Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan

4 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



nhanh hơn công nghệ phát triển trong nước, Wang (1990) mở rộng mơ hình của

Findlay bằng cách thiết lập một liên kết giữa FDI và sự tăng trưởng của nguồn nhân

lực trong nước, Walz (1997) cho thấy sự hiện diện của các cơng ty có vốn đầu tư

nước ngồi ở các nước kém phát triển mang về các tác động lan truyền kiến thức

đến lĩnh vực R&D trong nước và do đó góp phần tăng trưởng kinh tế. Trong mơ

hình của Fosfuri và cộng sự (2002); Glass và Saggi (2002a) trình bày các mơ hình

cơng nghệ lan truyền thơng qua doanh thu lao động. Trong khi đó, Glass và Saggi

(2002b) lập luận thêm rằng sự có mặt của FDI đối với các doanh nghiệp trong nước

sẽ có lợi bằng cách hạ thấp chi phí bắt chước. Thực vậy, các nước đang phát triển

đang cố gắng thu hút thêm FDI, nhập khẩu công nghệ cao từ các nền kinh tế phát

triển thông qua các kênh như kỹ thuật đảo ngược, doanh thu lao động có kỹ năng,

hiệu ứng trình diễn, quan hệ khách hàng (Cheung và Lin, 2004). Đối với khả năng

hấp thụ của quốc gia hoặc doanh nghiệp, nội địa hóa và sử dụng các kiến thức có

tiềm năng sẵn có cho họ bởi dòng vốn FDI là đáng kể và cần thiết (Ito et al, 2012).

Tuy nhiên khả năng hấp thụ của các doanh nghiệp trong nước phụ thuộc vào công

nghệ/mức độ hiệu quả và công nhân lành nghề/nguồn nhân lực (Gorodnichenko et

al, 2014).

Ngược lại, một số nghiên cứu khơng tìm thấy bằng chứng hỗ trợ các hiệu ứng

tích cực hay thậm chí nếu có thì hiệu ứng lan tỏa cũng là tiêu cực đáng kể như

nghiên cứu của Germidis (1977); Haddad và Harrison (1993) tìm thấy những tác

động xấu liên quan đến FDI ở Ma-rốc; Kokko và Tansini (1996) cho Uruguayan

nhận thấy hầu như khơng có bằng chứng chuyển giao cơng nghệ từ nước ngồi cho

các doanh nghiệp trong nước. Nghiên cứu của Aitken và Harrison (1999) ở

Venezuela cho thấy FDI ảnh hưởng bất lợi đến năng suất của các doanh nghiệp

trong nước, để giải thích kết quả, họ đưa ra một giả thuyết "đánh cắp thị trường"

cho rằng, trong khi FDI có thể thúc đẩy chuyển giao cơng nghệ, các cơng ty có vốn

đầu tư nước ngồi chiếm thị phần trong nước và buộc doanh nghiệp trong nước phải

sản xuất ra các sản phẩm nhỏ hơn với chi phí trung bình cao hơn. Aslanoglu (2000)

cho Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy mặc dù sự hiện diện của các cơng ty nước ngồi làm tăng



10



khả năng cạnh tranh của các ngành cơng nghiệp trong nước nhưng khơng đóng góp

đáng kể vào năng suất của các doanh nghiệp trong nước này, ngồi ra nghiên cứu

cũng khơng cho thấy có mối quan hệ quan trọng nào đối với tác động của khoảng

cách cơng nghệ giữa các cơng ty trong và ngồi nước về năng suất và tăng trưởng

thị trường của các doanh nghiệp trong nước.

