Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



trong các ngành đó. Sự hiện diện của các cơng ty đa quốc gia cùng với các sản

phẩm mới và các cơng nghệ tiên tiến có thể buộc các cơng ty trong nước bắt chước

hoặc đổi mới thay đổi. Sự đe dọa của cạnh tranh cũng có thể khuyến khích các cơng

ty trong nước để tìm kiếm cơng nghệ mới. Một lộ trình khác cho sự lan tỏa cơng

nghệ là chuyển dịch lao động từ các chi nhánh công ty nước ngồi sang các cơng ty

trong nước.

2.1.2 Tác động lan tỏa của FDI

Lý thuyết xác định sự lan tỏa công nghệ của FDI từ các cơng ty nước ngồi

sang cơng ty trong nước phân thành 2 nhóm: tác động lan tỏa theo chiều ngang; và

tác động lan tỏa liên ngành/dọc.

2.1.2.1 Tác động lan tỏa theo chiều ngang:

• Hiệu ứng trình diễn: đại diện cho kênh "giả" của sự lan truyền "Hiệu ứng

học tập bằng cách theo dõi" (Jutta Gunther, 2002). Công nghệ mới được giới thiệu

đến các nước sở tại, các cơng ty này có thể quan sát hoạt động, kỹ năng hoặc kỹ

thuật của các cơng ty nước ngồi, bắt chước họ hoặc nỗ lực để có những kỹ thuật

mới và áp dụng chúng, dẫn đến cải tiến sản xuất (Wang và Blomstrom, 1992).

• Tác động cạnh tranh: ảnh hưởng gián tiếp của FDI đối với hiệu quảvà thay

đổi của nước chủ nhà thông qua tăng cường cạnh tranh xem như là một hình thức

của hiệu ứng lan tỏa. Việc các nước đa quốc gia tham gia vào thị trường trong nước

chắc chắn sẽ không tránh khỏi tăng việc cạnh tranh của các doanh nghiệp trong

nước. Dưới sự cạnh tranh ngày càng tang này, các doanh nghiệp trong nước buộc

phải vận hành hiệu quả hơn và đưa ra các cơng nghệ mới sớm hơn có thể. (Kokko,

1994& 1996; Wang và Blomstrom, 1992).

• Hiệu ứng di chuyển lao động: Hiệu ứng này xảy ra khi người lao động và

người quản lý làm việc tại các chi nhánh nước ngoài đã được đào tạo với kỹ thuật

và kỹ năng quản lý tiên tiến di chuyển đến các công ty trong nước hoặc thành lập

nên các doanh nghiệp riêng của họ (Fosfuri, 1996). Một vài lý thuyết đã dự đốn

ảnh hưởng tích cực về sự hiện diện của FDI đến năng suất lao động trong nước



6



thông qua kênh lao động di chuyển (Kaufmann, 1997; Fosfuri, Motta và Rønde,

2001; Glass và Saggi, 2002).

2.1.2.2 Tác động lan truyền liên ngành/theo chiều dọc

Thông thường, sự lan truyền theo chiều dọc xảy ra khi kết quả của sự tương

tác giữa các công ty trong nước và nước ngồi khơng thuộc cùng một ngành. Tác

động lan tỏa theo chiều dọc xảy ra khi các doanh nghiệp FDI chuyển giao bí quyết

cơng nghệ cho nhà cung cấp địa phương thông qua việc cấp giấy phép công nghệ và

đào tạo nhân viên. Những ảnh hưởng của liên kết này đã được Lall (1980) và Clare

(1996) đưa ra. Đây là những trường hợp khi các công ty đa quốc gia là nhà cung cấp

(liên kết xuôi) hoặc là người mua (liên kết ngược) với các cơng ty trong nước:

• Lan tỏa qua các liên kết ngược: FDI cũng có thể góp phần vào cải tiến cơng

nghệ cho các nhà cung cấp địa phương hoặc các nhà cung cấp tiềm năng bằng cách

hỗ trợ kỹ thuật cho các cơng ty này

• Lan tỏa thông qua các liên kết xuôi: các công ty đa quốc gia cũng có thể

cung cấp đào tạo và nhiều loại hình hỗ trợ kỹ thuật khác cho khách hàng của họ.

