Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

Tải bản đầy đủ - 0trang

quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang

triển khai ở nơng thơn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết;

có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế;

huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư.

- Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,

đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy

hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu

chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành).

- Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và tồn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính

quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ

chức thực hiện; Hình thành cuộc vận động “tồn dân xây dựng nơng thơn mới" do

Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp

nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới.

5. Nội dung thực hiện các tiêu chí xây dựng nơng thơn mới

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đến năm

2020 của Đảng, Nhà nước, với mục tiêu xây dựng nơng thơn có kết cấu hạ tầng

hiện đại theo quy

hoạch; cơ cấu kinh tế và hình thức sản xuất hợp lý; gắn phát triển nông nghiệp

với phát triển công nghiệp, dịch vụ; xây dựng xã hội nơng thơn dân chủ, ổn

định, giàu bản sắc văn

hóa dân tộc; giữ gìn mơi trường sinh thái; an ninh trật tự được đảm bảo; đời

sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao. Để Chương trình xây

dựng nông thôn mới đạt kết quả tốt, mỗi người dân và mỗi đoàn viên, thanh niên

phải là lực lượng đi đầu trong thi đua thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn

mới với các nội dung sau:

Một là, mỗi người dân và đoàn viên, thanh niên phải hiểu rõ và tuyên truyền,

vận động gia đình và mọi người xung quanh hiểu rõ xây dựng nông thôn mới là

sự nghiệp của toàn dân, là trách nhiệm và quyền lợi của mỗi người dân nông

thôn, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước đóng vai trò hỗ



trợ, mỗi người dân phải là chủ thể, mỗi gia đình phải đi đầu trong tham gia xây

dựng nơng thơn mới; không trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư của Nhà nước.

Hai là, mỗi người dân và đoàn viên, thanh niên cần chấp hành tốt các chủ

trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tích cực học hỏi, nâng cao

trình độ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng,

vật nuôi, phát triển kinh tế gia đình, vươn lên thốt nghèo và làm giàu chính

đáng.

Ba là, mỗi người dân và đồn viên, thanh niên cần tích cực tham gia xây dựng

kết cấu hạ tầng, huy động nhân dân và đoàn viên, thanh niên kiên cố hố đường

giao thơng, thuỷ lợi, góp phần hiện hại hố nơng thơn; vận động các hộ gia đình

cải tạo nhà cửa, vườn ao, chuồng trại, xây nhà vệ sinh cải tiến, hầm bioga; tích

cực trồng cây, trồng rừng và bảo vệ rừng, thu gom rác thải, sử dụng nguồn nước

hợp vệ sinh, bảo vệ môi trường sống.

Bốn là, mỗi người, mỗi hộ gia đình cần gương mẫu thực hiện phong trào "Toàn

dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hố", bài trừ

mê tín, dị đoan và các hủ tục lạc hậu; thực hiện nếp sống văn minh, tiết kiệm

trong việc cưới, việc tang; phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội; đẩy mạnh

khai thác các nhà văn hoá, điểm vui chơi cộng đồng phục vụ các hoạt động văn

hoá, văn nghệ, thể thao trong thanh thiếu nhi và các tầng lớp nhân dân.

Năm là, các cấp uỷ đảng, chính quyền và các tầng lớp nhân dân quan tâm bồi

dưỡng, phát huy vai trò xung kích, tình nguyện của tuổi trẻ trong phát triển kinh

tế - xã hội, đảm nhận các đoạn đường thanh niên tự quản, tham gia giữ gìn an

ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; giúp đỡ thanh thiếu niên chậm tiến; tích cực

tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh.

Xây dựng nơng thơn mới là sự nghiệp lâu dài của tồn Đảng, tồn dân và cả hệ

thống chính trị, là trách nhiệm chung tay, góp sức của mỗi người dân, quyết tâm

xây dựng nông thôn mới ở nước ta ngày càng giàu đẹp và văn minh.



6. Vận dụng làm rõ cơ sở tâm lý của hoạt động tuyên truyền các chủ

trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong việc

xây dựng nông thôn mới.

- Tiếp tục tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính

quyền, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh về mục đích, ý

nghĩa, tầm quan trọng của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nơng thơn

mới trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và

nâng cao đời sống nông dân. Khơi dậy quyết tâm, tinh thần tự giác, tự nguyện,

ý thức trách nhiệm cao trong mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia

hưởng ứng Chương trình xây dựng nông thôn mới.

