Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Rủi ro tiềm tàng (IR) trong lĩnh vực kinh doanh và lịch sử hoạt động của DXG

Rủi ro tiềm tàng (IR) trong lĩnh vực kinh doanh và lịch sử hoạt động của DXG

Tải bản đầy đủ - 0trang

8



- Ở góc độ các khoản mục, nghiệp vụ: rủi ro tiềm tàng nằm trong bản chất của các số dư

tài khoản hoặc bản chất của nghiệp vụ. Nói một cách khác, bản thân các khoản mục,

nghiệp vụ này đã ẩn chứa trong nó những rủi ro làm cho chúng có khả năng sai phạm

cao hơn những khoản mục, nghiệp vụ khác.

Khi phân tích đánh giá rủi ro tiềm tàng đòi hỏi phải có một sự hiểu biết sâu sắc, toàn

diện, đầy đủ về thực trạng hoạt động của doanh nghiệp và các yếu tố tác động đến rủi ro

tiềm tàng cũng như đòi hỏi phải có một sự xét đốn nghề nghiệp với những kinh nghiệm

khá tốt mới có thể có được một kết quả chính xác.

2.2.2. Các nhân tố phổ biến ảnh hưởng đến mức độ IR

Ở góc độ doanh nghiệp:

-



Tính chính trực, kinh nghiệm, trình độ năng lực của nhà quản lý: nhà quản lý là người có

quyền quyết định phần lớn các chính sách, hoạt động của doanh nghiệp. Nếu doanh

nghiệp được lãnh đạo bởi một người yếu kém về năng lực, khơng liêm khiết, ít kinh



-



nghiệm thì báo cáo tài chính dễ có sai phạm và do đó rủi ro tiềm tàng sẽ cao hơn.

Áp lực bất thường đối với nhà quản lý: Nhà quản lí thường sẽ gặp phải những áp lực bất

ngờ xảy tới và có thể sẽ ảnh hưởng tới việc ra quyết định của mình. Chẳng hạn, khi

doanh nghiệp thực tế kinh doanh thua lỗ liên tục, mất khả năng thanh tốn có khả năng

dẫn đến việc trình bày báo cáo tài chính sai sự thật về các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lãi



-



lỗ và khả năng thanh tốn các khoản nợ.

Bản chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: quy trình cơng nghệ, số lượng đơn vị

phụ thuộc, sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp ra thị trường, số lượng nhà cung



-



cấp, giá cả ... có ảnh hưởng đến mức độ rủi ro tiềm tàng của doanh nghiệp.

Yếu tố về môi trường kinh doanh và ngành nghề kinh doanh.



Ở góc độ các khoản mục, nghiệp vụ:

-



-



Các khoản mục đã được yêu cầu điều chỉnh trước đây.

Sự phức tạp trong tính tốn số liệu trong các nghiệp vụ kinh tế.

Những ước tính đối với một số khoản mục như: lập dự phòng, trích khấu hao, phân bổ

trích trước chi phí...

Một số tài sản dễ mất mát, tham ơ: tiền, vàng, bạc, đá quý

Các nghiệp vụ bất thường và tính tốn phức tạp; các nghiệp vụ lần đầu tiên xảy ra; các

giao dịch phát sinh cuối năm.



9



2.2.3. Đánh giá rủi ro tiềm tàng

Ở mức độ tổng thể BCTC

Thông thường, BCTC của một cơng ty có mức độ rủi ro cao khi có một trong các đặc

điểm sau:



-



Cơng ty niêm yết trên thị trường chứng khốn.

Cơng ty đại chúng.

Cơng ty có dấu hiệu nghi ngờ về khả năng hoạt động liên tục.

Cơng ty có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

Có nghi ngờ về tính chính trực của BGĐ/Ban Quản trị.

BGĐ Cơng ty có sức ép lớn phải hồn thành các chỉ tiêu tài chính năm.

Cơng ty đang có kiện tụng, tranh chấp.

Cơng ty đang có kiểm tra, thanh tra của cơ quan nhà nước.

Các năm trước có lãi lớn nhưng năm nay bị lỗ lớn.

