Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sức sống lan tỏa mãnh liệt của Đờn ca tài tử

Sức sống lan tỏa mãnh liệt của Đờn ca tài tử

Tải bản đầy đủ - 0trang

truyền. Đó là những tư liệu quý giá của Đờn ca tài tử góp vào những hạng

mục quan trọng của việc lập hồ sơ.

Ban đầu, việc lập hồ sơ Đờn ca tài tử khiến nhiều nhà nghiên cứu e ngại,

bởi nó là loại hình “âm nhạc cổ truyền muộn”, lan rộng ở nhiều địa phương,

nên khá nhiều ý kiến trái chiều, rằng lối chơi Đờn ca tài tử chỉ là ngẫu hứng,

khơng chun nghiệp. Nhưng qua q trình nghiên cứu, lý giải khoa học, “tài

tử” có nghĩa là người có tài; chữ “tài tử” còn hàm chỉ việc khơng dùng nghệ

thuật của mình làm kế sinh nhai.

GS Trần Văn Khê cho hay, nhạc tài tử chơi ngẫu hứng, nhưng phải ghi

nhớ trong đầu để chơi. Ví dụ như “xàng” trong Đờn ca tài tử không dùng ký

âm của phương Tây để diễn tả được, không ký âm được, mỗi lần chơi đều

khác nhau, nếu ký âm thì cũng chỉ ghi lại một giai đoạn thơi. Khơng thể nhìn

vào ký âm để chơi, vì Đờn ca tài tử từ tĩnh sang động… Tuy chỉ có khoảng 20

“bản tổ” - bản do các bậc thầy sáng tạo, có niêm luật chặt chẽ, nhưng trong

mỗi câu, nhịp điệu của Đờn ca tài tử người diễn có thể thêm thắt các âm, thoải

mái sáng tạo… “Nói một cách nào đó, Đờn ca tài tử là một loại hình âm nhạc

cần “tri thức thưởng thức”, người chơi phải thả hồn vào từng âm giai, người

nghe phải hiểu tiếng lòng của ngón đờn. Càng nghe càng hiểu thì thấy càng

hay và say mê là như thế. Nghe để buồn, để vui với một loại hình âm nhạc

dân gian độc đáo này đã gắn kết với những thân phận đi mở cõi” - GS Trần

Văn Khê khẳng định.

Theo ơng Lê Tồn, Viện trưởng Viện Âm nhạc Việt Nam, từ năm 1997,

khởi nguồn từ liên hoan Đờn ca tài tử được Viện Âm nhạc tổ chức tại phía

Nam đã góp phần khơi thơng mạch nguồn của loại hình nghệ thuật độc đáo

này. Đến việc nghiên cứu, lập hồ sơ di sản, Đờn ca tài tử đã được thổi bùng

lên, lan rộng khắp thôn, ấp, làng, xã các tỉnh phía Nam. Liên tiếp sau đó, các

tỉnh, thành phố phía Nam đã có ý thức tổ chức các cuộc liên hoan, thành lập

các CLB Đờn ca tài tử, tạo nên “sân chơi” nghệ thuật cổ truyền rộn ràng trong

dân. Và việc Đờn ca tài tử được UNESCO vinh danh khẳng định giá trị truyền

thống của cha ông đã, đang và sẽ ln được người dân gìn giữ và phát huy.



14



Chương 3: Lịch sử hình thành và phát triển của

nghệ thuật Đờn ca tài tử:

Vào đầu thế kỷ thứ XIX ở Nam Bộ đã có hai hình thức nghệ thuật đó là

Tuồng và Nhạc lễ. Tuồng là sân khấu diễn tích, âm nhạc lấy trống, kèn làm

nòng cốt, Nhạc lễ là ban nhạc chơi nhạc phục vụ hành lễ tín ngưỡng, lấy nhạc

cụ dây kéo và bộ gõ làm nòng cốt. Từ nhu cầu chơi nhạc, các nhạc công hoạt

động trong hai hình thức nghệ thuật này, cùng với những người yêu nhạc dựa

vào âm nhạc của hai hình thức nghệ thuật trên để sáng tạo ra phong trào “đờn

cây” (tức hòa đờn khơng có bộ gõ) để thoả mãn nhu cầu chơi nhạc trong

những lúc nông nhàn, trong những ngày rảnh rỗi. Phong trào đờn cây nhanh

chóng lan tỏa khắp các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Bộ.

