Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tầng thứ nhất: các nhu cầu về căn bản nhất thuộc về “thể lý”: thức ăn,

nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi…

Tầng thứ hai: Nhu cầu an tồn: cần có cảm giác n tâm về an tồn

thân thể, an tồn việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo.

Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc:

muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn

bè thân hữu tin cậy.

Tầng thứ tư: Nhu cầu được q trọng, kính mến: cần có cảm giác

được tơn trọng, kính mến, được tin tưởng.

Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân: muốn được sáng tạo,

được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được

cơng nhận là thành đạt.

Trong cuộc sống, mỗi người đều có những nhu cầu khác nhau không ai

giống ai, sinh viên Học viện Báo chí và Tun truyền cũng vậy, mỗi sinh viên

cũng có những nhu cầu khác nhau tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của

từng người, tuy nhiên nhu cầu nào cũng đều rất quan trọng và cần được đáp

ứng. Khi nhu cầu thấp đã đạt được thì lại có nhu cầu cao hơn. Mỗi sinh viên

luôn tồn tại những nhu cầu khác nhau, đối với một số sinh viên có thể nhu cầu

là được đáp ứng các yêu cầu ở tầng tháp nhu cầu sinh lý, nhưng cũng có

những sinh viên thì nhu cầu lại chính là sự tự thể hiện. Nhưng dù ở tầng nhu

cầu nào đi nữa thì chỉ khi nhu cầu được đáp ứng con người mới cảm thấy hài

lòng. Như vậy, đối với việc sinh viên làm thêm, đối với một số người thì đó là

nhu cầu sinh lý, nhưng đối với một số sinh viên khác thì việc đi làm thêm lại

là sự tự thể hiện bản thân, sinh viên muốn được công nhận họ là những người

tự lập, họ mong muốn được cho rằng bản thân mình là những người thành đạt,

khơng nương tựa vào ai.

1.2.2 Lý thuyết hành động xã hội.

Lý thuyết xã hội học về hành động xã hội có nguồn gốc từ nhiều nhà

nghiên cứu khác nhau, Weber là một trong những nhà nghiên cứu có cơng đầu

16



xây dựng lý thuyết xã hội học về hành động xã hội. Quan niệm của Weber cho

thấy hành động xã hội là đối tượng nghiên cứu của xã hội học. Ông đã chỉ ra

sự khác nhau giữa hành động xã hội và và những hành vi và những hoạt động

khác của con người. Hành động xã hội được ông tổng quát định nghĩa là hành

động được chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động có

tính đến hành vi của người khác, và vì vậy được định hướng tới người khác

trong đường lối và q trình của nó. Theo Weber, ông phân loại thành 4 loại

hành động sau đây:

Hành động duy lý – công cụ: là hành động được thực hiện với sự cân

nhắc, tính tốn, lực chọn cơng cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiểu quả

nhất.

Hành động duy lý giá trị: là hành động được thực hiện vì bản thân

hành động (mục đích tự thân). Thực chất loại hành động này có thể nhằm vào

những mục đích phi lý nhưng lạ được thực hiện bằng những cơng cụ, phương

tiện duy lý.

Hành động cảm tính: là hành động do các trạng thái xúc cảm hoặc

tình cảm bột phát gây ra, mà khơng có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối

quan hệ giữa cơng cụ phương tiện và mục đích hành động.

Hành động theo truyền thống: là loại hành động tuân thủ những thói

quen, nghi lễ, phong tục, tập quán truyền lại từ đời này qua đời khác.

Xã hội học nghiên cứu hành động xã hội thực chất là tập trung vào

nghiên cứu loại hành động duy lý – công cụ. Weber lập luận rằng: đặc trưng

quan trọng nhất của xã hội học hiện đại là hành động xã hội của con người

ngày càng trở nên duy lý, hợp lý với tính tốn chi ly, tỉ mỉ, chính xác về mối

quan hệ giữa cơng cụ/phương tiện và mục đích/kết quả.