BCTC có nhiều khoản nợ phải trả lớn, đầu tư tài chính dài hạn lớn, nhiều hoạt động liên



-



doanh, liên kết lớn.

Thường xuyên thay đổi HĐQT, BGĐ, Kế toán trưởng.



-



Để đánh giá rủi ro tiềm tàng cần tiến hành thu thập những thông tin liên quan đến:

-



Môi trường kinh doanh chung, môi trường pháp lý mà DN hoạt động.

Ngành nghề kinh doanh của DN, hoạt động và tình hình kinh doanh.

Cấu trúc tổ chức của DN, các thay đổi lớn về quy mô hoạt động của DN.

Hiểu biết về hệ thống kế toán áp dụng.

Việc thu thập các thơng tin cần thiết về tình hình kinh doanh của đơn vị là một quá trình



bao gồm thu thập, đánh giá và đối chiếu thông tin thu thập được với các bằng chứng. Thời

gian thu thập những thông tin này phụ thuộc vào quy mô của đơn vị đó. Các thơng tin chung

về ngành nghề kinh doanh cũng như các thông tin liên quan đến các chính sách kế tốn được

áp dụng có thể giúp xác định được các rủi ro tiềm tàng trên phương diện BCTC. Thường

đánh giá rủi ro tiềm tàng cao nếu sự thu thập hiểu biết về công ty cho thấy các điều kiện sau:

-



-



Hoạt động trong ở những ngành nghề chứa đựng nhiều rủi ro.

Hoạt động trong môi trường với mức độ phức tạp cao của các qui định có liên quan.

Sự thay đổi về ngành nghề hoạt động kinh doanh của đơn vị.

Có sự thay đổi lớn trong cơ cấu hoạt động của doanh nghiệp như tái tổ chức lại hay có

các sự kiện bất thường diễn ra.

Thiếu các nhân sự chủ chốt về mặt tài chính.

Sự thay đổi của hệ thống công nghệ thông tin liên quan đến việc báo cáo thơng tin tài chính.

Sự áp dụng các ngun tắc kế toán mới….



Ở mức độ khoản mục



10



Việc đánh giá rủi ro tiềm tàng cho từng khoản mục chủ yếu phụ thuộc vào đặc

điểm của khoản mục đó. Việc phân tích sơ bộ BCTC sẽ xác định được các khoản mục,

các biến động bất thường cần được tìm hiểu nguyên nhân hoặc cần tìm những lời giải

thích hợp lý.

2.2. Đánh giá rủi ro tiềm tàng của DXG

Mức độ tổng thể báo cáo tài chính

Tiến hành tìm kiếm thơng tin tài chính, quan hệ của doanh nghiệp, đồng thời

theo dõi các phương tiện thơng tin đại chúng để tìm kiếm thơng tin liên quan đến

doanh nghiệp. Qua quá trình tìm hiểu về doanh nghiệp và mơi trường hoạt động nhóm

đưa ra những nhận xét sau:

-



Môi trường kinh doanh chung: Năm 2017 tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt

6,81%, vượt chỉ tiêu 6,7% do Quốc hội đề ra, và là mức tăng trưởng cao nhất

trong 10 năm qua, theo số liệu mới cơng bố của Tổng cục thống kê. Đây là



-



những tín hiệu tốt ở nền kinh tế mà công ty đang hoạt động.

Ngành nghề kinh doanh: Cơng ty có hoạt động kinh doanh đa dạng trong đó

hoạt động chính là xây dựng – bất động sản. Đây là loại hình chịu nhiều tác

động từ nền kinh tế vĩ mô nhưng luôn có lượng nhu cầu cao từ xã hội, trong khi

đó có tín hiệu tích cực từ nền kinh tế Việt Nam năm vừa qua khi quy mô nền

kinh tế năm 2017 theo giá hiện hành đạt trên 5 triệu tỷ đồng, trong đó khu vực

cơng nghiệp - xây dựng và dịch vụ tiếp tục là thành phần chủ lực, đóng góp

74% vào quy mơ nền kinh tế. Rõ ràng với những tín hiệu đáng mừng như hiện

tại cũng như triển vọng của nghành nghề mà cơng ty hoạt động thì đây sẽ là



-



những bước đệm tốt cho sự phát triển của công ty.

