lao động phải có thay nghề cao, người sử dụng lao động

ngày càng đòi hỏi lao động có trình độ cao, vì vậy sinh viên muốn có được

cơng việc như ý muốn của mình với một mức lương phù hợp thì phải đáp ứng

được yêu cầu của nhà tuyển dụng. Nhưng thực tế lại cho thấy, đa số sinh viên

chưa có nhiều kinh nghiệm để đáp ứng nhu cầu của các nhà tuyển dụng. Vì

vậy nhu cầu vẫn chỉ dừng lại ở nhu cầu mà chưa thể đi vào thực hiện.

Xuất phát từ những lý do trên, nhằm cung cấp dữ liệu cho những

nghiên cứu để bổ sung các chính sách về việc làm, tác giả đã quyết định lực

chọn đề tài : “Nhu cầu làm thêm của sinh viên Thành phố Hà Nội hiện

nay” (Qua khảo sát tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền).



21



2.

-



Đặc điểm sinh viên trường Học Viện Báo chí và Tuyên truyền.

Học viện Báo chí và Tuyên truyền là nơi nuôi dưỡng, ươm mồng lên một thế

hệ tri thức bao gồm các cán bộ giảng dạy, các nhà báo, phóng viên, nhà

nghiên cứu… Hằng năm, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho tốt nghiệp

hàng nghìn sinh viên, mỗi sinh viên sau khi ra trường đều được trang bị một

khối lượng kiến thức đáng kể để phục vụ cho xã hội. Chính vì vậy mà đây là



-



một môi trường tốt cho sinh viên học tập và rèn luyện.

Sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền được đánh giá là khá năng động

trong nhiều hoạt động. Sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền được

đánh giá là ngôi trường đào tạo một lớp sinh viên ln nhiệt tình, năng nổ

tham gia các hoạt động, Học viện Báo chí và Tuyên truyền là trường Đảng

cho nên các phong trào về Đồn, Đảng ln sơi nổi, sinh viên ln tích cực

tham gia các hoạt động cũng như tự biết sắp xếp thời gian của mình sao cho



-



phù hợp với khối lượng các hoạt động dày đặc.

Hiện nay, đối với sinh viên các khóa K31, K32, K33 nhà trường vẫn đang duy

trì hình thức đào tạo theo niên chế, theo đó sinh viên đi học theo lịch học

được nhà trường sắp xếp trước, sinh viên khóa K31 và K33 chỉ học chính

khóa vào buổi sáng, sinh viên các Khóa K32, K34 chỉ học chính khóa vào

buổi chiều. Đối với sinh viên K34, hiện nay nhà trường đã abc đổi hình thức

đào tạo từ niên chế sang tín chỉ, tuy nhiên lịch học vẫn do nhà trường sắp xếp,

sinh viên vẫn chưa phải đăng kí lịch học như các trường Đại học khác có đào

tạo theo tín chỉ. Chính vì vậy sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền có

tương đối nhiều thời gian để tham gia các hoạt động cũng như đi làm thêm.



22



PHẦN II: NỘI DUNG

1.



NHU CẦU LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ

TUYÊN TRUYỀN.

Kết quả khảo sát cho thấy, đa số sinh viên Học viện Báo chí và Tun

truyền có mong muốn đi làm thêm, tỉ lệ sinh viên không muốn làm thêm rất

thấp, chỉ có 16.5 % sinh viên khơng muốn làm thêm, còn lại 83.5 % sinh viên

muốn làm thêm. Những phân tích dưới đây nhằm hướng tới những sinh viên

Học viện Báo chí và Tun truyền có nhu cầu đi làm thêm.



1.1



Nhu cầu của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền về thời gian làm

việc.

Học viện Báo chí và Tuyên truyền là một trong số ít các trường Đại học

còn giữ lại hình thức đào tạo theo Niên chế, cho đến năm 2014 – 2015 nhà

trường mới bắt đầu chuyển sang hình thức đào tạo tín chỉ nên lịch học và nghỉ

của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền tương đối ổn định. Chính vì

vậy mà sinh viên có điều kiện đi làm thêm hơn một số sinh viên của các

trường khác do lịch học khơng cố định.

Sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay chủ yếu chỉ học

một buổi học trên giảng đường, vì thế sinh viên có khá nhiều thời gian rảnh

rỗi. Ngoài việc tham gia các hoạt động, đi làm tình nguyện thì khá nhiều sinh

viên đã tận dụng thời gian rảnh rỗi của mình để đi làm thêm.



-



Các ngày mong muốn đi làm: Khi được hỏi sinh viên muốn đi làm vào

những ngày nào trong tuần thì chủ yếu sinh viên cho rằng họ mong muốn

được đi làm vào các ngày từ thứ 2 đến chủ nhật, chiếm gần một nửa tổng số

sinh viên muốn đi làm thêm (chiếm 48.2%), tiếp theo đó có gần 1/3 mẫu

nghiên cứu cho rằng họ muốn đi làm tất cả các ngày trong tuần.



23



Thời gian đi làm trong tuần (Đơn vị: %)



-



Số giờ làm việc trung bình: Đa số sinh viên Học viện Báo chí và Tun

truyền khi được hỏi có muốn đi làm thêm hay khơng thì đều trả lời là có

muốn, tuy nhiên mỗi người lại mong muốn có số giờ làm việc trung bình là

khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng người.

Số giờ làm việc trung bình một tuần (Đơn vị: %)



Kết quả nghiên cứu về thời gian sinh viên muốn đi làm thêm trung bình

bao nhiêu giờ một tuần cho thấy, có tới hơn một nửa sinh viên cho rằng họ

mong muốn đi làm thêm vào khoảng từ 15h đến 35h một tuần, chiếm 51.2 %

trong tổng số người trả lời. Có tới 30.1% mẫu nghiên cứu cho rằng họ muốn

làm việc trên 35h/ 1 tuần, điều này đặt ra câu hỏi liệu đối với những sinh viên

mong muốn làm thêm vào thời gian tương đối dài trong tuần như vậy thì sinh

viên có thể cân bằng được giữa việc học và việc, việc tham gia các hoạt động

và việc đi làm thêm khơng hay khơng? Trong khi đó, một số nước trên thế

giới như Đức, Mỹ đã quy định thành luật về số giờ làm thêm của sinh viên đó

là khơng vượt quá 29h /1 tuần để đảm bảo việc làm thêm không ảnh hưởng

quá nhiều đến việc học tập. Thực tế ở Việt Nam lại cho thấy rằng, một bộ

phận sinh viên do quá chú trọng, đầu tư vào việc làm thêm mà bỏ bê việc học

hành, đã có khá nhiều sinh viên vì lý do này mà thường xuyên bị thi lại, học

lại hoặc nợ mơn, thậm chí còn ra trường chậm hơn so với các bạn trong lớp.

Sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền cũng đang rơi vào nguy cơ này

do có tới gần 1/3 sinh viên muốn được làm thêm trên 35h/ 1 tuần. Như vậy

đối với sinh viên, việc làm thêm tương đối quan trọng, làm thêm đem lại cho

sinh viên nhiều mặt tích cực nhưng đồng thời nếu không được sắp xếp hợp lý,

khoa học thì có thể sẽ đem lại cho sinh viên khá nhiều mặt hạn chế. Chính vì



24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×