Đến cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, nhiều quan viên phụ trách các

ban nhạc triều đình nhà Nguyễn vào Nam theo phong trào Cần vương. Họ là

những người sớm biết kết hợp âm hưởng nhạc Nam Bộ với nhạc Huế để sáng

tác ra những bản nhạc Tài tử và mở các lớp dạy đờn khắp khắp hai miền

Đông, Tây Nam Bộ. Một số nhạc sư tiêu biểu thời bấy giờ là nhạc sư:

Nguyễn Quang Đại (tức Ba Đợi) (1880) ở Long An, nhạc sư Trần Quang

Diệm (1853 -1927) ở Mỹ Tho, là nội tổ của GS. Trần Văn Khê. Lê Bình An

(1862-1924) là cha của nhạc sư Lê Tài Khị (Hậu Tổ Nhạc Khị) ở Bạc Liêu,

Kinh lịch Trần Quang Quờn ở Vĩnh Long … Các Ơng đã có nhiều năm

nghiên cứu, chỉnh sửa các bản đờn cổ, sáng tác các bản mới, rồi “tập hợp

thống nhất được những ban, nhóm đờn ca của hai vùng Đơng-Tây Nam Bộ,

dựng nên dòng nhạc Tài tử”. là những người có cơng sáng tác bài bản, truyền

dạy đờn ca tài tử khắp Nam Bộ. Như vậy, từ phong trào đờn cây nhờ có các

nhạc sư từ kinh đơ Huế vào đã tạo ra sự biến đổi về chất để âm nhạc đờn cây

trở thành hình thức âm nhạc cổ truyền mới: Đờn ca tài tử.

Để chơi đờn ca tài tử, người ta phải theo học các nhạc sư một thời gian

rất dài, thường phải mất hai đến ba năm mới thông thạo các bản đờn, các kỹ



15



thuật chơi đờn như: rung, nhấn rung, nhấn mổ, nhấn mượn hơi, mổ đơn, mổ

kép, mổ kềm dây; các cách đổ hột, rung cung của đờn dây cung kéo; các cách

chầy, hưởng, mổ bấm, bịt, day, chớp, búng, phi, rải của đờn tỳ bà. Nhờ vào

các ngón kỹ thuật này, người chơi mới chơi được các điệu và hơi trong bài

nhạc tài tử.

Đến nay, bài bản tài tử đã lên tới vài trăm bản. Trong vài trăm bản đó,

giới nhà nghề nhạc tài tử đã gút lại được 20 bản nhạc tiêu biểu đại diện cho

các làn hơi, Bắc, Hạ, Nam, Oán (Gồm hai thang âm: thang âm bắc và thang

âm nam) và được gọi là 20 bản tổ, như sau: trong làn hơi Bắc (thang âm

bắc)có các bài :Lưu Thủy, Phú lục, Bình Bán , Cổ bản, Xuân tình , Tây Thi.

Trong làn hơi hạ (Thang âm Bắc) có các bài: Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ

đối hạ, Long Đăng, Long Ngâm, Vạn giá, Tiểu khúc, trong làn hơi nam (thang

âm nam) có các bài: Nam Xuân, Nam ai, Đảo ngũ cung, trong làn hơi ốn

(thang âm nam) có các bài:Tứ đại ốn, Phụng hồng, Giang Nam, Phụng cầu.

Khi chơi 20 bản tổ cũng như chơi những bản đờn tài tử khác, người chơi

được phép ngẫu hứng sáng tạo, để sáng tác ngay khi trình diễn những nét giai

điệu mới mẻ trên cơ sở nhịp, câu, lớp, điệu (giọng), hơi, đã được quy định bởi

lòng bản.