- Thông tin, tuyên truyền sâu rộng nội dung Chương trình xây dựng nơng

thơn mới tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2020, các tiêu chí và các chính sách,

văn bản của Trung ương, của tỉnh có liên quan để các cấp, các ngành và các tầng

lớp nhân dân cùng tham gia, thực hiện có hiệu quả.



- Nâng cao nhận thức người dân về vai trò chủ thể của mình (được biết,

được bàn, được làm, được giám sát, được thụ hưởng...) để tích cực tham gia,

hưởng ứng Chương trình xây dựng nông thôn mới. Nâng cao ý thức, trách

nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên làm cơng tác xây

dựng nơng thơn mới; phòng, chống những tiêu cực trong thực hiện các chương

trình, dự án xây dựng nông thôn mới.

- Thông qua các hoạt động tuyên truyền làm cho cán bộ, đảng viên và các

tầng lớp nhân dân (nhất là khu vực nông thôn), các nhà đầu tư hiểu đầy đủ hơn

về Chương trình MTQG xây dựng nơng thơn mới để tranh thủ sự đồng tình,

giúp đỡ, phối hợp, tạo điều kiện của các cấp, các ngành, các đồn thể, doanh

nghiệp... nhiệt tình tham gia, đóng góp tích cực cho Chương trình, phát huy sức

mạnh tổng hợp nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra.



- Tăng cường cơng tác tun truyền, duy trì và phát huy những kết quả đã

đạt được trong 19 tiêu chí xây dựng nơng thơn mới tại khu dân cư. Đảm bảo tính

hiệu quả, thiết thực nhằm nâng cao đời sống người dân.

- Cổ vũ, động viên các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến có thành tích

xuất sắc trong phong trào xây dựng nông thôn mới; phổ biến những kinh

nghiệm….

- Cơng tác tun truyền Chương trình xây dựng nông thôn mới cần được

tiến hành thường xuyên, liên tục bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng gắn

với nhiệm vụ chính trị của từng địa phương, đơn vị, đảm bảo thiết thực, hiệu

quả, tránh hình thức.

- Tiếp tục tuyên truyền sâu rộng mục đích, ý nghĩa, mục tiêu, kế hoạch thực

hiện Chương trình xây dựng nơng thơn mới của tỉnh; những nội dung cơ bản của

Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Vĩnh Phúc trong năm 2014; các tiêu

chí nơng thơn mới và các văn bản của Trung ương, của tỉnh có liên quan.



- Tuyên truyền đậm nét những kết quả đạt được, những cách làm sáng

tạo, những kinh nghiệm của các địa phương; những mơ hình, điển hình tiên

tiến; những tập thể, cá nhân có nhiều đóng góp cho Chương trình xây dựng

nơng thơn mới của tỉnh, nhất là tại 20 xã điểm đã hoàn thành Chương trình xây

dựng nơng thơn mới năm 2013.

- Tun truyền các địa phương, đơn vị phát huy tốt vai trò chủ thể của

người dân, huy động tốt các nguồn lực, các nguồn vốn ngồi ngân sách để thực

hiện Chương trình xây dựng nơng thơn mới; các địa phương có những phương

pháp, cách làm sáng tạo, thiết thực, hiệu quả, thực hiện vượt mục tiêu, kế hoạch

đề ra. Đặc biệt là các địa phương phát động phong trào xây dựng nông thôn mới

có sự tham gia, đóng góp tích cực của người dân, thể hiện rõ chủ thể trong xây

dựng nông thôn mới là người dân và cộng đồng dân cư.



- Kịp thời phản ánh, phân tích những khó khăn, vướng mắc, những biểu

hiện tiêu cực trong quá trình thực hiện Chương trình.

- Phản ánh tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị, đề xuất của nhân dân trong

quá trình thực hiện Chương trình xây dựng nơng thơn mới.

- HÌNH THỨC TUN TRUYỀN

Tun truyền Chương trình xây dựng nơng thơn mới bằng nhiều hình

thức khác nhau đảm bảo phù hợp, thiết thực, hiệu quả:

- Kết hợp tổ chức tuyên truyền Chương trình xây dựng nông thôn mới tại

các hội nghị báo cáo viên - tuyên truyền viên các cấp.

- Xây dựng và nhân rộng các mơ hình điển hình tiên tiến về xây dựng

nơng thôn mới.

- Tổ chức hội nghị tuyên dương khen thưởng những tập thể, cá nhân tiêu

biểu trong xây dựng nông thôn mới.

- Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng: Báo Đài Phát

thanh-Truyền hình ; Cổng Thơng tin - Giao tiếp điện tử tỉnh; hệ thống Đài phát

thanh, truyền thanh các huyện, thành, thị, các xã, phường, thị trấn và các thôn.

