Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

15



Định nghĩa các biến

Patent it : Là biến phụ thuộc trong mơ hình, biến đại diện cho mức độ thay

đổi công nghệ của các tỉnh, thành phố, biến này sử dụng số lượng bằng sở hữu công

nghiệp (Patent it ) như một thước đo đầu ra của nghiên cứu và phát triển. Trong

phạm vi bài nghiên cứu, học viên chỉ đề cập đến ba nhân tố để phân tích về sở hữu

công nghiệp ở Việt Nam, bao gồm: kiểu dáng công nghiệp (external design), sáng

chế (invention) và giải pháp hữu ích (ultility model).

FDI it-1 : Là biến đại diện giá trị thực hiện của FDI ở tỉnh i trong năm t, các giá

trị FDI bị tụt hậu trong một khoảng thời gian sử dụng để phân tích hiệu ứng lan tỏa

của FDI. Theo thống kê mô tả trong bộ số liệu thì hầu hết các bằng sáng chế ởViệt

Nam đều là những sự thay đổi nhỏ (chủ yếu là về bằng độc quyền kiểu dáng công

nghiệp cho sản phẩm, xem Bảng 4.1), nên bài nghiên cứu đưa ra giả định rằng

nguồn vốn FDI vào Việt Nam có tác động tới những sự thay đổi trong nước trong

ngắn hạn. Theo như phần lớn các mơ hình lý thuyết về các nghiên cứu thực nghiệm

trước đây đã trình bày trong phần cơ sở lý thuyết ở chương II thì FDI được kỳ vọng

sẽ có tác động dương đến mức độ thay đổi công nghệ. Hệ số β1 đo lường độ lớn và

chiều tác động của tác động tràn FDI tới sự thay đổi khoa học công nghệ

Là các thước đo đầu vào cho hoạt động R&D, bài luận văn bao gồm các biến

như sau:

𝑆&𝑇𝑝𝑒𝑟𝑖𝑡 : Là biến đại diện số lượng nhân lực cho phát triển khoa học và công

nghệ, thể hiện bởi số lao động trong nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp

tại các khu vực khác nhau. Tỉnh, thành phố có số lao động trong các doanh nghiệp

nghiên cứu khoa học và phát triển càng đơng thì càng tạo ra nhiều bằng sở hữu công

nghiệp. Theo Lý thuyết xác định sự lan tỏa công nghệ từ FDI sang các cơng ty trong

nước, trong đó hiệu ứng di chuyển lao động khiến người lao động và người quản lý

làm việc tại các chi nhánh nước ngoài đã được đào tạo với kỹ thuật và kỹ năng quản

lý tiên tiến di chuyển đến các công ty trong nước hoặc thành lậpnên các doanh

nghiệp riêng của họ làm cho năng suất lao động trong nước tăng lên, keó theo việc



16



ngày càng taọ ra nhiều bằng sở hữu cơng nghiệp. Vì vậy, số lượng nhân lực cho

phát triển khoa học và công nghệ tác động dương đến mức độ thay đổi công nghệ

của của một số khu vực. Trong nghiên cứu của mình về tác động lan toả của FDI ở

Malaysia, sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hàng quý giai đoạn 1999 – 2008, Elsadig

Musa Ahmed (2012) đã cho thấy mối quan hệ tích cực giữa lực lượng lao động tác

động tràn lên sự tăng trưởng kinh tế của Malaysia,

S&𝑇𝑒𝑥𝑝it : Là biến đại diện mức chi tiêu cho phát triển khoa học và công nghệ.

FDImang lại nguồn vốn cho nước tiếp nhận. Xia Gao, Wei Zhang (2012) đã chỉ ra

tác động dương của chi tiêu cho R&D lên năng lực thay đổi công nghệ của 30 tỉnh

của Trung Quốc trong giai đoạn 2005-2009. Trong nghiên cứu của Erdal và Gocer

(2015) cũng cho thấy khi dòng vốn FDI tăng một đơ la Mỹ sẽ làm tăng 0.83% chi

tiêu cho R&D và làm tăng 0.42% đơn xin cấp bằng sáng chế ở những nước này

trong giai đoạn 1996-2013.

