Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1. Ảnh hưởng của nhiệt độ và chiều dài mạch cacbon tới hằng số cân bằng của phản ứng dehydro vòng hóa parafin

Bảng 1. Ảnh hưởng của nhiệt độ và chiều dài mạch cacbon tới hằng số cân bằng của phản ứng dehydro vòng hóa parafin

Tải bản đầy đủ - 0trang

Phản ứng



400K



600K



800K



n- C6H14 → C 6H6 + 4H2



3,82.10-12



0,67



3,68.105



n- C7 H16 → C7H8 + 4H2



6,54.10-10



31,77



9,03.106



n- C8 H18 → C6H5 –C2H2 + 4H2



7,18.10-10



39,54



1,17.107



n- C9 H20 → C6H5C3 H7 + 4H2



1,42.10-9



65,02



1,81.107



Khi tăng nhiệt độ,hằng số cân bằng của phản ứng dehydro vòng hố parafin tăng

lên rất nhanh,nhanh hơn so với cả phản ứng dehydro hố naphten. Nhưng tốc độphản ứng

dehydro vòng hố lại rất nhạy với sự thay đổi áp suất hoặc tỉ số hydro trên hydrocacbon

nguyên liệu. Năng lượng hoạt động của phản ứng thay đổi từ 25 đến 40 Kcal/ mol, khi

dùng xúc tác Cr2O3 /Al2O3. Còn khi dùng xúc tác Pt/Al2O3 là từ 20 đến 30 Kcal/ mol. Tốc

độ phản ứng tăng khi tăng số nguyên tử cacbon trong phân tử parafin, điều đó dẫn tới hàm

lượng hydrocacbon thơm trong sản phẩm phản ứng cũng tăng lên được thể hiện ở bảng

sau.

Bảng 2. Dehydro vòng hóa parafin trên xúc tác Pt loại RD.150 ở điều kiện t⁰ =

496⁰C, p = 15Kg/cm2. Tốc độ khơng gian thể tích truyền ngun liệu V/H/V bằng 2,0

- 2,6 tỷ số H2/RH = 5.

Nguyên liệu



Hydrocacbon thơm, % khối lượng

/ nguyên liệu



Độ chuyển hoá % V



n-C17H16



39,8



57,0



n-C12H26



60,2



67,0



Dehydro vòng hố parafin để tạo hydrocacbon thơm là một trong những phản ứng

quang trọng nhất của reforming xúc tác. Nhờ phản ứng này mà cho phép biến đổi một

lượng lớn các hợp chất có trị số octan thấp của nguyên liệu thành các hydrocacbon thơm

là các cấu tử có trị số octan cao (ví dụ: trị số octan của n-C7 = 0 còn trị số octan của toluen

= 120). Phản ứng xảy ra ưu tiên và tạo thành các dẫn xuất của benzen với số lượng cực

đại, nhóm metyl đính xung quanh, nếu như nguyên liệu cho phép. Chẳng hạn ở 465⁰C,

nếu nguyên liệu là 2,3 – dimetyl hexan thì phản ứng vòng hố xảy ra khó hơn nữa. Nhưng

nếu ta tăng nhiệt độ lên trên 510⁰C, thì hiệu suất hydrocacbon thơm từ các hợp chất trên

lại tăng lên nhờ phản ứng đồng phân hoá làm thay đổi cấu trúc của mạch alkyl. Các phản

ứng dehydro hóa n - parafin tạo thành olefin nói chung sẽ làm tăng khả năng tạo nhựa,

cốc bám trên bề mặt xúc tác. Phản ứng này được hạn chế bằng cách cho có mặt H2



Hình1.Cân bằng n-C6 – benzen trong Hình 2.Cân bằng n-C7-toluenphản ứng dehydro

vòng hố

trong phản ứng dehydro vòng hố

I.2.3 Nhóm phản ứng izome hóa

Người ta thường chia phản ứng hydroIsome hố thành hai loại:

 Phản ứng izome hóa n – parafin

 Phản ứng dehydro izome hóa các alkyl xyclopentan.

a) Phản ứng izome hóa n – parafin

n - parafin ⇆ izo - parafin + △Q + 2 Kcal/mol

Do các phản ứng isome hoá là toả nhiệt nên về mặt nhiệt động học , phản ứng sẽ

không thuận lợi khi tăng nhiệt độ.Mặt khác, phản ứng isome hoá n-parafin là phản ứng

thuận nghịch và khơng có sự tăng thể tích, vì thế cân bằng của phản ứng chỉ phụ thuộc

nhiều vào nhiệt độ. Nhiệt độ thấp tạo điều kiện tạo thành các isome và cho phép nhận

được hỗn hợp ở điều kiện cân bằng và có trị số octan cao.

Phản ứng đạt cân bằng trong vùng làm việc của reactor ở điều kiện 500⁰C với xúc

tác Pt/Al2O3 như sau:

- Với n – C6 là 30%, n – C5 là 40%; n – C4 là 60%



- Việc có mặt các n - parafin có trị số ON thấp được thay bằng các izo - parafin như vậy

làm tăng được trị số octan của sản phẩm xăng. Tuy vậy việc cải thiện trị sốNO trong quá

trình reforming nhờ phản ứng izome hóa này chỉ có hiệu quả cao ởcác n - parafin nhệ C 5,

C6.Còn đối với các n - parafin cao phản ứng isomehóa dễ xảy ra, nhưng nó chỉ làm tăng

khơng nhiều NO vì còn có mặt các n - parafin chưa biến đổi trong sản phẩm phản ứng.

VD: n – C7 có NO = 0; còn trimetylbutan có NO = 110 và hỗn hợp C 7 ở điều kiện cân

bằng của phản ứng isomehố chỉ có NO = 55. Với các parafin nhệ như C 5 thì khác. ON

của n – C5 là 62 và ON của izo – C 5 là 80 nên cải thiện tốt trị số ON hơn. Do đó mà phản

ứng isome hóa tốt nhất nên tiến hành với n - parafin nhẹ C5 hoặc C6).

b) Phản ứng dehydroizome hóa các alkyl xyclopentan và izome hóa alkyl thơm.



Ngồi ra còn có phản ứng isome hóa alkyl thơm



I.2.4 Phản ứng hydro hóa:

Phản ứng này xảy ra với olefin trong nguyên liệu để tạo thành parafin. Phản ứng

thực hiện dễ dàng trong điều kiện của quá trình reforming. Thành phần olefin cũng có thể

chuyển hóa trực tiếp thành aromatic, nhưng khơng đáng kể.

Đây cũng là một phản ứng quan trọng vì nó chuyển hóa các hydrocacbon chưa no

thành hydrocacbon no làm giảm sự tạo cốc gây nên sự khử hoặc hoạt tính các xúc tác.

I.2.5 Phản ứng hydrocracking và naphten:

Phản ứng hydrocracking: Đây là phản ứng cracking với sự có mặt của hydro phản

ứng dễ gãy mạch tạo thành hai parafin khác. Đây là phản ứng khơng mong muốn của q

trình. Ở các điều kiện nhất định có thể xảy ra cracking sâu tạo khí và sản phẩm nhẹ và



giảm thể tích sản phẩm lỏng và đồng thời cũng làm giảm hiệu suất hydro (vì tiêu tốn

trong phản ứng). Do vậy hiệu suất sẽ giảm, phản ứng này xảy ra khá chậm và chủ yếu

được xúc tác bởi chức năng axit của xúc tác.

n - C9H20 + H2 → n – C5H12 + C4H10

n - C9H20 + H2 → n – CH4 + n – C8H18

CnH2n+1 + H2 → CmH2m+2 + CpH2p+2

Đối với parafin, thường xảy ra các phản ứng hydrocracking và hydrogenolyse.