Nhìn chung, cả hai loại tác động lan tỏa sẽ hiệu quả hơn khi các doanh nghiệp

có liên quan đặt gần nhau hơn bởi vì khoảng cách địa lý tạo điều kiện cho việc tiếp

thu kiến thức. Việc sử dụng dữ liệu ở cấp tỉnh trong bài nghiên cứu giúp nắm bắt

quy mô không gian của tác động lan tỏa FDI.

2.2. Khái niệm và nhân tố tác động đến R&D

Có nhiều khái niệm về R&D, nhưng chủ yếu đó là q trình tạo ra tri thức,

trong đó sử dụng các nguồn khác nhau (các nhà khoa học, kỹ sư, số lượng lao động,

chi phí đầu tư cho nhà xưởng, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, v.v ...) để cho ra đời

những kiến thức hay công nghệ mới.

Theo Erdal & Gocer, 2015 thì hàm R&D có thể được đại diện bởi phương

trình sau:

𝐼 = 𝑓 (𝐿, 𝐾, 𝐼0 )



7



Trong đó L và K đại diện cho đầu vào lao động và vốn, I đại diện cho đầu ra

R&D, gắn liền trong các sản phẩm hoặc các quy trình mới do quá trình R&D tạo ra.

Thành phần 𝐼0 là viết tắt của mức kiến thức ban đầu sẵn có khi dự án R&D liên

quan bắt đầu.

Một trong những kênh quan trọng góp phần vào trình độ kiến thức ban đầu là

FDI đầu vào. Bằng cách đưa các công nghệ và sản phẩm mới vào nước sở tại, FDI

có thể mang lại lợi ích cho sự thay đổi của các công ty trong nước bằng nhiều cách.

Thứ nhất, các công ty trong nước có thể tìm hiểu về thiết kế của các sản phẩm và

công nghệ mới, thông qua kỹ thuật đảo ngược và sau đó họ cải tiến để đưa ra những

thay đổi công nghệ. Kinh nghiệm của Nhật Bản trong những năm 1960-1970 là một

ví dụ điển hình của hình thức học tập này (Dicken, P, 1988). Thứ hai, FDI đầu vào

còn gây ra tác động lan tỏa cho các doanh nghiệp nội địa thông qua việc trao đổi thị

trường lao động, từ đó nhân viên có tay nghề từng làm việc cho các doanh nghiệp

FDI chuyển sang các công ty trong nước. Khá nhiều vụ kiện chống lại cạnh tranh

không lành mạnh ở Trung Quốc trong những năm gần đây có liên quan đến loại

hình di chuyển laođộng này (Chu, 2001). Thứ ba, FDI có thể gây ra "hiệu ứng trình

diễn"/"demonstration effect", sự có mặt của các sản phẩm nước ngồi ở thị trường

nội địa có thể kích thích tư duy sáng tạo của các cơng ty nội địa này và do đó giúp

tạo ra bản sao của các sản phẩm và công nghệgiống như ở thị trường ngoài nước

(Kui-yin Cheung & Ping Lin, 2002). Hơn nữa, vì các sản phẩm hoặc cơng nghệ mà

các doanh nghiệp FDI đưa vào đã được thử nghiệm nên phần nào khiến các sản

phẩm và cơng nghệ tương tự có khả năng hoạt động tốt ở các nước sở tại. Hiệu ứng

trình diễn hoạt động mạnh mẽ hơn đối với những thay đổi nhỏ và đáng kể ở các

nước chẳng hạn như Việt Nam, nơi thiếu sự đa dạng về sản phẩm trước khi có sự

tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài.