Dưới đây là phần điểm qua một vài nghiên cứu thực nghiệm gần đây về tác

động của FDI đến thay đổi công nghệ:

Trong nghiên cứu của Erdalvà Gocer (2015) về tác động của FDI đến R&D và

thay đổi công nghệ ở các nước châu Á đang phát triển, tác giả sử dụng dữ liệu bảng

và phương pháp hợp nhất ở 10 nước đang phát triển ở châu Á gồm Trung Quốc,

Hàn Quốc, Ấn Độ, Iran, Pakistan, Malaysia, Singapore, Thái Lan,Ả-rập Xê-út và

Thổ Nhĩ Kỳ cho giai đoạn 1996-2013. Bằng cách sử dụng dữ liệu về chi phí R&D

(RD), số đơn đăng ký sáng chế cả trong nước và nước ngoài (IN), vốn cổ phần bằng

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giai đoạn 1996-2013. Ở đây, chi tiêu của

R&D và số liệu FDI tính bằng tỷ đô la Mỹ, số lượng đơn xin cấp bằng sáng chế là

số lượng tổng và tất cả các chuỗi sử dụng ở dạng lơgarít. Các mức độ cố định đã

được điều tra bằng các kiểm định kiểu Fisher bằng việc sử dụng các kiểm định ADF

và PP (Maddala và Wu, 1999); Breitung (2000). Các hệ số riêng lẻ giữa các chuỗi

được phát hiện bằng cách sử dụng các phép thử Pairwise Dumitrescu Hurlin Panel

Causality và các hệ số chung được phát hiện bởi phép thử Pairwise Granger

Causality. Các mối quan hệ hợp nhất giữa các chuỗi được xác định bởi các phép thử

kiểu Fisher sử dụng phép thử của Johansen (Maddala và Wu, 1999). Hệ số hợp nhất

được ước tính bởi PDOLS (Panel Dynamic Ordinary Least Squares). Kết quả cho

thấy rằng: chi tiêu cho R&D, hoạt động thay đổi công nghệ và luồng vốn FDI

không theo xu hướng ổn định, các nhà hoạch định chính sách cần tạo ra những sáng

kiến để ổn định những vấn đề này, không những thế các phép thử còn cho thấy mối

quan hệ nhân quả hai chiều giữa FDI, chi tiêu R&D và IN, trong những kết quả

tương tự cũng có thể nói rằng luồng vốn FDI đi vào làm tăng tiến độ R&D và các

hoạt động thay đổi ở nước sở tại. Khi dòng vốn FDI tăng một tỷ đơ la Mỹ sẽ làm



11



tăng 0.83% chi tiêu cho R&D và làm tăng 0.42% đơn xin cấp bằng sáng chế ở

những nước này trong giai đoạn 1996-2013.

Ở cấp độ vi mô, Zhang (2014) đã điều tra ảnh hưởng của FDI đối với ngành

công nghiệp Trung Quốc bằng cách ước tính một số chi tiết kỹ thuật. Ông đã sử

dụng bộ dữ liệu bảng cho 21 ngành sản xuất và 31 khu vực trong giai đoạn 20052010. Ơng xây dựng mơ hình chỉ số đa chiều để đo lường hiệu suất công nghiệp và

sử dụng tổng sản lượng công nghiệp và đầu người theo FDI độc lập. FDI đã trở

thành động lực cho hiệu quả công nghiệp khi ngành công nghiệp Trung Quốc gia

tăng.

Mặc dù có rất ít tài liệu nghiên cứu về tác động lan tỏa của FDI đối với Việt

Nam nhưng các nghiên cứu trước đây đã tạo nên những kết quả khác nhau. Một số

tác giả đã thừa nhận những tác động tích cực tiềm ẩn của FDI để cải thiện năng suất

nhưng cho rằng hiệu quả của mối liên hệ này là rất yếu (Tran, 2004 và SchaumburgMüller, 2003) hoặc nhỏ hơn những gì thường tìm thấy ở các nước khác (Mirza,