Môi trường pháp lý mà doanh nghiệp hoạt động: Doanh nghiệp hoạt động theo

luật doanh nghiệp, đồng thời doanh nghiệp cũng được hưởng những cơ chế đặc

thù về thuế và tiền thuê đất địa phương (Thành phố Hồ Chí Minh) nơi doanh



-



nghiệp đóng trụ sở.

Những thay đổi về quy mô hoạt động của doanh nghiệp

Về mặt nhân sự:



11







HĐQT của cơng ty DXG có sự thay đổi về nhân sự trong năm 2017, từ 5 người năm 2016

(gồm 1 chủ tịch + 1 phó chủ tịch + 3 thành viên) xuống còn 4 người (gồm 1 chủ tịch + 1

phó chủ tịch + 2 thành viên) khi ơng Phạm Linh khơng còn giữ vị trí thành viên HĐQT









cơng ty.

Ban giám đốc cơng ty DXG khơng khơng có sự thay đổi.

Ban kiểm sốt và Kế tốn trưởng cơng ty khơng có sự thay đổi.

Bên cạnh đó, ngồi những sự thay đổi về nhân sự ở trên, ngành nghề kinh doanh,

các chính sách kế tốn, vốn góp chủ sở hữu và mức đầu tư của công ty vào công ty liên

doanh đều khơng thay đổi.

Kết luận: Qua các phân tích và nhận xét trên, nhóm đưa ra nhận định rằng rủi ro

tiềm tàng trên tổng thể báo cáo tài chính của công ty DXG là thấp.



12



Ở mức độ khoản mục

Để đánh giá rủi ro tiềm tàng trên từng khoản mục, nhóm tiến hành phân tích sơ bộ

BCTC, tiến hành so sánh số liệu với năm 2016 để thấy được những biến động bất thường.

Nếu khoản mục nào có biến động lớn thì rủi ro tiềm tàng được đánh giá là cao.

Bảng so sánh một số khoản mục trên BCTC năm 2017 và 2016



Khoản mục

Tiền

Đầu tư ngắn hạn

Phải thu khách hàng

Phải trả trước khách hàng

Hàng tồn kho

Thuế GTGT được khấu trừ

Tài sản cố định

Phải trả ngắn hạn khác

Vay và nợ thuê tài chính ngắn

hạn

Dự phòng phải trả dài hạn

Vốn chủ sở hữu

Doanh thu thuần bán hàng và

cung cấp dịch vụ

Doanh thu hoạt động tài

chính

Lợi nhuận kế tốn trước thuế



Năm 2016

Số tiền (triệu

VNĐ)

286,985

0

1,867,755

81,292

915,503

7,982

38,857

342,728



Năm 2017

Số tiền (triệu

VNĐ)

423,470

226,023

739,003

255,708

3,400,583

51,075

63,945

753,085



189,927



Biến động

(triệu VNĐ)



(%)



+136,485

+226,023

-1,128,752

+174,416

+2,485,080

+43,093

+25,088

+410,357



+47.56%

-60.43%

+214.55%

+271.44%

+539.88%

+64.56%

+119.73%



658,181



+468,254



+246.54%



0

3,537,355



2,415

4,653,845



+2,415

+1,116,490



+31.56%



2,506,517



2,879,241



+372724



+14.87%



104,660



66,075



-38,585



-36.87%



821,238



1,335,320



+514,082



+62.60%



Lượng tiền mặt của công ty tăng 47,56% đồng thời công ty đã đi vào Đầu tư tài

chính ngắn hạn. Lý do có thể do doanh nghiệp đã xử lý tiền nhàn rỗi tạm thời vào đầu tư

chứng khốn, hoặc mua các cơng cụ nợ. Cần lưu ý để kiểm tra khoản mục này đặc biệt là

vấn đề trích lập dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn trong điều kiện thị trường chứng

khoán biến động liên tục như hiện nay. Rủi ro tiềm tàng của khoản mục này được đánh

giá là cao.