Để tập trung vào những tác động của FDI đối với sự thay đổi cơng nghệ,

chúng ta có thể viết lại phương trình đã đưa ra tương đương như sau:

𝐼 = 𝑓 (𝐿, 𝐾, 𝐹𝐷𝐼 )



8



2.3 Mơ hình tăng trưởng và FDI

2.3.1 Mơ hình tăng trưởng tân cổ điển và FDI

Các nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của FDI đến tăng trưởng kinh tế,

mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế được xác định bởi các mơ hình tăng

trưởng tân cổ điển truyền thống mà đạidiện là mơ hình Solow (1957). Mơ hình tăng

trưởng tân cổ điển cho rằng lực lượng lao động và tiến bộ khoa học cơng nghệ là

ngoại sinh, do đó FDI làm tăng mức thu nhập trong nước và nó khơng có tác dụng

dài hạn lên tăng trưởng kinh tế.

2.3.2 Mơ hình tăng trưởng nội sinh và FDI (Endogenous Growth Model)

Romer (1993) cho rằng sản lượng có quan hệ với vốn, lao động và tri thức,

trong đó đầu tư cho giáo dục và đào tạo có thể làm tăng tri thức. Lucas (1988) lại

cho rằng vốn con người có hiệu suất tăng dần theo quy mô, và tăng trưởng phụ

thuộc vào mức độ đầu tư cho từng loại vốn. Mặt khác theo Grossman và Helpman

(1991) thì thơng qua tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp có động cơ đầu tư cho

các hoạt động R&D. Khác với lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển thì lý thuyết tăng

trưởng nội sinh đã lý giải một cách rõ ràng hơn vai trò của FDI đối với quá trình

tăng trưởng khi đưa kênh tác động trực tiếp và gián tiếp (hiệu ứng lan tỏa) vào mơ

hình

2.4 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan

Các nghiên cứu trong những năm gần đây đã cho thấy có sự gia tăng đáng kể

từ đầu tư trực tiếp nước ngồi, tuy nhiên vẫn có phát hiện rằng khơng có hoặc có kết

quả khơng đáng kể về mặt thống kê từ sự lan truyền của công nghệ. Có những lập

luận ủng hộ FDI là một phương tiện để chuyển giao công nghệ chẳng hạn như

nghiên cứu báo cáo tác động lan tỏa tích cực bao gồm các nghiên cứu trước đây của

Caves (1974) cho thấy những tác động lan tỏa tích cực trong ngành sản xuất của Úc,

Findly (1978) cho thấy vốn ở các cơng ty có vốn đầu tư nước ngồi đóng vai trò

khuyến khích cải tiến cơng nghệ nói chung - cơ hội mà các công ty trong nước phải

quan sát công nghệ tiên tiến mà các cơng ty có vốn đầu tư nước ngồi sử dụng thì



9



nhanh hơn cơng nghệ phát triển trong nước, Wang (1990) mở rộng mơ hình của

Findlay bằng cách thiết lập một liên kết giữa FDI và sự tăng trưởng của nguồn nhân

lực trong nước, Walz (1997) cho thấy sự hiện diện của các cơng ty có vốn đầu tư

nước ngoài ở các nước kém phát triển mang về các tác động lan truyền kiến thức

đến lĩnh vực R&D trong nước và do đó góp phần tăng trưởng kinh tế. Trong mơ

hình của Fosfuri và cộng sự (2002); Glass và Saggi (2002a) trình bày các mơ hình

cơng nghệ lan truyền thơng qua doanh thu lao động. Trong khi đó, Glass và Saggi

(2002b) lập luận thêm rằng sự có mặt của FDI đối với các doanh nghiệp trong nước

sẽ có lợi bằng cách hạ thấp chi phí bắt chước. Thực vậy, các nước đang phát triển

đang cố gắng thu hút thêm FDI, nhập khẩu công nghệ cao từ các nền kinh tế phát

triển thông qua các kênh như kỹ thuật đảo ngược, doanh thu lao động có kỹ năng,

hiệu ứng trình diễn, quan hệ khách hàng (Cheung và Lin, 2004). Đối với khả năng

hấp thụ của quốc gia hoặc doanh nghiệp, nội địa hóa và sử dụng các kiến thức có

tiềm năng sẵn có cho họ bởi dòng vốn FDI là đáng kể và cần thiết (Ito et al, 2012).

