Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2: Vài nét về nghệ thuật Đờn ca tài tử:

Chương 2: Vài nét về nghệ thuật Đờn ca tài tử:

Tải bản đầy đủ - 0trang

2. Trình diễn nghệ thuật Đờn ca tài tử:

Ban nhạc tường dùng năm nhạc cụ, thường gọi là ban ngũ tuyệt gồm đàn

tranh, đàn tỳ bà, đàn kìm, đàn cò, và đàn tam. Phụ họa thêm là

tiếng sáo thường là sáo bảy lỗ.

Về trang phục, những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè,

chòm xóm với nhau nên thường chỉ mặc các loại thường phục khi tham gia

trình diễn. Khi nào diễn ở đình, miếu hoặc trên sân khấu họ mới mặc các

trang phục biểu diễn.

Những năm gần đây nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch nên các

nhóm nhạc tài tử hợp lại với nhau thành các câu lạc bộ đờn ca tài tử mang tính

bán chuyên nghiệp. Bên cạnh nghề nghiệp chính, họ phục vụ văn nghệ khi có

yêu cầu.

Một số người nói rằng từ "tài tử" có nghĩa là nghiệp dư. Trong thực tế, từ

này có nghĩa là tài năng và ngụ ý rằng những người này không dùng nghệ

thuật để kiếm kế sinh nhai,mà chỉ để cho vui hoặc những lúc ngẫu hứng. Tuy

nhiên, điều này khơng có nghĩa là họ không phải là chuyên gia. Ngược lại, để

trở thành một nghệ sĩ trong ý nghĩa xác thực nhất của từ này, họ phải thực

hành trong một thời gian dài.

Đối với hình thức âm nhạc, vai trò của các ca sĩ và nhạc sĩ đều bình

đẳng. Ca trù hát và người ca (bài hát truyền thống từ miền Bắc và miền

Trung) là phụ nữ, trong khi đờn ca tài tử bao gồm các ca sĩ nam nữ và họ có

vai trò bình đẳng.

Đờn ca tài tử sử dụng dụng cụ như đàn cò, đàn nguyệt, đàn tranh, song

lan (nhạc cụ bằng gỗ để gõ nhịp) hoặc cả Ghita lõm.

Loại hình âm nhạc không chỉ ở các lễ hội và các bên mà còn trong thời

gian sau thu hoạch. Ngồi ra, nó có thể được chơi trong bóng mát của cây, con

thuyền hoặc trong đêm trăng sáng...



8



3. Cách biểu diễn, nghệ thuật biểu diễn Đờn ca tài tử

Bởi là một dòng nhạc có xuất phát từ cung đình do đó cách biểu diễn đờn

ca tài tử khá đặc biệt và đòi hỏi người nghệ sĩ phải có tài năng, trình độ thực sự.

Tại Việt Nam có 3 loại hình nghệ thuật có xuất xứ từ nhạc cung đình đó là Nhã

nhạc Huế, Ca trù và Đờn ca tài tử. Nhưng khác với 2 loại hình Nhã nhạc và Ca

trù người hát chính thường là nữ, trong nghệ thuật đờn ca thì nam và nữ có vai

trò bình đẳng, người đàn và người hát có vị trí tương đương nhau.

Dàn nhạc của đờn ca tài tử có nhiều nhạc cụ hơn dàn nhạc của Ca trù và

ca Huế. Trước đây, dàn nhạc đờn ca tài tử sử dụng các loại nhạc cụ gồm đàn

kim, đàn cò, đàn tranh song lang, ống tiêu. Khoảng từ năm 1920, lục huyền

cầm ( đàn ghi ta ), hạ uy cầm và violon cũng được thêm vào trong dàn nhạc.

Cũng bởi lý do xuất phát từ cung đình do đó đờn ca xưa kia chủ yếu

được biểu diễn trong các tư gia hoặc phục vụ 1 số ít khán giả. Tuy nhiên theo

thời gian và sức hấp dẫn của dòng nhạc này mà ngày nay đờn ca đã được sân

khấu hóa để biểu diễn phục vụ cơng chúng.

Khi biểu diễn nhạc tài tử, các nghệ sĩ thường chú trọng đến sự kết hợp

của nhạc cụ có âm sắc khác nhau, ít thấy có sự kết hợp giữa các nhạc cụ cùng

âm sắc. Thường thấy nhất là song tấu đàn kim và đàn tranh, là sự kết hợp giữa

tiếng tơ và tiếng sắt, mà theo các chuyên gia thì được gọi là sắt cầm hảo hiệp.