Phải thu khách hàng giảm mạnh khi giảm 60,43%, có thể doanh nghiệp đã xử lý tốt

trong khâu thanh thoán, vốn của doanh nghiệp ít bị chiếm dụng, rủi ro của khoản mục này

được đánh giá là trung bình.



13



Trả trước cho người bán tăng mạnh so với năm 2016. Cần lưu ý chính sách mua

hàng và thanh tốn của cơng ty, có thể cơng ty bị sức ép từ nhà cung cấp độc quyền dẫn

đến phải thanh toán trước khi nhận hàng. Rủi ro tiềm tàng của khoản mục này được đánh

giá là cao.

Hàng tồn kho tăng 271,44% so với năm trước có thể do doanh nghiệp không tiêu

thụ được sản phẩm hoặc doanh nghiệp tăng tích trữ để bán sau này hoặc DN dangd ự trữ

một lượng lớn nguyên vật liệu. Rủi ro tiềm tàng của khoản mục này được đánh giá là cao.

Thuế GTGT được khấu trừ tăng 539,88% so với năm trước có thể do thuế GTGT

đầu vào được khấu trừ của doanh nghiệp tăng nhanh hơn thuế GTGT đầu ra hoặc doanh

nghiệp có sự nhầm lẫn trong phương pháp tính thuế. Rủi ro tiềm tàng của khoản mục này

được đánh giá là cao.

Phải trả ngắn hạn khác tăng 119,73% so với năm trước nên cần lưu ý đến khả năng

thanh tốn ngắn hạn của doanh nghiệp có đáp ứng được yêu cầu không. Rủi ro tiềm tàng

của khoản mục này được đánh giá là cao.

Vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn và dự phòng phải trả dài hạn đều tăng rất mạnh

nên rủi ro tiềm tàng của các khoản mục này được đánh giá là cao.

Vốn chủ sở hữu tăng 31,56% so với năm trước, cần lưu ý đến nguồn gốc làm tăng

vốn chủ sở hữu từ đâu. Rủi ro tiềm tàng của khoản mục này được đánh giá là cao.

Doanh thu bán hàng cung cấp dịch vụ tăng nhẹ với mức tăng 14,87% tuy nhiên

doanh thu hoạt động tài chính của doanh nghiệp giảm 36,87% só với năm trước. Cần lưu

ý các thủ tục kiểm tra doanh thu có thể bị ghi nhận muộn, kiểm tra chính sách ghi nhận

doanh thu. Rủi ro tiềm tàng ở các khoản mục này được đánh giá là cao. Mặc dù doanh thu

tài chính giảm những với việc doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ vẫn tăng thì lợi

nhuận kế tốn trước thuế lại tăng 62,60%. Cơng ty là doanh nghiệp cổ phần nên có thể bị

sức ép doanh thu giảm mà hạ thấp giá vốn hoặc chi phí để lãi cao nhằm tạo kiệu ứng tốt

với các nhà đầu tư. Rủi ro tiềm tàng của các khoản mục này được đánh giá là cao.

Cấp độ cơ sở dẫn liệu

Rủi ro tiềm tàng có thể tồn tại ở những khoản mục có đặc điểm riêng, dễ xảy ra sai

sót như:

Các khoản phải thu: doanh nghiệp có khoản phải thu cao khoảng 50 tỷ, DN đã tiến

hành đánh giá các khoản phải thu và tiền hành trích lập dự phòng đầy đủ cho các khoản

phải thu hay chưa.



14



Hàng tồn kho: doanh nghiệp có lượng hàng tồn kho rất lớn , đây là những hàng hố

có tính chất đặc biệt, khó tiêu thụ trong thời gian ngắn, có hao hụt,... Liệu doanh nghiệp

có đánh giá đúng lượng hàng tồn kho của mình, có rơi vào trường hợp lượng hàng tồn

kho thực tế đã hao hụt nhưng vẫn ghi nhận trên sổ sách.

Chi phí đi vay: doanh nghiệp có khoản vay và nợ thuê tài chính cao, liệu doanh

nghiệp đã tiến hành ghi nhận những chi phí đi vay, đi thuê tài chính đúng đắn và chính xác.