Tuy nhiên khả năng hấp thụ của các doanh nghiệp trong nước phụ thuộc vào công

nghệ/mức độ hiệu quả và công nhân lành nghề/nguồn nhân lực (Gorodnichenko et

al, 2014).

Ngược lại, một số nghiên cứu khơng tìm thấy bằng chứng hỗ trợ các hiệu ứng

tích cực hay thậm chí nếu có thì hiệu ứng lan tỏa cũng là tiêu cực đáng kể như

nghiên cứu của Germidis (1977); Haddad và Harrison (1993) tìm thấy những tác

động xấu liên quan đến FDI ở Ma-rốc; Kokko và Tansini (1996) cho Uruguayan

nhận thấy hầu như khơng có bằng chứng chuyển giao cơng nghệ từ nước ngồi cho

các doanh nghiệp trong nước. Nghiên cứu của Aitken và Harrison (1999) ở

Venezuela cho thấy FDI ảnh hưởng bất lợi đến năng suất của các doanh nghiệp

trong nước, để giải thích kết quả, họ đưa ra một giả thuyết "đánh cắp thị trường"

cho rằng, trong khi FDI có thể thúc đẩy chuyển giao cơng nghệ, các cơng ty có vốn

đầu tư nước ngoài chiếm thị phần trong nước và buộc doanh nghiệp trong nước phải

sản xuất ra các sản phẩm nhỏ hơn với chi phí trung bình cao hơn. Aslanoglu (2000)

cho Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy mặc dù sự hiện diện của các cơng ty nước ngồi làm tăng



10



khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp trong nước nhưng không đóng góp

đáng kể vào năng suất của các doanh nghiệp trong nước này, ngồi ra nghiên cứu

cũng khơng cho thấy có mối quan hệ quan trọng nào đối với tác động của khoảng

cách công nghệ giữa các công ty trong và ngoài nước về năng suất và tăng trưởng

thị trường của các doanh nghiệp trong nước.

Dưới đây là phần điểm qua một vài nghiên cứu thực nghiệm gần đây về tác

động của FDI đến thay đổi công nghệ:

Trong nghiên cứu của Erdalvà Gocer (2015) về tác động của FDI đến R&D và

thay đổi công nghệ ở các nước châu Á đang phát triển, tác giả sử dụng dữ liệu bảng

và phương pháp hợp nhất ở 10 nước đang phát triển ở châu Á gồm Trung Quốc,

Hàn Quốc, Ấn Độ, Iran, Pakistan, Malaysia, Singapore, Thái Lan,Ả-rập Xê-út và

Thổ Nhĩ Kỳ cho giai đoạn 1996-2013. Bằng cách sử dụng dữ liệu về chi phí R&D

(RD), số đơn đăng ký sáng chế cả trong nước và nước ngoài (IN), vốn cổ phần bằng

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giai đoạn 1996-2013. Ở đây, chi tiêu của

R&D và số liệu FDI tính bằng tỷ đô la Mỹ, số lượng đơn xin cấp bằng sáng chế là

số lượng tổng và tất cả các chuỗi sử dụng ở dạng lơgarít. Các mức độ cố định đã

được điều tra bằng các kiểm định kiểu Fisher bằng việc sử dụng các kiểm định ADF

và PP (Maddala và Wu, 1999); Breitung (2000). Các hệ số riêng lẻ giữa các chuỗi

được phát hiện bằng cách sử dụng các phép thử Pairwise Dumitrescu Hurlin Panel

Causality và các hệ số chung được phát hiện bởi phép thử Pairwise Granger

Causality. Các mối quan hệ hợp nhất giữa các chuỗi được xác định bởi các phép thử