Do vậy việc sinh viên quyết định có đi làm thêm hay không và làm

những công việc như thế nào đều được tính tốn chi li, cẩn thận. Tuy nhiên

việc sinh viên quyết định chọn công việc như thế nào còn tùy thuộc vào nhiều



17



yếu tố khác nhau và đều được tính tốn, lựa chọn phương pháp để đạt được

năng suất, chất lượng, và hiệu quả cao nhất có thể.

1.2.3 Lý thuyết vốn xã hội

Lý thuyết vốn xã hội xuất hiện chủ yếu vào những năm 90. Đây là một

khái niệm mới và có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về vốn xã hội nhưng

tựu trung lại các quan điểm đều quy vốn xã hội về các mạng lưới xã hội và

đều cho rằng giống như vốn con người, tuy thuộc về vốn vật chất nhưng vốn

xã hội cũng có khả năng sinh lợi.

Trong cuộc sống, để duy trì và tồn tại thì khơng một ai mà sống độc

lập, tách biệt hoàn toàn với xã hội, mỗi người đều tham gia vào những mạng

lưới xã hội nhất định, có người tham gia nhiều, có người tham gia ít, có người

có mạng lưới xã hội dày đặc nhưng cũng có người tham gia vào những mạng

lưới xã hội lỏng lẻo.

Đó có thể là các mạng lưới khơng chính thức như họ hàng, gia đình,

bạn bè, người thân,.. hoặc có thể là các mạng lưới chính thức như các tổ chức

dân sự chính thức, các hiệp hội, các nhóm nghề nghiệp… Trong quá trình cá

nhân tham gia vào các nhóm xã hội sẽ giúp cá nhân khai thác và sử dụng

được thông tin, ý tưởng, nguồn lực và và sự hợp tác từ các thành viên khác

trong mạng lưới. Vốn xã hội có thể được hiểu như là nguồn lực được tăng lên

khi các cá nhân tham gia vào các mạng lưới xã hội.

Đối với sinh viên trong vấn đề tìm kiếm việc làm, vốn xã hội chính là

việc sinh viên tận dụng các mối quan hệ, mạng lưới của mình để tìm cho mình

những cơng việc phù hợp với bản thân, vai trò của vốn xã hội trong việc sinh

viên làm thêm được thể hiện ở việc gắn kết hay kết nối giữa những người

đang tìm việc với những người đang nắm giữ nguồn lực. Do nắm giữ quyền

lực mà một số cá nhân có khả năng chi phối nhất định đối với những người

khác. Trong trường hợp này, nhà trường có vai trò nhất định kết nối giữa nhà

tuyển dụng với sinh viên để sinh viên tìm được những cơng việc phù hợp với



18



khả năng và trình độ của mình, bù lại các nhà tuyển dụng dựa vào mạng lưới

liên kết với nhà trường mà tìm được cho mình những lao động phù hợp.



19



PHẦN B: BÁO CÁO THỰC TẬP

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

1.



Lý do chọn đề tài

Theo báo cáo Phát triển Thế giới năm 2013 Tại các nước đang phát

triển thì việc là trở thành “nền tảng căn bản cho sự phát triển”, việc làm đem

lại nhiều lợi ích to lớn hơn nhiều so với thu nhập đơn thuần, việc làm có vai

trò quan tròn trong q trình giảm nghèo, giúp các thành phố vận hành và

giúp lớp trẻ tránh được bạo lực, báo cáo mới của Ngân Hàng Thế giới nhận

định. Tuy nhiên thực trạng việc làm ở Việt Nam cho thấy tỉ lệ thất nghiệp còn

tương đối cao. Ước tính tới cuối thàng 12/ 2014, tỷ lệ thất nghiệp của lao

động trong độ tuổi năm 2014 là 2.08%. Như vật so với nhiều nước trên thế

giới thì tỉ lệ này còn tương đối cao. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15

đến 24 tuổi) năm 2014 là 6.3%, cao hơn so với năm 2013, như vậy tỉ lệ thất

nghiệp ở thanh niên có xu hướng tăng, khu vực thành thị là 11, 49% cao hơn

mức 11.12% của năm trước, khu vực nông thôn là 4.63%, xấp xỉ năm 2013.