3. Mức trọng yếu trong hoạt động của doanh nghiệp

3.1. Lí thuyết về mức trọng yếu

3.1.1. Khái niệm về mức trọng yếu

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VSA) số 320: Trọng yếu là thuật ngữ dùng

để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế tốn) trong báo cáo tài

chính. Thơng tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thơng tin đó hoặc thiếu

tính chính xác của nó thì sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo cáo

tài chính.

Mức trọng yếu là một mức giá trị được xác định tùy thuộc vào tầm quan trọng và tính

chất của thơng tin hay sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Khi lập kế hoạch kiểm

tốn, để đánh giá những sai sót được coi là trọng yếu, phải xem xét cả hai mặt định lượng và

định tính của sai sót.

3.1.2. Các yếu tố ảnh hướng tới mức trọng yếu

Mức trọng yếu tổng thể cho BCTC (PM) được xác định tùy thuộc vào từng loại hình

doanh nghiệp, thực trạng hoạt động tài chính, mục đích của người sử dụng thơng tin. Những

yếu tố để căn cứ vào và đưa ra mức trọng yếu tổng thể cho BCTC là: doanh thu, lợi nhuận

trước thuế, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu.

Mức trọng yếu phân bổ cho từng khoản mục là mức sai lệch tối đa của khoản mục đó.

Khi phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục, các KTV có thể căn cứ vào phương pháp

phân bổ của cơng ty mình, kinh nghiệm về khoản mục đó, bản chất của khoản mục, các đánh

giá về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát cũng như thời gian và chi phí kiểm tra khoản mục

đó để phân bổ một cách hợp lí.



15



3.1.3. Quy trình xác định mức trọng yếu

Quy trình xác định mức trọng yếu mặc dù không được hướng dẫn cụ thể trong VSA

320 tuy nhiên theo thông lệ quốc tế và trong nhiều cơng bố nghiên cứu tiêu biểu thì về cơ bản

quy trình này gồm có 05 bước đó là :

• Bước 1: Ước lượng ban đầu về Mức trọng yếu cho tổng thể BCTC (Xác định PMPreliminary materiality)

• Bước 2 : Phân bổ mức ước lượng ban đầu về Mức trọng yếu của tổng thể BCTC









cho các khoản mục (TE- Tolerable error)

Bước 3: Ước tính tổng số sai lệch cho từng khoản mục

Bước 4: Ước tính sai lệch của tổng thể BCTC

Bước 5: So sánh sai số tổng hợp ước tính với ước lượng ban đầu (hoặc đã điều



chỉnh) về mức trọng yếu.

Cơng thức xác định như sau:



Mức trọng

yếu



Tiêu chí

lựa chọn



Tỷ lệ %



Có các phương pháp được sử dụng để xác định mức trọng yếu tổng thể cho toàn bộ

BCTC như sau:

Phương pháp 1: Mức trọng yếu được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm so với chỉ tiêu

được lựa chọn.

Theo phương pháp này, VACPA (Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam) đã đưa

ra bảng hướng dẫn đối với việc tính tốn mức trọng yếu trên tổng thể BCTC.

Bảng hướng dẫn của VACPA đối với việc tính tốn mức trọng yếu

Cơ sở ước lượng

Lợi nhuận trước thuế

Doanh thu

Tổng tài sản

Vốn chủ sở hữu



Tỷ lệ ước lượng

5% - 10%

0,5% - 3%

2%

2%



Sau khi đã xác định cơ sở cho việc tính tốn mức trọng yếu, cần có sự điều chỉnh

cơ sở này nếu có các khoản mục, nghiệp vụ bất thường có thể làm cho cơ sở tính tốn đó

khơng phản ánh đúng quy mô của khách hàng. Thông thường, để thận trọng, thường xác

lập mức trọng yếu tổng thể ban đầu thấp hơn mức chỉ đạo chung. Việc thiết lập mức trọng

yếu tổng thể thấp hơn sẽ đồng nghĩa với việc làm tăng thêm khối lượng công việc kiểm



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Rủi ro tiềm tàng (IR) trong lĩnh vực kinh doanh và lịch sử hoạt động của DXG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×