Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vốn huy động

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vốn huy động

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



3.3.1 Nhân tố chủ quan

Nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc về chính bản thân ngân hàng. Đối với

các ngân hàng hoạt động kinh doanh trong cùng một mơi trường thì nhân tố có sức

ảnh hưởng lớn và gây tác động trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng

phải là các nhân tố nội tại về bản thân chính ngân hàng đó.

3.3.1.1 Uy tín và chiến lược kinh doanh của ngân hàng

Do sự hiểu biết của khách hàng về hoạt động ngân hàng còn nhiều hạn chế,

người có tiền thường chọn những ngân hàng nào có uy tín để gửi tiền hoặc đầu tư…

Chỉ đơn giản là họ muốn số tiền của mình được an tồn khi có rủi ro xảy ra. Bởi

một lẽ, những ngân hàng có uy tín thường là những ngân hàng có thâm niên hoạt

động tương đối lâu dài, có tiềm lực tài chính vững mạnh, hoạt động kinh doanh an

tồn và hiệu quả, có trụ sở hoạt động bề thế, kiên cố… tức là ngân hàng đó đã có

một q trình nỗ lực lớn trong vấn đề tạo dựng uy tín cho bản thân.

Đồng thời với việc nỗ lực tạo dựng uy tín với khách hàng, các NHTM cũng phải

chú ý để dự đoán thay đổi của mơi trường, từ đó xây dựng cho mình một chiến lược

kinh doanh phù hợp. Trong chiến lược kinh doanh ngân hàng phải quyết định sẽ mở

rộng hoặc thu hẹp quy mô huy động vốn, thay đổi tỷ trọng các nguồn vốn trong

tổng nguồn vốn, lãi suất huy động. Nếu chiến lược kinh doanh đúng đắn, ngân hàng

sẽ khai thác được nguồn vốn đáp ứng nhu cầu và đạt hiệu quả cao.

3.3.1.2 Chính sách lãi suất cạnh tranh

Lãi là khoản thu nhập mà khách hàng sẽ có khi cho ngân hàng sử dụng vốn của

mình, nhưng đối với ngân hàng đây lại là một phần chi phí mà ngân hàng phải bỏ ra

để được dử dụng số vốn đó. Lãi suất tiền gửi càng cao sẽ càng thu hút được nhiều

vốn hơn. Cho dù một sự khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất trong thời điểm khó

khăn như hiện nay cũng sẽ thúc đẩy những người tiết kiệm và đầu tư chuyển vốn từ

công cụ mà họ đang có sang tiết kiệm và đầu tư hoặc từ một tổ chức tiết kiệm này

sang tổ chức tiết kiệm khác. Chính vì vậy, để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh

của ngân hàng có lãi, các ngân hàng thường rất thận trọng trong việc tính tốn giữa

lãi suất huy động và cho vay bảo đảm một cách hợp lý – mức lãi suất vừa có để

cạnh tranh, vừa huy động được vốn mà vẫn không ảnh hưởng đến các hoạt động

khác của ngân hàng.



Nguyễn Thị Trang



20



Lớp: Toán Kinh tế 48



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



3.3.1.3 Chính sách khách hàng

Giờ đây khách hàng đã có nhiều cơ hội lựa chọn ngân hàng mà theo họ là thuận

tiện hơn chứ không chỉ đơn thuần là nơi cất trữ tiền tệ và kiếm lời từ lãi suất. Do đó

các ngân hàng nhận thấy cần có chiến lược khách hàng đúng đắn trong hoạt động

nói chung và trong huy động vốn nói riêng.

Trước tiên ngân hàng cần hiểu được động cơ, thói quen và những mong muốn

của người gửi tiền, thậm chí từng đối tượng khách hàng gửi tiền thơng qua phân tích

lợi ích của khách hàng. Mục đích gửi tiền của doanh nghiệp thường là nhờ ngân

hàng quản lý, hoặc nhờ chi trả trong thanh toán trong khi các cá nhân gửi tiết kiệm

có mục đích là hưởng lãi. Trong cơng tác khách hàng, NHTM thường chia khách

hàng ra làm nhiều nhóm để có cách phục vụ phù hợp. Với những khách hàng lâu

năm, giao dịch thường xuyên, có số dư tiền gửi lớn, gây được tín nhiệm với ngân

hàng thì ngân hàng sẽ có chính sách phù hợp về thời hạn và lãi suất…

3.3.1.4 Các hình thức, sản phẩm huy động vốn của ngân hàng và dịch vụ

do ngân hàng cung ứng

Đây cũng là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến hoạt động huy động

vốn của ngân hàng. Tùy theo điều kiện cụ thể của từng ngân hàng mà áp dụng các

hình thức huy động khác nhau, hoặc các ngân hàng có thể đa dạng hóa các hình

thức huy động qua việc tạo ra các sản phẩm huy động mới, cung cấp nhiều tiện ích,