Tất cả các nhạc sĩ chơi nhạc tài tử phải thuộc thấu đáo lòng bản của từng

bản nhạc tài tử. Có vậy khi hòa đờn họ mới nhanh chóng thốt khỏi sự ràng

buộc của lòng bản để ngẩu hứng trong “sáng tác” các câu đờn, chữ đờn mà

vẫn bảo đảm sự tồn vẹn bản hòa tấu nhạc tài tử.

Dàn nhạc hòa tấu nhạc tài tử truyền thống thường có có nhạc cụ: đờn

kìm, đờn tranh, đờn tỳ bà, đờn cò, đờn bầu, ống tiêu và song loan. Khoảng

nửa cuối thế kỷ XX có thêm hai nhạc cụ phương Tây là guitare và violon

tham gia vào dàn nhạc tài tử. Để hai nhạc cụ này tương thích với nhạc đàn tài

tử người ta đã cải tiến bằng cách khoét phím đàn guitare lõm xuống, gọi là

guitare phím lõm và thay đổi cách lên dây của cả hai cây đờn.



16



Trên cơ sở các bản nhạc tài tử, người ta viết lời ca để các ca sĩ hát. Lời ca

ra đời đã nhanh chóng trở thành cơng cụ đắc lực phát huy giá trị nghệ thuật và

chức năng giáo dục của Đờn ca Tài tử đối với công chúng - một công chúng

dân ca vốn có truyền thống tiếp nhận nội dung âm nhạc thông qua lời hát.

Không bao lâu sau, các ca sĩ trình diễn nhạc tài tử có lời đã thay đổi lối

ngồi ca (ca “salon”) bằng cách ca có diễn điệu bộ gọi là “Ca ra bộ”. Ban nhạc

tài tử biểu diễn Ca ra bộ được biết đến sớm nhất là ban nhạc tài tử ở Mỹ Tho

của ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) với cô Ba Đắc, người ca sĩ diễn ba vai

Bùi Kiệm, Bùi Ông và Kiều Nguyệt Nga trong bài ca Tứ đại oán tại hội chợ

đấu xảo ở Paris vào năm 1910. Ca ra bộ ra đời là tiền đề cho việc hình thành

sân khấu Cải lương Nam Bộ. Đến năm 1917, vở diễn Lục Vân Tiên của soạn

giả Trương Duy Toản được trình diễn ở Sa đéc. Nhiều người coi đây là vở Cải

lương đầu tiên. Vở Cải lương đã đánh dấu sự ra đời loại hình sân khấu truyền

thống thứ ba của Việt Nam sau sân khấu Tuồng và sân khấu Chèo. Nhờ vào

biểu mục nhạc tài tử phong phú, nhờ vào những giọng ca tài tử điêu luyện,

sân khấu Cải lương đã nhanh chóng phát triển và trở thành sân khấu ăn khách

nhất trong các loại hình nghệ thuật biểu diễn ở Nam Bộ suốt thế kỷ XX.

Ngược lại, sân khấu Cải lương cũng là tác nhân tích cực làm cho nhạc tài tử

lan tỏa tới mọi lớp người từ thành thị đến nơng thơn Nam Bộ.

Nói đến sân khấu Cải lương, khơng thể khơng nhắc tới một bản nhạc có

tính chất sự kiện, đó là bản Vọng cổ. Tiền thân bản Vọng cổ là bản “Dạ cổ

hoài lang” do nhạc sĩ Sáu Lầu (Cao Văn Lầu) sang tác năm 1919 ở Bạc Liêu.