- Tuyên truyền trên Bản tin sinh hoạt chi bộ, Tạp chí Tuyên giáo (Ban

TGTW), Bản tin Khoa giáo của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ và bản tin, trang

thông tin điện tử của các sở, ban, ngành, đoàn thể, các huyện, thành, thị.

- Biên soạn và phát hành các tài liệu tuyên truyền, tờ rơi, tờ gấp, đề

cương tun truyền về Chương trình xây dựng nơng thơn mới.

- Tăng cường tuyên truyền bằng các hình thức khác như: khẩu hiệu,

panơ, áp phích, văn hố, văn nghệ, giao lưu, toạ đàm…



Tác hại của thuốc lá

1. Thực tiễn của cơng tác phòng chống tác hại của thuốc lá

1.1. Thực trạng sử dụng thuốc lá:

Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1,3 tỷ người hút thuốc lá, 84% số người

hút thuốc lá sống tại các nước đang phát triển.

Việt Nam nằm trong nhóm 15 quốc gia có số lượng người sử dụng thuốc lá

cao hàng đầu thế giới. Tỷ lệ đang hút thuốc lá, thuốc lào hiện nay (tổng dân số từ

15 tuổi trở lên) là 23,8% tương đương 15,3 triệu người, trong đó, tỷ lệ hút thuốc lá



điếu là 19,9% (khoảng 12,8 triệu người), tỷ lệ hút thuốc lào là 6,4% (khoảng 4,1

triệu người), còn lại là tỷ lệ sử dụng các dạng thuốc lá khác. Trong số người

trưởng thành, tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới là 47,4% và ở nữ giới là 1,4%. Nhóm

tuổi có tỷ lệ hút thuốc lá cao nhất là trong độ tuổi lao động (từ 25 đến 50 tuổi).

Tỷ lệ hút thuốc lá ở nông thôn cao hơn so với thành thị, người nghèo có tỷ lệ hút

thuốc lá cao hơn người giàu. Thanh thiếu niên bắt đầu sử dụng thuốc lá sớm và

dễ dàng tiếp cận thuốc lá.

Đối với người hút thuốc lá thụ động: tỷ lệ bị phơi nhiễm với khói thuốc lá

tại nhà là 67,6% và tại nơi làm việc là 49,0%. Đặc biệt, tỷ lệ phơi nhiễm với

khói thuốc lá ở nhà của phụ nữ gần 70%, của trẻ em gần 50%. Như vậy, số

người phải thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc lá thụ động ở nước ta rất cao.

1.2. Tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người và kinh tế- xã hội:

1.2.1. Tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người:

Hút thuốc lá là nguy cơ gây các bệnh nguy hiểm như: ung thư phổi, bệnh phổi

tắc nghẽn mạn tính, nhồi máu cơ tim, xơ vữa động mạch và các bệnh khác (ung

thư vòm họng, ung thư da, lỗng xương, ung thư thanh quản, phế quản, đục

nhãn mắt, loét dạ dày, liệt dương, giảm khả năng sinh sản…) do khói thuốc lá có

chứa hơn 7.000 chất hố học, trong đó có nicotine là chất gây nghiện và khoảng

70 chất là tác nhân gây ung thư, điển hình là các chất như nhựa thuốc lá (tar),

benzen, carbon monoxide....

Người nghiện thuốc lá có nguy cơ tử vong cao gấp 2,5 đến 10 lần so với người

không hút thuốc lá.

Hút thuốc lá thụ động cũng là một nguy cơ lớn ảnh hưởng tới sức khỏe do

khói tỏa ra từ đầu điếu thuốc lá đang cháy độc hại hơn khói thuốc lá do người

hút thở ra. Người thường xun hít phải khói thuốc lá có nguy cơ bị ung thư

phổi cao hơn 26% so với người khơng hít phải khói thuốc lá. Khói thuốc lá thụ

động là một trong các tác nhân gây nhiều bệnh về tim mạch, phổi, làm suy giảm

chức năng hô hấp và ảnh hưởng tới chức năng sinh sản ở cả nam và nữ. Khói



thuốc lá thụ động làm tăng nguy cơ bệnh tim lên 25 - 30%, mắc bệnh phổi lên

25% và tăng nguy cơ đột quỵ lên 82%

Tại Việt Nam, trong số 4 nguyên nhân gây tử vong cao thì thuốc lá đứng

hàng thứ hai sau HIV và tiếp theo thuốc lá là rượu và tai nạn giao thông. Đối với

nam giới, thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong sớm với gần 11%

tổng số ca tử vong. Tổ chức Y tế thế giới ước tính, mỗi năm Việt Nam có khoảng

40.000 người tử vong vì các bệnh có liên quan đến thuốc lá và nếu khơng có

biện pháp kịp thời, đến năm 2030, con số này sẽ tăng lên tới 70.000 người (gấp

gần 4 lần số ca tử vong vì tai nạn giao thơng đường bộ tại nước ta mỗi năm).