kiểu Fisher sử dụng phép thử của Johansen (Maddala và Wu, 1999). Hệ số hợp nhất

được ước tính bởi PDOLS (Panel Dynamic Ordinary Least Squares). Kết quả cho

thấy rằng: chi tiêu cho R&D, hoạt động thay đổi công nghệ và luồng vốn FDI

không theo xu hướng ổn định, các nhà hoạch định chính sách cần tạo ra những sáng

kiến để ổn định những vấn đề này, khơng những thế các phép thử còn cho thấy mối

quan hệ nhân quả hai chiều giữa FDI, chi tiêu R&D và IN, trong những kết quả

tương tự cũng có thể nói rằng luồng vốn FDI đi vào làm tăng tiến độ R&D và các

hoạt động thay đổi ở nước sở tại. Khi dòng vốn FDI tăng một tỷ đơ la Mỹ sẽ làm



11



tăng 0.83% chi tiêu cho R&D và làm tăng 0.42% đơn xin cấp bằng sáng chế ở

những nước này trong giai đoạn 1996-2013.

Ở cấp độ vi mô, Zhang (2014) đã điều tra ảnh hưởng của FDI đối với ngành

cơng nghiệp Trung Quốc bằng cách ước tính một số chi tiết kỹ thuật. Ông đã sử

dụng bộ dữ liệu bảng cho 21 ngành sản xuất và 31 khu vực trong giai đoạn 20052010. Ơng xây dựng mơ hình chỉ số đa chiều để đo lường hiệu suất công nghiệp và

sử dụng tổng sản lượng công nghiệp và đầu người theo FDI độc lập. FDI đã trở

thành động lực cho hiệu quả công nghiệp khi ngành công nghiệp Trung Quốc gia

tăng.

Mặc dù có rất ít tài liệu nghiên cứu về tác động lan tỏa của FDI đối với Việt

Nam nhưng các nghiên cứu trước đây đã tạo nên những kết quả khác nhau. Một số

tác giả đã thừa nhận những tác động tích cực tiềm ẩn của FDI để cải thiện năng suất

nhưng cho rằng hiệu quả của mối liên hệ này là rất yếu (Tran, 2004 và SchaumburgMüller, 2003) hoặc nhỏ hơn những gì thường tìm thấy ở các nước khác (Mirza,

2003 và Giroud, 2004). Schaumburg-Muller (2003) đã kiểm tra sự phát triển của

FDI ở Việt Nam trong những năm 1990 chỉ sử dụng cấp độ dữ liệu vĩ mô, một kết

luận quan trọng từ nghiên cứu này là FDI đã không đạt đến mức kỳ vọng của mối

liên kết và sự lan tỏa công nghệ mặc dù về lâu dài là có tiềm năng cho những điều

này, đặc biệt thông qua nâng cao kỹ năng của lực lượng lao động. Sử dụng một

khảo sát gần đây của các công ty con tại những công ty xuyên quốc gia, Mirza

(2003) và Giroud (2004) đưa ra một số bằng chứng về tác động lan tỏa cho Việt

Nam. Khoảng 32% đầu vào FDI lấy từ các cơng ty có trụ sở tại địa phương (cả

trong và ngoài nước). Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng như vậy nhỏ hơn Thái Lan và

Malaysia do khơng có kế hoạch hợp tác với các nhà cung cấp trong khu vực ở Việt

Nam. Các tác giả này khuyến nghị rằng Việt Nam cần tìm kiếm các bài học từ

Malaysia và Thái Lan để thu hút các cơng ty xun quốc gia.