2003 và Giroud, 2004). Schaumburg-Muller (2003) đã kiểm tra sự phát triển của

FDI ở Việt Nam trong những năm 1990 chỉ sử dụng cấp độ dữ liệu vĩ mô, một kết

luận quan trọng từ nghiên cứu này là FDI đã không đạt đến mức kỳ vọng của mối

liên kết và sự lan tỏa công nghệ mặc dù về lâu dài là có tiềm năng cho những điều

này, đặc biệt thơng qua nâng cao kỹ năng của lực lượng lao động. Sử dụng một

khảo sát gần đây của các công ty con tại những công ty xuyên quốc gia, Mirza

(2003) và Giroud (2004) đưa ra một số bằng chứng về tác động lan tỏa cho Việt

Nam. Khoảng 32% đầu vào FDI lấy từ các cơng ty có trụ sở tại địa phương (cả

trong và ngoài nước). Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng như vậy nhỏ hơn Thái Lan và

Malaysia do không có kế hoạch hợp tác với các nhà cung cấp trong khu vực ở Việt

Nam. Các tác giả này khuyến nghị rằng Việt Nam cần tìm kiếm các bài học từ

Malaysia và Thái Lan để thu hút các công ty xuyên quốc gia.

Ngoài ra, các tác giả khác sử dụng kỹ thuật kinh tế lượng đã phát hiện có bằng

chứng về tác động lan tỏa. Lê Thanh Thúy (2005) nghiên cứu tác động lan tỏa công



12



nghệ vào FDI đối với năng suất lao động cho 29 ngành của Việt Nam cho hai giai

đoạn 1995-1999 và 2000-2002. Bà thấy rằng có bằng chứng về tác động lan tỏa từ

đầu tư trực tiếp nước ngồi vào năng suất của các ngành cơng nghiệp trong nước ở

Việt Nam trong giai đoạn 1995-1999 nhưng hiệu quả này đã trở nên yếu hơn trong

giai đoạn 2000-2002 (có thể do hiệu ứng ăn cắp của thị trường). Nguyễn Tuấn Anh

và cộng sự (2006) là người đầu tiên sử dụng mức độ vững chắc dữ liệu để điều tra

tác động lan tỏa FDI, tương tự như Lê Thanh Thuý (2005), Nguyễn Tuấn Anh và

cộng sự chỉ điều tra tác động của FDI đối với năng suất lao động. Kết luận chung từ

nghiên cứu này là sự có mặt của FDI cải thiện năng suất lao động của các doanh

nghiệp trong nước.

Nhìn chung, các nghiên cứu ở trên đều cung cấp những lý thuyết nền rất tốt

cho nghiên cứu trong bài luận văn. Trong nghiên cứu của mình, với mục tiêu đánh

giá tác động lan tỏa của FDI đến thay đổi công nghệ ở Việt Nam bằng cách sử dụng

dữ liệu cấp tỉnh, với nguồn số liệu đã thu thập, học viên sẽ sử dụng cả ba loại mơ

hình POLS cho dữ liệu bảng (cross-section data và time-series data); Mơ hình tác

động ngẫu nhiên (REM), Mơ hình tác động cố định (FEM) cho dữ liệu bảng (panel

data) trong giai đoạn 2010 – 2014 và sau đó sẽ chọn ra kết quả tối ưu nhất để đánh

giá tác động của dòng vốn FDI đến thay đổi cơng nghệ trong đó có tính đến sự

khơng đồng nhất khu vực giữa các tỉnh, thành phố.



13



2.5 Khung phân tích



FDI

Sáng chế

Lực lượng lao

động cho R&D

Chi tiêu cho R&D



Thay đổi công

nghệ



Xuất nhập khẩu



Giải pháp hữu

ích



Kiểu dáng cơng

nghiệp



GDP bình qn

đầu người



Hình 2.1: Khung phân tích đề nghị



14



CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Nguồn dữ liệu

Dữ liệu được lấy từ Niên giám thống kê hằng năm của Tổng cục Thống kê

Việt Nam (GSO) và báo cáo tổng kết của Cục Sở Hữu Trí Tuệ hằng năm, nghiên

cứu sử dụng số liệu trong giai đoạn 2010-2014 ở cấp độ tỉnh. Tuy nhiên, do có hạn

chế về số liệu thống kê khơng đầy đủ hoặc khơng có số liệu liên quan, học viên loại

trừ 7 tỉnh (gồm Ninh Bình, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Bình, Gia

Lai, Cà Mau) ra bộ dữ liệu. Do đó, mẫu nghiên cứu bao gồm 280 quan sát của 56

tỉnh, thành phố trong vòng 5 năm.