Cũng có khi là tam tấu đàn kim – tranh – cò, kim – tranh – độc huyền, tranh –

cò – độc huyền mà giới chuyên gia gọi là tam chi liên hoàn pháp. Nếu một

ban nhạc tài tử có 3 nhạc cơng và 1 ca sĩ thì được gọi là ban tứ tuyệt, nếu có 4

nhạc cơng và 1 ca sĩ thì được gọi là ban ngũ nguyệt.

Vì đờn ca tài tử đặc biệt ở chỗ thường được biểu diễn ngẫu hứng, dựa

trên bản nhạc gốc truyền thống, người hát cải biên đi theo cách riêng của

mình. Sự khác biệt này khiến cho người nghe luôn cảm thấy mới lạ dù nghe

cùng một bài..

Phần hay nhất trong tài tử là ở phần rao của người đàn và nói lối của

người ca. Người đàn dùng rao - người ca dùng lối nói – để lên dây đàn và gợi

9



cảm hứng cho bạn diễn, tạo khơng khí cho dàn tấu. Ngồi ra khi trình diễn các

nghệ sĩ có thể dùng tiếng đàn của mình để “ đối đáp” hoặc “thách thức” với

người đồng diễn. Đây cũng là điểm tạo sự mới lạ, hấp dẫn, cuốn hút của loại

hình nghệ thuật dân tộc này.

4. Đặc điểm của nghệ thuật Đờn ca tài tử

Các bài bản của Đờn ca tài tử được sáng tạo dựa trên cơ sở nhạc Lễ,

nhạc Cung đình, nhạc dân gian miền Trung và Nam. Các bài bản này được cải

biên liên tục từ 72 bài nhạc cổ và đặc biệt là từ 20 bài gốc (bài Tổ) cho 4 điệu

(hơi), gồm: 06 bài Bắc (diễn tả sự vui tươi, phóng khống), 07 bài Hạ (dùng

trong tế lễ, có tính trang nghiêm), 03 bài Nam (diễn tả sự an nhàn, thanh

thoát) và 04 bài Oán (diễn tả cảnh đau buồn, chia ly).

Nhạc cụ được sử dụng trong Đờn ca tài tử gồm: đàn kìm, đàn tranh, đàn

cò, đàn tỳ bà, đàn tam (hoặc đàn sến, đàn độc huyền), sáo, tiêu, song loan...

Từ khoảng năm 1930 có thêm đàn ghita phím lõm, violon, ghita Hawaii

(đàn hạ uy cầm).

Người thực hành Đờn ca tài tử gồm: người dạy đàn (thầy Đờn) có kỹ

thuật đàn giỏi, thông thạo những bài bản cổ, dạy cách chơi các nhạc cụ; người

đặt lời (thầy Tuồng) nắm giữ tri thức và kinh nghiệm, sáng tạo những bài bản

mới; người dạy ca (thầy Ca) thơng thạo những bài bản cổ, có kỹ thuật ca điêu

luyện, dạy cách ca ngâm, ngân, luyến,...; người đờn (Danh cầm) là người chơi

nhạc cụ và người ca (Danh ca) là người thể hiện các bài bản bằng lời.

Đờn ca tài tử được thực hành theo nhóm, câu lạc bộ và gia đình, ít khi

nhạc cơng độc tấu, mà thường song tấu, tam tấu, hòa tấu. Dàn nhạc thường

cùng ngồi trên một bộ ván hoặc chiếu để biểu diễn với phong cách thảnh thơi,

lãng đãng, dựa trên khung bài bản cố định gọi là “lòng bản”. Khán giả có thể

cùng tham gia thực hành, bình luận và sáng tạo.

Đờn ca tài tử được truyền dạy theo hai hình thức: truyền ngón, truyền

khẩu trực tiếp tại nhà, câu lạc bộ, gia đình, dòng họ; truyền ngón, truyền khẩu

kết hợp với giáo án, bài giảng tại một số trường văn hóa nghệ thuật địa phương

10



và quốc gia. Người học đàn cần ít nhất 3 năm để học những kỹ năng cơ bản

như: rao, rung, nhấn, khảy, búng, phi, vê, láy, day, chớp, chụp…; học chơi độc

chiếc, tam tấu, tứ tấu, ngũ tấu, lục tấu với các nhạc cụ khác nhau.Người học ca

(đơn ca, song ca) học những bài truyền thống, trên cơ sở đó sáng tạo cách nhấn

nhá, luyến láy tinh tế theo nhạc điệu và lời ca của bài gốc.