Hơn một năm, từ sân chơi Đờn ca tài tử, bản Dạ cổ hoài lang bước lên sân

khấu Cải lương. Kể từ đấy, nhờ vào những sáng tạo của nhiều danh ca, danh

cầm, khắp Nam Bộ. Đặc biệt là người Bạc Liêu như các nghệ sỉ Lư Hòa

Nghĩa, Nghệ sỉ Bảy cao, Nhạc sỉ Trần Tấn Hưng… bản Dạ cổ hồi lang đã

dần lột xác từ nhịp đơi đến nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, nghịp 32 nhịp 64. cho đến

khi các danh ca , danh cầm xác định điểm thăng hoa của bài vọng cổ là đến

nhịp 32. một điểm đến vừa đủ để bản vọng cổ tỏa sáng và phát huy hết công

suất vừa đủ để các tác giả cổ nhạc gởi gấm lòng mình vào 6 câu vọng cổ.

17



Vọng cổ ra đời là một sự kiện âm nhạc lớn làm thay đổi diện mạo âm

nhạc của sân khấu cải lương. Dần dà, bản Vọng cổ cũng được giới chơi nhạc

tài tử yêu mến và trở thành bản nhạc không thể thiếu trong mỗi cuộc đờn ca

tài tử. Đến đầu thập niên 70 của thế kỷ XX các tác giả lồng ghép bản vọng cổ

vào tân nhạc và tạo nên mối lương duyên giửa Tân và cổ nhạc mà ta thường

gọi là Tân cổ giao duyên nghỉa là: trong bản vọng cổ từ 6 câu nhịp 32, tác giả

rút lại còn 4 câu 1-2 và 5-6 thêm vào đó 1 đoạn tân nhạc trước sau đó ca 2 câu

vọng cổ 1-2 kế tiếp 1 đoạn nhạc và ca 5 -6. củng có bài tác giả đưa 1 đoạn

nhạc vào hẳn 1 câu vọng cổ, thay gì mổi câu vọng cổ có 32 nhịp thì người ta

giành 16 nhịp để ca nhạc và 16 nhịp ca trở về vọng cổ. Tân cổ giao duyên ra

đời làm cho bản vọng cổ thêm mền mại tạo một luồng sinh khí mới trong bài

vọng cỏ.

Trong giới đờn ca tài tử, những người chơi phải thuộc làu lòng bản các

bản đàn. Khi chơi, họ được phép tự do sáng tạo ngẫu hứng thêm bớt các âm,

biến hóa tiết tấu, thay đổi cường độ, tạo chỗ ngưng nghỉ để cho ra một bè đàn

có tính cách rêng, kỹ thuật riêng của người nhạc sĩ chơi Đờn ca tài tử. Và cứ

như vậy, nếu có 4 người hòa tấu 4 nhạc cụ khác nhau trên cùng một lòng bản

họ sẽ cho ra 4 giai điệu có tánh cách khác nhau nhưng lại hợp thành “một tác

phẩm hồn hảo”. Lối hòa đàn của Đờn ca tài tử được các nhà nghiên cứu âm

nhạc Việt Nam gọi là lối “hòa tấu biến hóa lòng bản”. PGS-Nhạc sĩ Hồng

Đạm cho rằng “ “Biến hóa lòng bản” là một trong nhiều cách viết âm nhạc

khác nhau, mà từ lâu danh từ âm nhạc thế giới đã gọi là hétérophonie (hétéro

là dị dạng, biến hóa khác nhau; phonie là âm điệu, giai điệu)… Trung Quốc

gọi cách viết này là “chi thanh” hoặc “phức điệu chi thanh”.

Trước khi vào bản đờn chính, người chơi đờn tài tử phải chơi câu rao.

Câu rao là câu nhạc khởi đầu, rất ngẫu hứng của người chơi đờn. Câu Rao

khơng có nhịp phách cố định, khơng có lòng bản như bản đờn, người chơi câu

rao dựa trên cơ sở điệu và hơi của nhạc tài tử mà sáng tác. Câu rao “chẳng

những tạo một bầu khơng khí phù hợp với bản đờn, vui tươi cho bản Bắc,

nghiêm trang cho bản Nhạc, êm ả cho bản Xuân, buồn dịu cho bản Ai, mà còn

là một dịp để nhạc công thử dây đờn như người chơi kỵ mã thử ngựa, và lúc

18



đó người nhạc cơng có thể phơ tài của mình hay tùy hứng sáng tác những

khúc mới lạ”.