Ngồi ra, các tác giả khác sử dụng kỹ thuật kinh tế lượng đã phát hiện có bằng

chứng về tác động lan tỏa. Lê Thanh Thúy (2005) nghiên cứu tác động lan tỏa công



12



nghệ vào FDI đối với năng suất lao động cho 29 ngành của Việt Nam cho hai giai

đoạn 1995-1999 và 2000-2002. Bà thấy rằng có bằng chứng về tác động lan tỏa từ

đầu tư trực tiếp nước ngoài vào năng suất của các ngành công nghiệp trong nước ở

Việt Nam trong giai đoạn 1995-1999 nhưng hiệu quả này đã trở nên yếu hơn trong

giai đoạn 2000-2002 (có thể do hiệu ứng ăn cắp của thị trường). Nguyễn Tuấn Anh

và cộng sự (2006) là người đầu tiên sử dụng mức độ vững chắc dữ liệu để điều tra

tác động lan tỏa FDI, tương tự như Lê Thanh Thuý (2005), Nguyễn Tuấn Anh và

cộng sự chỉ điều tra tác động của FDI đối với năng suất lao động. Kết luận chung từ

nghiên cứu này là sự có mặt của FDI cải thiện năng suất lao động của các doanh

nghiệp trong nước.

Nhìn chung, các nghiên cứu ở trên đều cung cấp những lý thuyết nền rất tốt

cho nghiên cứu trong bài luận văn. Trong nghiên cứu của mình, với mục tiêu đánh

giá tác động lan tỏa của FDI đến thay đổi công nghệ ở Việt Nam bằng cách sử dụng

dữ liệu cấp tỉnh, với nguồn số liệu đã thu thập, học viên sẽ sử dụng cả ba loại mơ

hình POLS cho dữ liệu bảng (cross-section data và time-series data); Mơ hình tác

động ngẫu nhiên (REM), Mơ hình tác động cố định (FEM) cho dữ liệu bảng (panel

data) trong giai đoạn 2010 – 2014 và sau đó sẽ chọn ra kết quả tối ưu nhất để đánh

giá tác động của dòng vốn FDI đến thay đổi cơng nghệ trong đó có tính đến sự

khơng đồng nhất khu vực giữa các tỉnh, thành phố.



13



2.5 Khung phân tích



FDI

Sáng chế

Lực lượng lao

động cho R&D

Chi tiêu cho R&D



Thay đổi công

nghệ



Xuất nhập khẩu



Giải pháp hữu

ích



Kiểu dáng cơng

nghiệp



GDP bình qn

đầu người



Hình 2.1: Khung phân tích đề nghị



14



CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Nguồn dữ liệu

Dữ liệu được lấy từ Niên giám thống kê hằng năm của Tổng cục Thống kê

Việt Nam (GSO) và báo cáo tổng kết của Cục Sở Hữu Trí Tuệ hằng năm, nghiên

cứu sử dụng số liệu trong giai đoạn 2010-2014 ở cấp độ tỉnh. Tuy nhiên, do có hạn

chế về số liệu thống kê không đầy đủ hoặc không có số liệu liên quan, học viên loại

trừ 7 tỉnh (gồm Ninh Bình, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Bình, Gia

Lai, Cà Mau) ra bộ dữ liệu. Do đó, mẫu nghiên cứu bao gồm 280 quan sát của 56

tỉnh, thành phố trong vòng 5 năm.

3.2. Mơ hình

Dựa trên mơ hình lý thuyết đã trình bày trong chương 2, học viên sử dụng mơ

hình sau để ước tính tác động lan tỏa của FDI đối với thay đổi công nghệ ở Việt

Nam:

𝑙𝑛𝑃𝑎𝑡𝑒𝑛𝑡𝑖𝑡 = 𝛽0 + 𝛽1 𝑙𝑛𝐹𝐷𝐼𝑖𝑡−1 + 𝛽2 𝑙𝑛𝑆&𝑇𝑝𝑒𝑟𝑖𝑡 + 𝛽3 𝑙𝑛𝑆&𝑇𝑒𝑥𝑝𝑖𝑡

+ 𝛽4 𝑙𝑛𝐹𝑒𝑥𝑝𝑜𝑟𝑡𝑖𝑡 + 𝛽5 𝑙𝑛𝑃𝐺𝐷𝑃𝑖𝑡 + 𝜀𝑖𝑡 (1)

Với i ký hiệu cho tỉnh và t ký hiệu cho năm tác động. Tất cả các biến số sử

dụng trong mơ hình đều tính tốn dưới dạng logarit cơ số tự nhiên.