Người miền Nam coi Đờn ca tài tử là sinh hoạt văn hóa tinh thần khơng

thể thiếu trong các dịp lễ hội, tết, giỗ, cưới, sinh nhật, họp mặt,… Lễ giỗ Tổ

được tổ chức vào ngày 12/8 âm lịch hàng năm.

5. Đặc trưng của Đờn ca tài tử: Tính ngẫu hứng, tự nhiên của Đờn

ca tài tử

Đờn ca tài tử là nghệ thuật duy nhất không phụ thuộc vào khơng gian

văn hóa, hoặc các khơng gian trình diễn theo mùa vụ, cứ hứng lên thì chơi,

gặp nhau thì chơi và hội hè, ma chay, cưới hỏi cũng đều chơi. Đó là một lối

hòa đàn trác tuyệt mà ở đấy tính ngẫu hứng được đặt lên trên hết. Tính ngẫu

hứng ấy, thú vị ở chỗ mỗi lần đánh một bản đàn thì hầu như đó là những

cuộc đối thoại bằng âm thanh. Có lẽ đây là một trong những nghệ thuật ngẫu

hứng gần như duy nhất ở nước ta. Chính cách thể hiện tự nhiên, bình dị và

hết sức ngẫu hứng tạo thành cốt cách riêng có của loại hình nghệ thuật này.

Mất tính ngẫu hứng sẽ làm cho Đờn ca tài tử trở nên nhạt nhẽo .

Theo GS.TS Trần Văn Khê, người ta nói chơi Đờn ca tài tử chứ khơng

nói biểu diễn Đờn ca tài tử. Nó là một nghệ thuật tức hứng, chơi khơng có

tính trước, khơng ai nói trước với ai, khi những người có cùng sở thích ngồi

lại với nhau cùng chơi, cùng tức hứng tại chỗ thì họ bắt đầu thả hồn, hòa

nhịp vào tiếng đàn, lời ca đầy phấn khích. Họ khơng câu nệ trang phục, lễ

nghi, có gì dùng nấy. Thế mới là Đờn ca tài tử! Trên thực tế ở vùng sơng

nước miền Tây đã và đang xuất hiện nhiều nhóm Đờn ca tài tử, câu lạc bộ

Đờn ca tài tử… Các nghệ sĩ ăn mặc chỉnh tề, đờn có bài bản chính xác, hát

đúng nhịp, đúng hơi. Chính cái khn phép, gò bó ấy đã khiến nghệ sĩ chỉ

dám biểu diễn những bài “tủ” mà không dám ngẫu hứng, không dám thả hồn

11



vào từng giai điệu của lời ca, tiếng hát, cho nên Đờn ca tài tử bị lạc điệu, xa

dần nguyên gốc và trở nên khách sáo. Nghệ sĩ nhân dân (NSND), soạn giả

Viễn Châu phàn nàn:

- Nhiều nghệ sĩ chơi Đờn ca tài tử hiện nay trên khuôn mặt buồn rười

rượi, vô hồn, vô cảm! Dường như họ khơng có cái gốc tự nhiên, mộc mạc,

hát cho vui như của Đờn ca tài tử ngày xưa mà đã thành một thứ nghề kiếm

sống. Điều này làm cho cái hồn của nghệ thuật Đờn ca tài tử bị đánh mất.

Mà đánh mất cái linh hồn, cái ngẫu hứng, cái bình dị, chân chất trong Đờn

ca tài tử là đánh mất giá trị nguyên gốc đích thực, rất đáng lo ngại, bởi khi

thiếu những đặc điểm này thì nghệ thuật Đờn ca tài tử khó lòng được truyền

bá rộng rãi.

Tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, từ lâu Đờn ca tài tử đã trở nên

quen thuộc, nhà nhà đều biết chơi, người người đều biết hát. Nó trở thành

món ăn tinh thần hết sức bình dị của bà con miền sông nước. Vào những

đêm trăng sau mùa gặt, trên chiếc chiếu trước sân nhà, bà con vui mừng vụ

mùa bội thu đã nhóm lại chơi Đờn ca tài tử thâu đêm suốt sáng. Điều đó

chứng tỏ sức sống mạnh mẽ của loại hình cổ nhạc độc đáo vừa mang tính

bình dân, vừa mang tính bác học này. Người dân Nam Bộ không chỉ là chủ

thể sáng tạo, biểu diễn, mà còn là đối tượng thưởng thức Đờn ca tài tử. Tuy

nhiên, trên thực tế, khi những câu lạc bộ Đờn ca tài tử chuyên nghiệp ra đời

đã kéo theo sự chỉn chu, khuôn sáo vào nghệ thuật Đờn ca tài tử. Điều này

vừa có tác dụng tích cực lại vừa tiềm ẩn những tiêu cực. NSND Ngọc Giàu

bộc bạch:

- Đi theo con đường chuyên nghiệp, mỗi nghệ sĩ phải cố gắng tìm hiểu

để hồn thiện bản thân, nắm bắt quy luật âm điệu của Đờn ca tài tử. Một bản

nhạc có thể chơi hàng nghìn lần mà khơng lần nào giống lần nào. Sự chuyên

nghiệp sẽ nâng tầm hiện đại của Đờn ca tài tử nhưng nhất thiết phải đề cao

tính ngẫu hứng, nếu khơng nó sẽ mất cái cốt cách tự nhiên vốn có.



12



Như vậy, tính ngẫu hứng, tự nhiên chính là đặc trưng nguyên gốc làm

nên giá trị độc đáo của nghệ thuật Đờn ca tài tử được hầu hết các nhà nghiên

cứu, các soạn giả, nghệ sĩ nổi tiếng thừa nhận.

6. Giá trị của Đờn ca tài tử

Có lịch sử khá lâu đời và được bắt nguồn từ truyền thống văn hóa đa

dạng của miền Trung và miền Nam Việt Nam, Đờn ca tài tử luôn khẳng định

rõ vai trò khơng thể thiếu của mình trong đời sống xã hội người Việt, được

cộng đồng cư dân ở vùng miệt vườn, sông nước Nam bộ tự nguyện chấp

nhận, tự do tham gia thực hành, sáng tạo, góp phần tạo nên sự đa dạng của

văn hóa Việt Nam.

Đờn ca tài tử luôn được bổ sung, làm mới bằng cách kế thừa, kết hợp giá

trị âm nhạc Cung đình, dân gian; đồng thời giao lưu, tiếp biến các yếu tố văn

hóa của người Khmer, Hoa và phương Tây.

Đờn ca tài tử là loại hình sinh hoạt văn hóa gắn kết cộng đồng, phản ánh

tâm tư, tình cảm và phù hợp với lối sống cần cù, phóng khống, cởi mở và

can trường của người dân Nam bộ. Thông qua việc thực hành Đờn ca tài tử,

các tập quán xã hội khác như: lễ hội, văn hóa truyền khẩu, nghề thủ công,…

cũng được bảo tồn và phát huy.

7. Sức sống lan tỏa mãnh liệt của Đờn ca tài tử

Theo một số nhà nghiên cứu như GS. TSKH Tô Ngọc Thanh, nhạc sĩ

Đặng Hoành Loan, nhà nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền đều có chung

nhận định, Đờn ca tài tử hơn trăm năm qua đã được người dân yêu mến. Vì

yêu mến loại hình nghệ thuật này, nên cho đến nay, dù chưa nhận được nhiều

cơ chế, chính sách từ các cấp quản lý văn hóa, nhưng Đờn ca tài tử vẫn luôn

được người dân bảo tồn và phát huy tốt.

Nhạc sĩ Đặng Hồnh Loan cũng cho biết, trong q trình điều tra điền

dã, nhóm lập hồ sơ đã phát hiện và phân loại được 24 CLB và 4 dàn nhạc chơi

Đờn ca tài tử xuất sắc, trong đó dàn nhạc tài tử của Tòa thánh Cao Đài (Tây

Ninh) là chơi chuẩn nhất. Đặc biệt hơn, các nhà sưu tầm tìm được 8 tập tài

liệu của 8 danh cầm và tìm được bài Ngũ châu, bài Tứ bửu bằng chữ nhạc cổ



13



truyền. Đó là những tư liệu quý giá của Đờn ca tài tử góp vào những hạng

mục quan trọng của việc lập hồ sơ.