Trước kia những người chơi Đờn ca tài tử là những nhạc sĩ tài tử, họ

không sống bằng nghề đàn hát. Họ chơi đờn một mình hoặc hòa đờn với nhau

chỉ nhằm mục đích tiêu khiển khi nhàn rỗi. Khi chơi họ phải chọn những

người bạn tri âm, tri kỷ, hiểu nhau từ cuộc sống đến nghệ thuật; hiểu nhau từ

ngón đờn, chữ đờn đến tài năng nghệ thuật. Bởi với họ, lối chơi nhạc tài tử là

đánh lên những âm thanh từ “tâm thức” để tạo ra một bản nhạc của “tâm thế”.

Vì vậy chơi nhạc tài tử chính là chơi “tâm tấu”, chơi nhạc bằng cả lòng mình.

Để có được điều đó, việc chọn bạn đờn và nơi để chơi đờn là điều vô cùng

quan trọng.

Về sau, khi phong trào chơi Đờn ca tài tử lan rộng, quần chúng có nhu

cầu thưởng thức, nhiều nhạc sĩ bậc thầy đã đứng ra thành lập các “ban nhạc

tài tử” để đi trình diễn các nơi. “Ban nhạc tài tử” ra đời đã tạo ra lối chơi nhạc

tài tử khác với lối chơi tiêu khiển trước đấy. Đó là lối biểu diễn nhạc tài tử

trên bục diễn trước khán giả. Người ta còn biết “Vào năm 1915 Nguyễn Tống

Triều và ban nhạc tài tử ở Mỹ Tho lên trình diễn ở nhà hàng Cửu Long Giang

bên cạnh chợ Sài Gòn. Đây là lần đầu tiên nhạc tài tử lên sân khấu chuyên

nghiệp ở Sài Gòn”.

Song song với việc thành lập các ban nhạc tài tử, sân khấu Cải lương ra

đời đã sản sinh ra nhiều nhạc sư, nhiều danh cầm chơi nhạc tài tử lừng danh.

Họ là những người hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp, họ luôn luôn phải

khổ luyện, phải sáng tạo, phải làm mới ngón đờn, chữ đờn của mình trong

từng đêm diễn. Sự khổ luyện, sự sáng tạo nghệ thuật ấy đã biến họ thành

những người điêu luyện trong trình diễn và nhạy bén trong sáng tạo các ngón

đờn, chữ đờn mới, bổ sung, làm phong phú nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ.



19



Chương 4: Toàn cảnh sống động của

Đờn ca tài tử Nam Bộ - Việt Nam

1. Chân dung và “chủ nhân” của Đờn ca tài tử

1.1.Chân dung của Đờn ca tài tử

Đờn ca tài tử vừa bình dân, vừa bác học, ra đời ở miền Nam Việt Nam

vào cuối thế kỷ XIX, được sáng tạo trên cơ sở nhạc lễ, nhạc cung đình, nhạc

dân gian miền Trung và miền Nam. Đờn ca tài tử được sáng tạo khơng ngừng

nhờ tính “ngẫu hứng”, “biến hóa lòng bản” theo cảm xúc trên cơ sở 20 bài

gốc (bài tổ) và 72 bài nhạc cổ.

Đờn ca tài tử thực hành theo nhóm, câu lạc bộ (CLB) và gia đình. Người

chơi Đờn ca tài tử say mê hát, biểu đạt tâm tư, tình cảm và đờn “ngẫu hứng”

âm trang sức, sắc thái, nhịp điệu luôn được biến đổi mà vẫn đảm bảo tính

thống nhất khi cả nhóm hợp vào âm, nhịp chính ở giữa hay cuối câu nhạc.