3.2. Mơ hình

Dựa trên mơ hình lý thuyết đã trình bày trong chương 2, học viên sử dụng mơ

hình sau để ước tính tác động lan tỏa của FDI đối với thay đổi công nghệ ở Việt

Nam:

𝑙𝑛𝑃𝑎𝑡𝑒𝑛𝑡𝑖𝑡 = 𝛽0 + 𝛽1 𝑙𝑛𝐹𝐷𝐼𝑖𝑡−1 + 𝛽2 𝑙𝑛𝑆&𝑇𝑝𝑒𝑟𝑖𝑡 + 𝛽3 𝑙𝑛𝑆&𝑇𝑒𝑥𝑝𝑖𝑡

+ 𝛽4 𝑙𝑛𝐹𝑒𝑥𝑝𝑜𝑟𝑡𝑖𝑡 + 𝛽5 𝑙𝑛𝑃𝐺𝐷𝑃𝑖𝑡 + 𝜀𝑖𝑡 (1)

Với i ký hiệu cho tỉnh và t ký hiệu cho năm tác động. Tất cả các biến số sử

dụng trong mô hình đều tính tốn dưới dạng logarit cơ số tự nhiên.

Biến Patent it là biến phụ thuộc trong mơ hình, biến đại diện cho mức độ thay

đổi công nghệ của các tỉnh, thành phố. Biến FDI it−1 là biến mục tiêu phân tích của

mơ hình. Các biến còn lại là các biến kiểm sốt, trong đó biến S&𝑇𝑝𝑒𝑟it đại diện

cho số lượng nhân lực cho phát triển khoa học và công nghệ, S&𝑇𝑒𝑥𝑝it đại diện cho

chi tiêu cho phát triển khoa học và cơng nghệ. Bên cạnh đó, để kiểm tra giả định

rằng các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ sang thị trường quốc tế có xu

hướng đẩy mạnh hoạt động thay đổi công nghệ nhiều hơn, bài nghiên cứu đưa vào

mơ hình hồi quy biến giá trị xuất khẩu hàng hóa (Fexport it ), PGDPit đại diện cho

khả năng thay đổi công nghệ của các khu vực khác nhau, thể hiện bởi mức GDP

bình quân đầu người.



15



Định nghĩa các biến

Patent it : Là biến phụ thuộc trong mơ hình, biến đại diện cho mức độ thay

đổi cơng nghệ của các tỉnh, thành phố, biến này sử dụng số lượng bằng sở hữu công

nghiệp (Patent it ) như một thước đo đầu ra của nghiên cứu và phát triển. Trong

phạm vi bài nghiên cứu, học viên chỉ đề cập đến ba nhân tố để phân tích về sở hữu

công nghiệp ở Việt Nam, bao gồm: kiểu dáng công nghiệp (external design), sáng

chế (invention) và giải pháp hữu ích (ultility model).