Mặc dù việc làm có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế, tuy

nhiên ở nước ta vẫn còn một bộ phận khơng nhỏ chưa có việc làm, và lại chủ

yếu tập trung ở lớp thanh niên do đây là giai đoạn chu yển giao từ giai đoạn

học sinh sang giai đoạn bắt đầu trưởng thành, ở giai đoạn này thường có

những biến động chính vì thế mà thanh niên chưa tìm được cho mình một

cơng việc ổn đinh cho nên tỉ lệ thất nghiệp khá cao. Sinh viên cũng nằm tron

độ tuổi thanh niên, bên cạnh việc tham gia học tập và các hoạt động thì sinh

viên cũng muốn tìm cho mình một cơng việc để có thể tiết kiệm thời gian

rảnh rỗi.

Hơn nữa, giá cả các mặt hàng tăng lên khiến đời sống của sinh viên đặc

biệt là sinh viên ở nơng thơn trở nên khó khăn hơn. Để vẫn có thể học tập

được và duy trì những thói quen sinh hoạt hằng ngày thì sinh viên đã đi làm

thêm để kiếm thêm thu nhập trang trải cho cuộc sống của mình.

20



Chủ tịch Hồ Chí Minh ln khuyến khích học sinh, sinh viên phải kết

hợp giữa việc học với việc thực hành. Vì vậy ngồi học tập lý thuyết thì

ngành nghề nào cũng cần phải có sự thực hành, ngồi việc được dạy chun

mơn, nghiệp vụ trong nhà trường thì việc sinh viên tích lũy kinh nghiệm qua

thực tiễn trải nghiệm cuộc sống cũng ngày càng được chú trọng hơn. Hơn

nữa, đi làm thêm ít nhiều còn thể hiện sự tự lập của sinh viên. Ở nhiều nước

trên thế giới, sinh viên khi đã vào Đại học là sống hoàn tồn tự lập, sinh viên

ra ở riêng với gia đình và tự lập về mọi mặt, điều này giúp cho sinh viên dễ

thích nghi với cuộc sống hơn. Sinh viên tự lo cho cuộc sống của bản thân mà

không làm phiền đến cha mẹ. Sự tự lập của sinh viên ở những nước này giúp

sinh viên trưởng thành hơn trong cuộc sống, tuy nhiên điều này chỉ có thể xảy

ra phổ biến ở những nước phát triển như Mỹ, Anh… Còn ở Việt Nam, sinh

viên cũng có nhu cầu sống tự lập, cũng muốn đi làm thêm nhưng ròa cản kinh

tế nói chung khiến sinh viên khơng có điều kiện thực hiện. Khơng chỉ sinh

viên mà còn rất nhiều người lao động chưa có việc làm. Nhà nước chưa có

nhiều những chính sách hỗ trợ việc làm nói chung đến từng đối tượng.

Hơn nữa, ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật thì đòi

hỏi một lực lượng lao động phải có thay nghề cao, người sử dụng lao động

ngày càng đòi hỏi lao động có trình độ cao, vì vậy sinh viên muốn có được

cơng việc như ý muốn của mình với một mức lương phù hợp thì phải đáp ứng

được yêu cầu của nhà tuyển dụng. Nhưng thực tế lại cho thấy, đa số sinh viên

chưa có nhiều kinh nghiệm để đáp ứng nhu cầu của các nhà tuyển dụng. Vì

vậy nhu cầu vẫn chỉ dừng lại ở nhu cầu mà chưa thể đi vào thực hiện.

Xuất phát từ những lý do trên, nhằm cung cấp dữ liệu cho những

nghiên cứu để bổ sung các chính sách về việc làm, tác giả đã quyết định lực

chọn đề tài : “Nhu cầu làm thêm của sinh viên Thành phố Hà Nội hiện

nay” (Qua khảo sát tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền).



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×