Fexport it: Là biến đại diện cho tỷ lệ xuất khẩu của các doanh nghiệp. Theo

Arrow (1962) về lý thuyết học tập bằng cách thực hành, cụ thể hơn là thông qua

việc mở cửa thương mại quốc tế đã phần nào làm cho sản phẩm nội địa tiếp cận với

quy chuẩn nghiêm ngặt cuả thị trường quốc tế, muốn thế các doanh nghiệp trong

nước phải học hỏi, vận dụng và cho ra đời nhiều bằng sáng chế để đáp ứng không

những nhu cầu thực tế khắt khe mà còn cạnh tranh lâu dài trên đấu trường toàn cầu.

Nghiên cứu của Miller và Upadhyay (2000) nhận thấy tỷ trọng xuất khẩu trong

GDP của 83 nước trên tồn thế giới tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.

Trong nghiên cứu gần đây của Jajri (2007) phát hiện ra tỷ trọng xuất khẩu trong

GDP của Malaysia trong giai đoạn 1971-2004 tác động tích cực đến tăng trưởng

kinh tế quốc gia này.

𝐺𝐷𝑃𝑖𝑡 : Là biến đại diện cho sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế giữa các

tỉnh, thành phố dẫn đến sự chênh lệch trong khả năng nghiên cứu và thay đổi công

nghệ của khu vực đó. Đối với hiệu quả của GDP bình qn đầu người, Kui-yin

Cheung và Ping Lin (2003) nhận thấy có những tác động tích cực đáng kể trong tất



17



cả các trường hợp trong việc ước lượng dữ liệu bảng đối với 26 tỉnh của Trung

Quốc cho giai đoạn 1995-2000. Điều này chỉ ra rằng các tỉnh phát triển tốt hơn về

mặt kinh tế (như khu vực ven biển) có khuynh hướng hoạt động R&D sẽ cao hơn

các khu vực còn lại. Phát hiện này khơng đáng ngạc nhiên bởi vì mức độ vốn con

người, cơ sở hạ tầng... nhìn chung có tương quan dương với mức độ phát triển kinh

tế. Điều này củng cố niềm tin rằng mức độ phát triển kinh tế là một yếu tố quyết

định chính cho hoạt động thay đổi giữa các tỉnh ở Trung Quốc.

3.3 Phương pháp ước lượng và lựa chọn mơ hình

Để đánh giá định lượng qua mơ hình hồi quy (1) học viên sẽ sử dụng cả ba

loại mơ hình POLS cho dữ liệu bảng (cross-section data và time-series data); Mơ

hình tác động ngẫu nhiên (REM), Mơ hình tác động cố định (FEM) cho dữ liệu

mảng (panel data) trong giai đoạn 2010 – 2014 và sau đó sẽ chọn ra kết quả tối ưu

nhất cũng như so sánh sự khác biệt giữa các mơ hình.

Phương pháp ước lượng cho dữ liệu mảng giả định rằng hệ số chặn trong Mơ

hình (1) thay đổi theo từng tỉnh và được đặt là βoi . Theo đó, hai giả thuyết thay thế

được đưa ra. “Mơ hình tác động cố định (FEM)” cho rằng hệ số chặn βoi là một giá

trị cố định, không biến đổi giữa các tỉnh. Trong khi đó, “Mơ hình tác động ngẫu

nhiên (REM)” lại đưa ra giả định hệ số βoi là biến thiên, được cho dưới công thức

βoi = ̅

βo + ui , trong đó ̅

βo là biến số phân bố ngẫu nhiên độc lập xác định với giá

trị trung bình bằng 0 và phương sai khơng đổi. Sai số ui có thể xem như là đại diện

cho thành phần tỉnh, thể hiện mơi trường kinh doanh của tỉnh đó (như là chất lượng

cơ sở hạ tầng và/hoặc mức độ thi hành luật sở hữu trí tuệ…).

Học viên lần lượt thực hiện mơ hình hồi quy FE và RE cho từng biến phụ

thuộc. Để lựa chọn sự phù hợp giữa hai mơ hình FE và RE, kiểm định Hausman

(1978) với giá trị χ2 và P-value được liệt kê ở bảng kết quả là kiểm định được áp

dụng phổ biến nhất trong việc so sánh và xác định sự phù hợp của mơ hình FE hay

mơ hình RE (Baltagi, 2008; Gujarati, 2004). Nếu p-value <α thì mơ hình cuối cùng

phù hợp là mơ hình tác động cố định (FE) và ngược lại.