FDI it-1 : Là biến đại diện giá trị thực hiện của FDI ở tỉnh i trong năm t, các giá

trị FDI bị tụt hậu trong một khoảng thời gian sử dụng để phân tích hiệu ứng lan tỏa

của FDI. Theo thống kê mô tả trong bộ số liệu thì hầu hết các bằng sáng chế ởViệt

Nam đều là những sự thay đổi nhỏ (chủ yếu là về bằng độc quyền kiểu dáng công

nghiệp cho sản phẩm, xem Bảng 4.1), nên bài nghiên cứu đưa ra giả định rằng

nguồn vốn FDI vào Việt Nam có tác động tới những sự thay đổi trong nước trong

ngắn hạn. Theo như phần lớn các mơ hình lý thuyết về các nghiên cứu thực nghiệm

trước đây đã trình bày trong phần cơ sở lý thuyết ở chương II thì FDI được kỳ vọng

sẽ có tác động dương đến mức độ thay đổi cơng nghệ. Hệ số β1 đo lường độ lớn và

chiều tác động của tác động tràn FDI tới sự thay đổi khoa học công nghệ

Là các thước đo đầu vào cho hoạt động R&D, bài luận văn bao gồm các biến

như sau:

𝑆&𝑇𝑝𝑒𝑟𝑖𝑡 : Là biến đại diện số lượng nhân lực cho phát triển khoa học và công

nghệ, thể hiện bởi số lao động trong nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp

tại các khu vực khác nhau. Tỉnh, thành phố có số lao động trong các doanh nghiệp

nghiên cứu khoa học và phát triển càng đơng thì càng tạo ra nhiều bằng sở hữu công

nghiệp. Theo Lý thuyết xác định sự lan tỏa công nghệ từ FDI sang các cơng ty trong

nước, trong đó hiệu ứng di chuyển lao động khiến người lao động và người quản lý

làm việc tại các chi nhánh nước ngoài đã được đào tạo với kỹ thuật và kỹ năng quản

lý tiên tiến di chuyển đến các công ty trong nước hoặc thành lậpnên các doanh

nghiệp riêng của họ làm cho năng suất lao động trong nước tăng lên, keó theo việc



16



ngày càng taọ ra nhiều bằng sở hữu cơng nghiệp. Vì vậy, số lượng nhân lực cho

phát triển khoa học và công nghệ tác động dương đến mức độ thay đổi công nghệ

của của một số khu vực. Trong nghiên cứu của mình về tác động lan toả của FDI ở

Malaysia, sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hàng quý giai đoạn 1999 – 2008, Elsadig

Musa Ahmed (2012) đã cho thấy mối quan hệ tích cực giữa lực lượng lao động tác

động tràn lên sự tăng trưởng kinh tế của Malaysia,

S&𝑇𝑒𝑥𝑝it : Là biến đại diện mức chi tiêu cho phát triển khoa học và công nghệ.

FDImang lại nguồn vốn cho nước tiếp nhận. Xia Gao, Wei Zhang (2012) đã chỉ ra

tác động dương của chi tiêu cho R&D lên năng lực thay đổi công nghệ của 30 tỉnh

của Trung Quốc trong giai đoạn 2005-2009. Trong nghiên cứu của Erdal và Gocer

(2015) cũng cho thấy khi dòng vốn FDI tăng một đơ la Mỹ sẽ làm tăng 0.83% chi

tiêu cho R&D và làm tăng 0.42% đơn xin cấp bằng sáng chế ở những nước này

trong giai đoạn 1996-2013.

Fexport it: Là biến đại diện cho tỷ lệ xuất khẩu của các doanh nghiệp. Theo

Arrow (1962) về lý thuyết học tập bằng cách thực hành, cụ thể hơn là thông qua

việc mở cửa thương mại quốc tế đã phần nào làm cho sản phẩm nội địa tiếp cận với

quy chuẩn nghiêm ngặt cuả thị trường quốc tế, muốn thế các doanh nghiệp trong

nước phải học hỏi, vận dụng và cho ra đời nhiều bằng sáng chế để đáp ứng không

những nhu cầu thực tế khắt khe mà còn cạnh tranh lâu dài trên đấu trường toàn cầu.

Nghiên cứu của Miller và Upadhyay (2000) nhận thấy tỷ trọng xuất khẩu trong

GDP của 83 nước trên toàn thế giới tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.