1.2.2. Tác hại của thuốc lá đối với kinh tế - xã hội:

Tại Việt Nam, năm 2010, chỉ riêng chi phí điều trị cho 3 trong số 25 loại

bệnh phổ biến nhất liên quan đến thuốc lá (ung thư phổi, bệnh mạch vành, bệnh

phổi tắc nghẽn) đã là 2.304 tỷ đồng.

Chi tiêu cho thuốc lá làm giảm các chi tiêu thiết yếu khác của hộ gia đình,

đặc biệt là hộ có thu nhập thấp. Một người hút thuốc lá trong một năm tiêu hết

số tiền bằng 1/3 số tiền chi cho lương thực, gấp 1,5 lần so với chi cho giáo dục,

gấp 5 lần chi phí y tế tính theo bình qn đầu người.



Như vậy, hút thuốc lá là một trong những nguyên nhân làm gia tăng

nghèo đói.

Bên cạnh đó, thuốc lá còn gây ra những ảnh hưởng có hại khác đến vệ

sinh mơi trường, làm gia tăng hoạt động buôn lậu, gây ra nguy cơ cháy nổ.

Hút thuốc lá là nguyên nhân gây ô nhiễm khơng khí trong nhà và ngồi

trời. Một nghiên cứu tại 2 phường nội thành Hà Nội cho thấy: Hàm lượng

nicotine trong khơng khí tại nhà ở khá cao (trung bình 0,687 mg/m3 ). Hàm

lượng khí Co trong khơng khí tại nhà ở của các gia đình có người hút thuốc cao

gấp 2,4 lần nồng độ giới hạn cho phép.



Theo ước tính, trên thế giới mỗi năm có khoảng 200.000 héc ta rừng

(chiếm 1,7% diện tích rừng) bị phá do việc trồng cây thuốc lá. Ở Việt Nam, một

nghiên cứu cho thấy khoảng 49% nông dân dùng củi để sấy thuốc lá, 75% trong

số họ nói rằng lấy củi này từ rừng.

Thực trạng trên cho thấy nhà nước cần phải ban hành Luật tạo cơ sở pháp

lý đủ mạnh để tổ chức hiệu quả hơn công tác PCTHTL, giảm tỷ lệ sử dụng thuốc

lá, khắc phục những hậu quả do sử dụng thuốc lá gây ra nhằm bảo vệ và nâng

cao sức khỏe người dân.

2. Yêu cầu kiểm soát hoạt động sản xuất, kinh doanh thuốc lá đòi hỏi

ban hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá

Cả nước hiện có 17 doanh nghiệp sản xuất thuốc lá điếu với diện tích

trồng thuốc lá gần 16.000 ha; có gần 20.000 lao động làm việc trong ngành công

nghiệp thuốc lá và gần 220.000 lao động nông nghiệp trong sản xuất nguyên

liệu. Tổng sản lượng của tồn ngành thuốc lá có xu hướng tăng nhanh trong

khoảng 10 năm gần đây. Năm 2000, sản lượng đạt khoảng 2,7 tỷ bao, con số này

đã tăng lên khoảng trên 4 tỷ bao năm 2007, khoảng 4,8 tỷ bao năm 2009 và 5,2

tỷ bao năm 2010.

Giá thuốc lá ở Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới, trung bình khoảng

5.500 đồng/bao Điều này làm cho thanh thiếu niên và người nghèo Việt Nam dễ

dàng tiếp cận với thuốc lá hơn so với các quốc gia khác trên thế giới.

Bên cạnh đó, tình hình vi phạm các quy định về sản xuất kinh doanh

thuốc lá liên quan đến cấm quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị vẫn còn tương đối

phổ biến, hoạt động kinh doanh và sử dụng thuốc lá lậu vẫn chưa được kiểm

soát hiệu quả. Tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trong số 615 cửa hàng

bán thuốc lá có sự hiện diện của 150 loại nhãn mác thuốc lá thì có tới 45 loại lưu

hành trái phép (không tem, cấm nhập…).; số thuốc lá có khuyến mãi trong bao

thuốc lá chiếm 35%; có 16% thuốc lá không ghi hàm lượng tar và nicotine; có

7% khơng in lời cảnh báo sức khỏe trên vỏ bao thuốc lá; diện tích in lời cảnh

báo sức khỏe chiếm dưới 10% diện tích vỏ bao thuốc lá là gần 75%, vị trí in lời



cảnh báo bên cạnh vỏ bao thuốc lá là 97%.. Bên cạnh đó, vi phạm về quảng cáo,

khuyến mại vẫn diễn ra khá thường xuyên, trong 1.433 điểm bán thuốc lá trên

10 tỉnh, có 32,6% điểm bán vi phạm, tăng 3,7% so với năm 2009.