Biến Patent it là biến phụ thuộc trong mơ hình, biến đại diện cho mức độ thay

đổi cơng nghệ của các tỉnh, thành phố. Biến FDI it−1 là biến mục tiêu phân tích của

mơ hình. Các biến còn lại là các biến kiểm sốt, trong đó biến S&𝑇𝑝𝑒𝑟it đại diện

cho số lượng nhân lực cho phát triển khoa học và công nghệ, S&𝑇𝑒𝑥𝑝it đại diện cho

chi tiêu cho phát triển khoa học và cơng nghệ. Bên cạnh đó, để kiểm tra giả định

rằng các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ sang thị trường quốc tế có xu

hướng đẩy mạnh hoạt động thay đổi công nghệ nhiều hơn, bài nghiên cứu đưa vào

mơ hình hồi quy biến giá trị xuất khẩu hàng hóa (Fexport it ), PGDPit đại diện cho

khả năng thay đổi công nghệ của các khu vực khác nhau, thể hiện bởi mức GDP

bình quân đầu người.



15



Định nghĩa các biến

Patent it : Là biến phụ thuộc trong mơ hình, biến đại diện cho mức độ thay

đổi công nghệ của các tỉnh, thành phố, biến này sử dụng số lượng bằng sở hữu công

nghiệp (Patent it ) như một thước đo đầu ra của nghiên cứu và phát triển. Trong

phạm vi bài nghiên cứu, học viên chỉ đề cập đến ba nhân tố để phân tích về sở hữu

công nghiệp ở Việt Nam, bao gồm: kiểu dáng công nghiệp (external design), sáng

chế (invention) và giải pháp hữu ích (ultility model).

FDI it-1 : Là biến đại diện giá trị thực hiện của FDI ở tỉnh i trong năm t, các giá

trị FDI bị tụt hậu trong một khoảng thời gian sử dụng để phân tích hiệu ứng lan tỏa

của FDI. Theo thống kê mô tả trong bộ số liệu thì hầu hết các bằng sáng chế ởViệt

Nam đều là những sự thay đổi nhỏ (chủ yếu là về bằng độc quyền kiểu dáng công

nghiệp cho sản phẩm, xem Bảng 4.1), nên bài nghiên cứu đưa ra giả định rằng

nguồn vốn FDI vào Việt Nam có tác động tới những sự thay đổi trong nước trong

ngắn hạn. Theo như phần lớn các mơ hình lý thuyết về các nghiên cứu thực nghiệm

trước đây đã trình bày trong phần cơ sở lý thuyết ở chương II thì FDI được kỳ vọng

sẽ có tác động dương đến mức độ thay đổi công nghệ. Hệ số β1 đo lường độ lớn và

chiều tác động của tác động tràn FDI tới sự thay đổi khoa học công nghệ

Là các thước đo đầu vào cho hoạt động R&D, bài luận văn bao gồm các biến

như sau:

𝑆&𝑇𝑝𝑒𝑟𝑖𝑡 : Là biến đại diện số lượng nhân lực cho phát triển khoa học và công

nghệ, thể hiện bởi số lao động trong nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp

tại các khu vực khác nhau. Tỉnh, thành phố có số lao động trong các doanh nghiệp

nghiên cứu khoa học và phát triển càng đơng thì càng tạo ra nhiều bằng sở hữu công

nghiệp. Theo Lý thuyết xác định sự lan tỏa công nghệ từ FDI sang các cơng ty trong

nước, trong đó hiệu ứng di chuyển lao động khiến người lao động và người quản lý

làm việc tại các chi nhánh nước ngoài đã được đào tạo với kỹ thuật và kỹ năng quản

lý tiên tiến di chuyển đến các công ty trong nước hoặc thành lậpnên các doanh

nghiệp riêng của họ làm cho năng suất lao động trong nước tăng lên, keó theo việc



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×