Trong nghiên cứu gần đây của Jajri (2007) phát hiện ra tỷ trọng xuất khẩu trong

GDP của Malaysia trong giai đoạn 1971-2004 tác động tích cực đến tăng trưởng

kinh tế quốc gia này.

𝐺𝐷𝑃𝑖𝑡 : Là biến đại diện cho sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế giữa các

tỉnh, thành phố dẫn đến sự chênh lệch trong khả năng nghiên cứu và thay đổi công

nghệ của khu vực đó. Đối với hiệu quả của GDP bình qn đầu người, Kui-yin

Cheung và Ping Lin (2003) nhận thấy có những tác động tích cực đáng kể trong tất



17



cả các trường hợp trong việc ước lượng dữ liệu bảng đối với 26 tỉnh của Trung

Quốc cho giai đoạn 1995-2000. Điều này chỉ ra rằng các tỉnh phát triển tốt hơn về

mặt kinh tế (như khu vực ven biển) có khuynh hướng hoạt động R&D sẽ cao hơn

các khu vực còn lại. Phát hiện này khơng đáng ngạc nhiên bởi vì mức độ vốn con

người, cơ sở hạ tầng... nhìn chung có tương quan dương với mức độ phát triển kinh

tế. Điều này củng cố niềm tin rằng mức độ phát triển kinh tế là một yếu tố quyết

định chính cho hoạt động thay đổi giữa các tỉnh ở Trung Quốc.

3.3 Phương pháp ước lượng và lựa chọn mơ hình

Để đánh giá định lượng qua mơ hình hồi quy (1) học viên sẽ sử dụng cả ba

loại mơ hình POLS cho dữ liệu bảng (cross-section data và time-series data); Mơ

hình tác động ngẫu nhiên (REM), Mơ hình tác động cố định (FEM) cho dữ liệu

mảng (panel data) trong giai đoạn 2010 – 2014 và sau đó sẽ chọn ra kết quả tối ưu

nhất cũng như so sánh sự khác biệt giữa các mơ hình.

Phương pháp ước lượng cho dữ liệu mảng giả định rằng hệ số chặn trong Mơ

hình (1) thay đổi theo từng tỉnh và được đặt là βoi . Theo đó, hai giả thuyết thay thế

được đưa ra. “Mơ hình tác động cố định (FEM)” cho rằng hệ số chặn βoi là một giá

trị cố định, không biến đổi giữa các tỉnh. Trong khi đó, “Mơ hình tác động ngẫu

nhiên (REM)” lại đưa ra giả định hệ số βoi là biến thiên, được cho dưới công thức

βoi = ̅

βo + ui , trong đó ̅

βo là biến số phân bố ngẫu nhiên độc lập xác định với giá

trị trung bình bằng 0 và phương sai không đổi. Sai số ui có thể xem như là đại diện

cho thành phần tỉnh, thể hiện mơi trường kinh doanh của tỉnh đó (như là chất lượng

cơ sở hạ tầng và/hoặc mức độ thi hành luật sở hữu trí tuệ…).

Học viên lần lượt thực hiện mơ hình hồi quy FE và RE cho từng biến phụ

thuộc. Để lựa chọn sự phù hợp giữa hai mơ hình FE và RE, kiểm định Hausman

(1978) với giá trị χ2 và P-value được liệt kê ở bảng kết quả là kiểm định được áp

dụng phổ biến nhất trong việc so sánh và xác định sự phù hợp của mơ hình FE hay

mơ hình RE (Baltagi, 2008; Gujarati, 2004). Nếu p-value <α thì mơ hình cuối cùng

phù hợp là mơ hình tác động cố định (FE) và ngược lại.



18



Trong cả hai phương pháp tiếp cận, lần lượt sử dụng từng loại bằng sở hữu

công nghiệp làm biến độc lập (sáng chế, giải pháp hữu ích và kiểu dáng cơng

nghệp) cũng như mơ hình tổng gộp cả ba biến trên.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×