18



Trong cả hai phương pháp tiếp cận, lần lượt sử dụng từng loại bằng sở hữu

công nghiệp làm biến độc lập (sáng chế, giải pháp hữu ích và kiểu dáng cơng

nghệp) cũng như mơ hình tổng gộp cả ba biến trên.



19



CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM

Nội dung chính của chương này là trình bày kết quả hồi quy, xem xét mức độ

mà dòng vốn FDI vào từng tỉnh, thành phố Việt Nam đã tác động đến hoạt động đổi

mới của các cơng ty trong nước. Thêm vào đó phần này còn đưa ra phân tích và giải

thích về các kết quả mang lại. Tuy nhiên, trước khi trình bày kết quả phân tích là

phần tổng quan xu hướng dòng vốn FDI vào Việt Nam và hệ thống văn bằng bảo

hộquyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam trong những năm gần đây.

4.1 Tổng quan xu hướng dòng vốn FDI vào Việt Nam

Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam ban hành từ cuối năm 1987 và pháp lệnh

Chuyển giao công nghệ nước ngồi vào Việt Nam 1988 từ đó nước ta bắt đầu quá

trình thu hút FDI từ năm 1988. Như minh họa trong hình 4.1, chỉ trong 3 năm đầu

(1988 - 1990), nước ta đã thu hút trên 1,603 tỷ USD. Ở giai đoạn 1996-2000, nhờ

những kết quả mang lại ở giai đoạn trước đã tạo tiền đề cho dòng vốn này chảy

mạnh vào Việt Nam vào năm 1996 với gần 10 tỷ USD (tạo làn sóng FDI đầu tiên).

Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997, nền kinh tế

Việt Nam gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu và dòng vốn FDI từ các quốc gia

trong khu vực cũng giảm rất nhanh. Giai đoạn 2001 - 2005 là thời kỳ thu hút FDI

gặp nhiều khó khăn. Do tác động từ bối cảnh quốc tế, nhiều quốc gia trong khu vực,

đặc biệt là Trung Quốc cải thiện môi trường đầu tư (cạnh tranh hơn) đã tác động ít

nhiều đến q trình thu hút FDI của Việt Nam. Trong khi đó, mơi trường đầu tư của

Việt Nam chưa thật sự hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng với lợi thế về ổn

định kinh tế vĩ mơ và tình hình chính trị, dòng vốn FDI vẫn duy trì nhưng khơng

bằng giai đoạn 1996-2000. Sang giai đoạn 2006 - 2010 đã đánh dấu thời kỳ khởi sắc

của dòng vốn FDI, đây là giai đoạn Việt Nam bước vào sân chơi WTO (gia nhập

năm 2007) và đã tạo ra làn sóng FDI thứ hai trong năm 2008 khi cả năm thu hút

1,171 dự án với tổng vốn đăng ký lên đến 71.7 tỷ USD, gần bằng số vốn FDI lũy kế

của giai đoạn từ 1988 - 2007 (77.8 tỷ). Sang năm 2009 và 2010, vốn FDI sụt giảm

rất lớn so với năm 2008, tương đương 1/3 so với mức kỷ lục năm 2008, nhưng cũng

không phải là kết quả tồi trong bối cảnh kinh tế tồn cầu rơi vào khủng hoảng tài

chính và suy thoái kinh tế. Giai đoạn từ 2011 đến nay, dù có những khó khăn xuất

phát từ bất ổn nội tại của nền kinh tế Việt Nam nhưng nhìn chung vẫn đạt kế hoạch

thu hút FDI đề ra, bình quân trên dưới 20 tỷ USD/năm, vốn giải ngân cũng khá ổn

định và có tăng trưởng tốt (Nguyễn Tấn Vinh, 2017).



20



Số dự án

Tổng vốn đăng ký (Triệu đô la Mỹ) (*)



Số dự án



Triệu USD



Tổng số vốn thực hiện (Triệu đô la Mỹ)



Hình 4.1: Xu thế số dự án và dòng vốn FDI giai đoạn 1988 –sơ bộ 2016

(Nguồn: Tổng Cục Thống Kê, 2018)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×