3. Yêu cầu phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống

tác hại của thuốc lá đòi hỏi phải ban hành Luật Phòng, chống tác hại của

thuốc lá

Các văn bản pháp luật về PCTHTL, kể cả quản lý kinh doanh thuốc lá đến

nay phần nhiều đã lạc hậu, không theo kịp các yêu cầu mới nảy sinh, chưa bảo

đảm tính hệ thống, đồng bộ, tồn diện. Các quy định về xử phạt vi phạm pháp

luật trong lĩnh vực này chưa đủ mạnh nên hiệu quả chưa cao. Các văn bản pháp

luật về sản xuất, kinh doanh thuốc lá chưa chú trọng đến nội dung PCTHTL, đặc

biệt giá và thuế thuốc lá còn ở mức thấp.

Mặt khác, hệ thống văn bản pháp luật về PCTHTL còn nhiều khoảng

trống (chưa có quy định về thơng tin, giáo dục, truyền thơng; quyền của người

không hút thuốc lá; trách nhiệm của người đứng đầu địa điểm cấm hút thuốc lá;

in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh; huy động tài chính cho PCTHTL), một số

văn bản đã bộc lộ những mâu thuẫn, chồng chéo (quy định về in cảnh báo sức

khỏe trên bao bì thuốc lá khơng thống nhất, còn chồng chéo giữa các văn bản

của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Y tế).

4. Yêu cầu hội nhập quốc tế trong phòng, chống tác hại của thuốc lá

đòi hỏi phải ban hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá:

Hiện nay, nâng cao sức khỏe trong đó có PCTHTL là một nhiệm vụ quan

trọng của cơng tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, đây là vấn đề của thời đại, của

cả các nước phát triển và đang phát triển khi mà số người chết do các bệnh

không lây nhiễm đã chiếm đến hơn 50% số tử vong và trong số đó có tỷ lệ đáng

kể người chết sớm (trước 60 tuổi). Đó chính là những cái chết tức tưởi, lẽ ra

chúng ta có thể phòng được nếu có sự quan tâm hợp lý thơng qua biện pháp

phòng bệnh cho người dân ngay từ khi còn khỏe mạnh. Tháng 10/2011, Đại hội

đồng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết về Phòng, chống các bệnh khơng



lây nhiễm, trong đó có đề nghị các quốc gia hãy quan tâm ban hành chính sách,

pháp luật và đầu tư nguồn lực để phòng, chống và hạn chế các nguy cơ gây ra

bệnh không lây nhiễm như hút thuốc lá, lạm dụng rượu, bia…

Từ các phân tích trên đây cho thấy, việc tuyên truyền PCTHTL là hết sức

cần thiết.

5. Vận dụng: từ những hiểu biết về tâm lý con người, trong công tác

tuyên truyền cần:

+ Nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật về phòng, chống tác

hại thuốc lá.

+ Góp phần tổ chức thực hiện tồn diện, đồng bộ, có hiệu quả các nhiệm

vụ, giải pháp phòng, chống tác hại thuốc lá đã được quy định trong Luật phòng,

chống tác hại thuốc lá và Cơng ước khung về kiểm sốt thuốc lá.

+ Tun truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tác hại thuốc lá phải

thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, tập trung triển khai các hình thức, biện pháp

thiết thực, hiệu quả, phù hợp với đối tượng cần tác động.



+ Kết hợp với các chương trình, đề án khác có liên quan về phổ biến, giáo

dục pháp luật và phòng, chống tác hại thuốc lá trong quá trình tổ chức thực hiện.

+ Những nội dung chủ yếu của Luật phòng, chống tác hại thuốc lá; chú

trọng tuyên truyền, phổ biến các quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của

các cơ quan, tổ chức người đứng đầu, người quản lý trong phòng, chống tác hại

thuốc lá.

+ Nội dung cơ bản của Cơng ước khung phòng, chống tác hại thuốc lá.

+ Các văn bản chỉ đạo, điều hành, tổ chức triển khai pháp luật về phòng

phòng, chống tác hại thuốc lá và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên

quan đến cơng tác này.

- Hình thức, biện pháp tun truyền, phổ biến:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×