đem lại sự thỏa mãn cho khách hàng hoặc một nhóm khách hàng nhằm tối đa hóa

nguồn vốn huy động. Bởi khơng phải mọi khách hàng đều có nhu cầu giống nhau và

một sản phẩm không thể đáp ứng được nhu cầu của tất cả khách hàng. Vì lẽ đó sản

phẩm huy động càng phong phú, linh hoạt bao nhiêu khách hàng càng có nhiều lựa

chọn điều này đồng nghĩa với khả năng thu hút vốn từ nền kinh tế càng lớn bao

nhiêu do được huy động từ nhiều hướng khác nhau.

Bên cạnh đó, các dịch vụ do ngân hàng cung ứng sẽ đem lại cho khách hàng

những lợi ích nhất định, thỏa mãn được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng và

vì thế ngân hàng sẽ thu hút được một lượng lớn khách hàng đến với mình nếu ngân

hàng đó cung cấp được cho khách hàng nhiều dịch vụ tiện ích.

3.3.1.5 Một số nhân tố chủ quan khác



Nguyễn Thị Trang



21



Lớp: Toán Kinh tế 48



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Bên cạnh những nhân tố đã nêu trên, một số những nhân tố chủ quan khác cũng

có ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn của ngân hàng như: Cơng nghệ của ngân

hàng đó hiện đại tới đâu, trình độ, thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng, chính

sách phục vụ quảng cáo và tuyên truyền để nhiều người biết đến ngân hàng đó và

các sản phẩm dịch vụ mà nó cung cấp.

3.3.2 Nhân tố khách quan





Mơi trường kinh tế



Mơi trường kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến khả năng thu

nhập, chi tiêu, thanh toán và nhu cầu về vốn cũng như nhu cầu gửi tiền của tổ chức,

dân cư và do đó ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng.

Việc huy động và sử dụng vốn của ngân hàng bị các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ

tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lên lạm phát, thất

nghiệp,… tác động một cách rõ rệt, bởi nó ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng và tiết

kiệm của dân cư, qua đó ảnh hưởng tới khả năng thu hút vốn của NHTM.





Môi trường pháp lý



Các quy định của pháp luật được ví như là sợi dây để trói buộc mọi thành phần

kinh tế hoạt động trong khuân khổ. Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh đặc biệt

và kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành chịu sự giám sát chặt chẽ của

pháp luật cũng như của các cơ quan chức năng của Chính phủ trước tiên là nhằm

đảm bảo an toàn cho những người gửi tiền ở ngân hàng. Hơn thế như chúng ta đã

biết NHTM còn là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế nên càng phải

có sự giám sát chặt chẽ.

 Mơi trường xã hội

Mơi trường văn hóa xã hội, phong tục tập quán cũng ảnh hưởng không nhỏ tới

việc huy động vốn của ngân hàng nhất là ở Việt Nam. Tâm lý của người dân trong

việc chi tiêu thu nhập của mình cũng quyết định họ sẽ gửi tiền vào ngân hàng nhiều

hay ít. Ở nước ta người dân có tâm lý giữ tiền hơn là đem gửi vào các ngân hàng, họ

thường giữ tiền hoặc tích lũy tiền dưới các hình thức khác. Việc gửi tiền tiết kiệm

tại ngân hàng chưa trở thành thói quen và chiếm được lòng tin cao của người dân.

Điều này làm cho việc thu hút nguồn vốn từ tiền tiết kiệm của người dân bị hạn chế

và đòi hỏi ngân hàng phải có chính sách hấp dẫn để thu hút vốn từ người dân.



Nguyễn Thị Trang



22



Lớp: Toán Kinh tế 48



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA MƠ HÌNH ĐỊNH LƯỢNG

Phương pháp luận dùng trong việc phân tích chuỗi nguồn vốn huy động và một

vài yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi nguồn vốn huy động là phương pháp mơ hình tốn

kinh tế kết hợp với kinh tế lượng. Đây là hai mơn học cơ bản của khoa tốn kinh tế

và cũng là hai mơn học quan trọng bởi những đóng góp của nó trong việc phân tích

những vấn đề kinh tế. Hai phương pháp này kết hợp với nhau làm cho việc phân

tích được chính xác và đồng thời khắc phục những mặt hạn chế của từng phương

pháp.