Ban đầu, việc lập hồ sơ Đờn ca tài tử khiến nhiều nhà nghiên cứu e ngại,

bởi nó là loại hình “âm nhạc cổ truyền muộn”, lan rộng ở nhiều địa phương,

nên khá nhiều ý kiến trái chiều, rằng lối chơi Đờn ca tài tử chỉ là ngẫu hứng,

khơng chun nghiệp. Nhưng qua q trình nghiên cứu, lý giải khoa học, “tài

tử” có nghĩa là người có tài; chữ “tài tử” còn hàm chỉ việc khơng dùng nghệ

thuật của mình làm kế sinh nhai.

GS Trần Văn Khê cho hay, nhạc tài tử chơi ngẫu hứng, nhưng phải ghi

nhớ trong đầu để chơi. Ví dụ như “xàng” trong Đờn ca tài tử không dùng ký

âm của phương Tây để diễn tả được, không ký âm được, mỗi lần chơi đều

khác nhau, nếu ký âm thì cũng chỉ ghi lại một giai đoạn thơi. Khơng thể nhìn

vào ký âm để chơi, vì Đờn ca tài tử từ tĩnh sang động… Tuy chỉ có khoảng 20

“bản tổ” - bản do các bậc thầy sáng tạo, có niêm luật chặt chẽ, nhưng trong

mỗi câu, nhịp điệu của Đờn ca tài tử người diễn có thể thêm thắt các âm, thoải

mái sáng tạo… “Nói một cách nào đó, Đờn ca tài tử là một loại hình âm nhạc

cần “tri thức thưởng thức”, người chơi phải thả hồn vào từng âm giai, người

nghe phải hiểu tiếng lòng của ngón đờn. Càng nghe càng hiểu thì thấy càng

hay và say mê là như thế. Nghe để buồn, để vui với một loại hình âm nhạc

dân gian độc đáo này đã gắn kết với những thân phận đi mở cõi” - GS Trần

Văn Khê khẳng định.

Theo ơng Lê Tồn, Viện trưởng Viện Âm nhạc Việt Nam, từ năm 1997,

khởi nguồn từ liên hoan Đờn ca tài tử được Viện Âm nhạc tổ chức tại phía

Nam đã góp phần khơi thơng mạch nguồn của loại hình nghệ thuật độc đáo

này. Đến việc nghiên cứu, lập hồ sơ di sản, Đờn ca tài tử đã được thổi bùng

lên, lan rộng khắp thôn, ấp, làng, xã các tỉnh phía Nam. Liên tiếp sau đó, các

tỉnh, thành phố phía Nam đã có ý thức tổ chức các cuộc liên hoan, thành lập

các CLB Đờn ca tài tử, tạo nên “sân chơi” nghệ thuật cổ truyền rộn ràng trong

dân. Và việc Đờn ca tài tử được UNESCO vinh danh khẳng định giá trị truyền

thống của cha ông đã, đang và sẽ ln được người dân gìn giữ và phát huy.



14



Chương 3: Lịch sử hình thành và phát triển của

nghệ thuật Đờn ca tài tử:

Vào đầu thế kỷ thứ XIX ở Nam Bộ đã có hai hình thức nghệ thuật đó là

Tuồng và Nhạc lễ. Tuồng là sân khấu diễn tích, âm nhạc lấy trống, kèn làm

nòng cốt, Nhạc lễ là ban nhạc chơi nhạc phục vụ hành lễ tín ngưỡng, lấy nhạc

cụ dây kéo và bộ gõ làm nòng cốt. Từ nhu cầu chơi nhạc, các nhạc công hoạt

động trong hai hình thức nghệ thuật này, cùng với những người yêu nhạc dựa

vào âm nhạc của hai hình thức nghệ thuật trên để sáng tạo ra phong trào “đờn

cây” (tức hòa đờn khơng có bộ gõ) để thoả mãn nhu cầu chơi nhạc trong

những lúc nông nhàn, trong những ngày rảnh rỗi. Phong trào đờn cây nhanh

chóng lan tỏa khắp các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Bộ.