Đờn ca tài tử được thực hành ở lễ hội, ngày giỗ, cưới, sinh nhật, họp mặt.

Khán giả có thể cùng tham gia thực hành, bình luận và sáng tạo. Người miền

Nam coi Đờn ca tài tử là sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu và di sản

quý giá của chính họ. Lễ giỗ Tổ được duy trì hàng năm vào ngày 12/8 âm

lịch.

Theo kết quả kiểm kê năm 2011, Việt Nam có hơn 29.000 người đang

thực hành nghệ thuật Đờn ca tài tử ở 21 tỉnh, thành miền Nam, gồm: An

Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bến Tre, Bình Dương, Bình Phước,

Bình Thuận, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Nai, Đồng Tháp, Hậu Giang, TP. HCM,

Kiên Giang, Long An, Ninh Thuận, Sóc Trăng, Tây Ninh, Tiền Giang, Trà

Vinh, Vĩnh Long. Trong đó, những tỉnh, thành có nhiều người thực hành là

Bạc Liêu, Bình Dương, TP. HCM, Tiền Giang.

Nghệ thuật Đờn ca tài tử chịu ảnh hưởng giao thoa với một số loại hình

di sản văn hóa khác ở miền Trung, miền Nam như nhạc lễ, hát bội, dân ca và

được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2012.

20



1.2.“Chủ nhân” của Đờn ca tài tử

“Chủ nhân” của nghệ thuật Đờn ca tài tử là những người thuộc nhiều

thành phần xã hội khác nhau như nơng dân, ngư dân, cơng nhân, trí thức…,

họ thực hành theo nhóm, CLB và gia đình.

Người chủ nhân trực tiếp nắm giữ, thực hành và có trách nhiệm lưu

truyền di sản được đề cập bao gồm người dạy đờn (thầy đờn) là người có kỹ

năng, kỹ thuật đờn giỏi, thông thạo những bài bản cổ, dạy chơi các nhạc cụ;

người đặt lời (thầy tuồng) là người nắm giữ tri thức và kinh nghiệm, sáng tạo

những bài bản mới; người dạy ca (thầy ca) là người nắm giữ tri thức, thơng

thạo những bài bản cổ, có kỹ thuật ca điêu luyện, dạy cách ca ngâm, ngân,

luyến; người đờn (danh cầm) là người chơi nhạc cụ và người ca (danh ca) là

người thể hiện các bài bản bằng lời.

Những nghệ nhân nổi tiếng được liệt kê trong hồ sơ khoa học này là các

nghệ nhân Vĩnh Bảo (96 tuổi), Bạch Huệ (78 tuổi) ở TP. HCM, Tám Kỳ (68

tuổi) ở tỉnh Long An, Thanh Hiền (70 tuổi) ở tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Thiện

Vũ (34 tuổi) ở tỉnh An Giang…

Ông Nguyễn Quang Đại, ơng Lê Tài Khí (Nhạc Khị) được coi là hậu tổ những bậc thầy nổi tiếng, sau khi mất được cộng đồng tôn vinh, lập đền thờ.

Đầu thế kỷ XX, tại Bạc Liêu, ông Cao Văn Lầu (Sáu Lầu) đã sáng tác bản Dạ

cổ hoài lang (vọng cổ) - bài hát nổi tiếng và phổ biến nhất của Đờn ca tài tử,

được cộng đồng tiếp nhận, phát triển từ nhịp 2 đến các nhịp 4, 16, 32 đến 64…

2. Đờn ca tài tử - loại hình sinh hoạt gắn kết cộng đồng

Đờn ca tài tử là loại hình sinh hoạt văn hóa gắn kết cộng đồng bằng nghệ

thuật, thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, trở thành cầu nối

cho sự giao tiếp của các cộng đồng, nhóm người và cá nhân; tạo nên sự hài

hòa, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững; đó là đờn ca tài tử Nam bộ Việt Nam



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sức sống lan tỏa mãnh liệt của Đờn ca tài tử

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×