1. LÝ THUYẾT MÔ HÌNH TỐN KINH TẾ

Hiện thực kinh tế liên quan đến vấn đề nghiên cứu thường phức tạp. Có rất

nhiều hiện tượng và vô số mối quan hệ đan xen, chồng chéo giữa chúng vì vậy nếu

chỉ quan sát thì chắc chắn chúng ta không thể nắm bắt được bản chất và do đó rất

khó tìm ra quy luật chi phối các mối quan hệ. Vì thế để nghiên cứu các vấn đề kinh

tế chúng ta phải sử dụng phương pháp mơ hình. Mơ hình tốn kinh tế là mơ hình

kinh tế được trình bày bằng ngơn ngữ tốn học. Nó giúp chúng ta nghiên cứu, phân

tích các vấn đề kinh tế khơng chỉ về mặt định tính mà còn về mặt định lượng. Việc

sử dụng mơ hình tốn kinh tế trong việc phân tích các vấn đề kinh tế là điều có ý

nghĩa lớn và rất cần thiết. Đặc biệt là trong vấn đề phân tích nguồn vốn huy động

của ngân hàng mà em đang thực hiện. Các yếu tố tác động đến nguồn vốn huy động

là rất nhiều và ta khơng thể đưa tất cả các yếu tố đó vào để phân tích được. Vì vậy,

ta cần mơ hình hóa các yếu tố đó và chỉ đưa vào mơ hình yếu tố nào tác động nhiều

nhất và rõ rệt nhất đến nguồn vốn huy động. Việc đưa một số yếu tố cần thiết vào

mơ hình khơng có nghĩa là ta xem xét các yếu tố khác khơng có tác động đến nguồn

vốn huy động mà ta giữ nguyên các yếu tố đó và coi như yếu tố đó là khơng đổi.

Tác động của các yếu tố đó được thể hiện gộp trong hệ số chặn (ký hiệu là C).

Khi xây dựng mơ hình tốn kinh tế ta phải mơ hình hóa các yếu tố phân tích

thành các biến số. Như vậy việc quan trọng là chúng ta phải xác định được chính

xác những yếu tố nào được đưa vào làm biến số và những yếu tố nào coi như khơng

đổi trong giai đoạn phân tích. Đối với mỗi đối tượng, mỗi vấn đề cần nghiên cứu,



Nguyễn Thị Trang



23



Lớp: Toán Kinh tế 48



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

bao giờ cũng có số ít chi tiết quan trọng và số lớn chi tiết có thể bỏ qua. Những chi

tiết quan trọng sẽ mô tả các đặc điểm cơ bản của đối tượng, thể hiện bản chất của

đối tượng liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu. Việc xác định những chi tiết nào và

bỏ qua những chi tiết nào của đối tượng tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, trình độ

của người nghiên cứu và thơng tin có sẵn về đối tượng. Sau khi xác định được các

biến số: biến nội sinh, biến ngoại sinh, tham số ta sẽ xây dựng được mơ hình và

phân tích mơ hình. Thơng thường, mơ hình được biểu diễn dưới dạng hàm số như

sau:

Y = f(x1, x2,…, xn)

Y : Biến được phân tích hay biến phụ thuộc

x1, x2,…, xn là biến có tác động đến biến phân tích hay được gọi là biến giải thích

(biến độc lập).

Các hàm dùng trong phân tích được chia làm hai loại chính là hàm kinh tế dạng

hiện và hàm kinh tế dạng ẩn. Trong phân tích thì hàm kinh tế dạng hiện sẽ là dạng

hàm được sử dụng phổ biến hơn.

Hàm kinh tế dạng hiện:

Y = F(x1, x2,…, xn; α1, α2,…, αk)

Hoặc

y = F(X ; α)

Các lớp hàm hay được dùng trong biểu diễn quan hệ giữa các biến trong kinh tế

gồm:

Hàm tựa lồi, hàm tựa lõm:

Hàm y = F(X ; α) với X Є D �Rn, D là tập lồi gọi là hàm tựa lồi (tựa lõm) nếu:

F(λX1 + (1- λ)X2; α) ≤ ( ≥ ) max (min) [ F(X1), F(X2)]

Với mọi X1, X2 Є D và 0 ≤ λ ≤ 1

Dấu bất đẳng thức xảy ra thì hàm gọi là tựa lồi (tựa lõm) chặt

Dạng hàm tuyến tính

n

y  � x

i i

i 1



Lớp hàm này phản ánh quan hệ tỷ lệ không đổi giữa các biến. Đây là lớp hàm

đơn giản nhất nếu xét về cấu trúc toán học.

Dạng hàm CES

r

n



 �

y   ��  x �

i i �



i 1



-



Hàm thuần nhất, đồng điệu



Nguyễn Thị Trang



24



Lớp: Toán Kinh tế 48



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vốn huy động

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×