Đến cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, nhiều quan viên phụ trách các

ban nhạc triều đình nhà Nguyễn vào Nam theo phong trào Cần vương. Họ là

những người sớm biết kết hợp âm hưởng nhạc Nam Bộ với nhạc Huế để sáng

tác ra những bản nhạc Tài tử và mở các lớp dạy đờn khắp khắp hai miền

Đông, Tây Nam Bộ. Một số nhạc sư tiêu biểu thời bấy giờ là nhạc sư:

Nguyễn Quang Đại (tức Ba Đợi) (1880) ở Long An, nhạc sư Trần Quang

Diệm (1853 -1927) ở Mỹ Tho, là nội tổ của GS. Trần Văn Khê. Lê Bình An

(1862-1924) là cha của nhạc sư Lê Tài Khị (Hậu Tổ Nhạc Khị) ở Bạc Liêu,

Kinh lịch Trần Quang Quờn ở Vĩnh Long … Các Ơng đã có nhiều năm

nghiên cứu, chỉnh sửa các bản đờn cổ, sáng tác các bản mới, rồi “tập hợp

thống nhất được những ban, nhóm đờn ca của hai vùng Đơng-Tây Nam Bộ,

dựng nên dòng nhạc Tài tử”. là những người có cơng sáng tác bài bản, truyền

dạy đờn ca tài tử khắp Nam Bộ. Như vậy, từ phong trào đờn cây nhờ có các

nhạc sư từ kinh đơ Huế vào đã tạo ra sự biến đổi về chất để âm nhạc đờn cây

trở thành hình thức âm nhạc cổ truyền mới: Đờn ca tài tử.

Để chơi đờn ca tài tử, người ta phải theo học các nhạc sư một thời gian

rất dài, thường phải mất hai đến ba năm mới thông thạo các bản đờn, các kỹ



15



thuật chơi đờn như: rung, nhấn rung, nhấn mổ, nhấn mượn hơi, mổ đơn, mổ

kép, mổ kềm dây; các cách đổ hột, rung cung của đờn dây cung kéo; các cách

chầy, hưởng, mổ bấm, bịt, day, chớp, búng, phi, rải của đờn tỳ bà. Nhờ vào

các ngón kỹ thuật này, người chơi mới chơi được các điệu và hơi trong bài

nhạc tài tử.

Đến nay, bài bản tài tử đã lên tới vài trăm bản. Trong vài trăm bản đó,

giới nhà nghề nhạc tài tử đã gút lại được 20 bản nhạc tiêu biểu đại diện cho

các làn hơi, Bắc, Hạ, Nam, Oán (Gồm hai thang âm: thang âm bắc và thang

âm nam) và được gọi là 20 bản tổ, như sau: trong làn hơi Bắc (thang âm

bắc)có các bài :Lưu Thủy, Phú lục, Bình Bán , Cổ bản, Xuân tình , Tây Thi.

Trong làn hơi hạ (Thang âm Bắc) có các bài: Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ

đối hạ, Long Đăng, Long Ngâm, Vạn giá, Tiểu khúc, trong làn hơi nam (thang

âm nam) có các bài: Nam Xuân, Nam ai, Đảo ngũ cung, trong làn hơi ốn

(thang âm nam) có các bài:Tứ đại ốn, Phụng hồng, Giang Nam, Phụng cầu.

Khi chơi 20 bản tổ cũng như chơi những bản đờn tài tử khác, người chơi

được phép ngẫu hứng sáng tạo, để sáng tác ngay khi trình diễn những nét giai

điệu mới mẻ trên cơ sở nhịp, câu, lớp, điệu (giọng), hơi, đã được quy định bởi

lòng bản.

Tất cả các nhạc sĩ chơi nhạc tài tử phải thuộc thấu đáo lòng bản của từng

bản nhạc tài tử. Có vậy khi hòa đờn họ mới nhanh chóng thốt khỏi sự ràng

buộc của lòng bản để ngẩu hứng trong “sáng tác” các câu đờn, chữ đờn mà

vẫn bảo đảm sự tồn vẹn bản hòa tấu nhạc tài tử.

Dàn nhạc hòa tấu nhạc tài tử truyền thống thường có có nhạc cụ: đờn

kìm, đờn tranh, đờn tỳ bà, đờn cò, đờn bầu, ống tiêu và song loan. Khoảng

nửa cuối thế kỷ XX có thêm hai nhạc cụ phương Tây là guitare và violon

tham gia vào dàn nhạc tài tử. Để hai nhạc cụ này tương thích với nhạc đàn tài

tử người ta đã cải tiến bằng cách khoét phím đàn guitare lõm xuống, gọi là

guitare phím lõm và thay đổi cách lên dây của cả hai cây đờn.



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2: Vài nét về nghệ thuật Đờn ca tài tử:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×