R - C - C – R1 + H2⇆ R – CH3 (iso) + R1 - CH3 (iso) + △Q=11 Kcal/mol.

R - C - C – R1 + H2⇆ R2 – CH3 + CH4 (phản ứng hydro genolyse) .

Naphten cũng có khả năng tham gia phản ứng hydrocracking. Giai đoạn đầu tiên

của phản ứng này là đứt vòng với sự có mặt của hydro, tạo thành parafin.



Hydrocacbon thơm cũng có thể bị hydrodealkyl hóa:



Sản phẩm của q trình là các hợp chất iso parafin chiếm phần chủ yếu và vì phản

ứng xảy ra theo cơ chế ioncacboni nên sản phẩm khí thường chứa nhiều C 3, C4 và C5, rất ít

C1 và C2. Nhưng nếu tăng nhiệt độ cao hơn nữa thì sẽ tăng hàm lượng C 1và C2, vì lúc này

tốc độ phản ứng hydrogenolyse sẽ cạnh tranh với tốc độ phản ứng cracking xúc tác. Khi

đó metan sẽ được tạo ra với số lượng đáng kể. Tác dụng của phản ứng này trong quá trình

reforming là đã góp phần làm tăngNO cho sản phẩm vì đã tạo ra nhiều iso parafin, làm

giảm thể tích sản phẩm lỏng và giảm hiệu suất hydro.



I.2.6. Phản ứng tạo cốc

Sự tạo cốc trong q trình reforming là khơng mong muốn nhưng do sự tương tác

của olefin, diolefin và các hợp chất thơm đa vòng ngưng tụ trên tâm hoạt tính xúc tác mà

tạo thành cốc.



Cốc sẽ khó tạo ra nếu ta thao tác ở điều kiện nhiệt độ thấp và áp suất cao và tỷ lệ

H2/RH cao. Nhìn chung tạo cốc là loại phản ứng phức tạp. Trong thực tiễn cho thấy sự

tạo cốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố sau:

 Nhiệt độ phản ứng.

 Áp suất phản ứng.

 Độ nặng của nguyên liệu và chính là các hợp chất phi hydrocacbon, olefin và các

hợp chất thơm đa vòng là các hợp chất đã thúc đẩy nhanh quá trình tạo cốc.

Để hạn chế sự tạo cốc, người ta phải sử dụng áp suất hydro vừa đủsao cho cốc chỉ

tạo ra 3-4% so với trọng lượng xúc tác trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến 1 năm. Tuy

nhiên nếu áp suất hydro quá lớn sẽ cản trở tạo ra hydrocacbon thơm do cản trở phản ứng

dehydro hóa. Điều này đòi hỏi nhà sản xuất xúc tác phải chú ý điều khiển các chức hoạt

tính của xúc tác để góp phần điều khiển được quá trình tạo cốc của quá trình reforming.

I.3. CƠ CHẾ VÀ ĐỘNG HỌC CỦA PHẢN ỨNG REFORMING XÚC TÁC

I.3.1. Cơ chế phản ứng reforming xúc tác

Quá trình reforming sảy ra nhiều phản ứng nhưng ta chỉ xét một số phản ứng quan

trọng sau:

Naphten → Aren + H2

n – C7



→ Aren + H2



n – C7 → iso – C7

n – C6 → benzen + H2

Năng lượng hoạt hoá của các phản ứng có giá trị trong khoảng 20 đến 45 kcal/mol.



n – C7 → iso – C7 EA = 25kcal/mol

n-C7







∑ C1- C6



EA = 45 kcal/mol



Q trình chuyển hóa n - hexan thành benzen



M: Trung tâm kim loạiA: Trung tâm axit

Theo sơ đồ này cho ta thấy, từ n - hexan, sau quá trình reforming đã thu được izo hexan, xyclohexan, benzen, metyl xyclohexan. Tất cả các chất này đều là cấu tử cao

octan, vậy có nghĩa là thu được xăng có trị số octan cao. Ngồi các phản ứng chính trên,

còn xảy ra một lượng đáng kể các phản ứng hydrocracking:

CnH2n+2 + H2 → CmH2m+2 + CpH2p+2



(C9H20 + H2 → C4H10 + C5H12)

Các hydrocacbon có phân tử lượng lớn dễ bị hydrocracking hơn các hydrocacbon

có phân tử lượng nhỏ. Các phản ứng này một mặt cũng có tác động tích cực làm tăng hiệu

suất xăng và trị số octan của xăng (do tạo ra izo - parafin). Nhưng nếu phản ứng thực hiện

ở điều kiện cứng, các hydrocacbon có phân tử lượng nhỏ cũng bị hydrocracking, làm cho

hiệu suất khí và cốc tăng lên do vậy mà có tác dụng tiêu cực.

Độ axit của xúc tác có ảnh hưởng lớn đến phản ứng hydrocracking: Độ axit càng

lớn thì phản ứng hydrocracking xảy ra càng mạnh, từ đó giải thích tại sao người ta không

dùng aluminosiliat làm chất mang mà dùng Al2O3, (Al2O3 có độ axit nhỏ hơn).

I.3.2. Nhiệt động học và điều kiện của phản ứng.

Xét thông số nhiệt động học của một số phản ứng quan trọng trong qúa trình

reforming xúc tác qua các phản ứng của hydrocacbon C6.

Bảng 3: Các thông số nhiệt động học các phản ứng hydrocacbon C6

Phản ứng

Xyclohexan → C6H6 + 3H2

Metyl xyclopenxan → Xyclohexan

n - hexan → C6H6 + 4H2

n - hexan → hexan - 1 + H2

n - hexan →2 - metylpentan



Kp , 5000C

6.103

0,086

0,78.103

1,1

0,037



△H, kcal/ mol

52,8

-3,8

63.8

-1.4

31,0



(Hằng số cân bằng K được xác định theo áp suất riêng phần atm của phần phản ứng và

sản phẩm sau phản ứng).

Các số liệu nhiệt động học cho thấy tại cân bằng cyclo hexan chuyển hóa thành

aromatic ở áp suất của hydro và chỉ một lượng nhỏ olefin tồn tại với parafin.

Những phản ứng chính của reforming là thu nhiệt. Phản ứng isomehố là trung hòa

nhiệt trong khi phản ứng hydro cracking toả nhiệt, các số liệu cũng cho thấy hiệu ứng

nhiệt của phản ứng phụ thuộc chính vào nồng độ xyclonapatran trong ngun liệu vì nó

hấp thụ nhiệt mạnh nhất, vì nhiệt của phản ứng được lấy từ hỗn hợp nguyên liệu và khi

nén nhiệt độ của hỗn hợp này giảm. Tức là phải cấp nhiệt cho hỗn hợp phản ứng.

Phản ứng dehydro tạo vòng của parafin và phản ứng dehydro hóa của naphtan là

những phản ứng chính làm tăng trị số octan. Cân bằng nhiệt động của những phản ứng



này dịch chuyển về phía sản phẩm phản ứng khi áp suất riêng phần của hydro thấp và

nhiệt độ phản ứng cao (500⁰C).

Tuy nhiên điều kiện này thích hợp để tạo thành cốc và sự tạo cốc chỉ có thể ngăn

chặn bằng cách thực hiện phản ứng trong môi trường hydro, nếu áp suất hydro càng cao,

sự lắng đọng cốc trên bề mặt xúc tác càng ít. Việc tăng áp suất hydro cũng khơng làm

chậm phản ứng hydro hóa tạo ra aromatic.

Vậy q trình reforming xúc tác phải được thực hiện dưới áp suất cao và hydro sản

phẩm được hoàn lại vùng phản ứng.

Phản ứng hydrocracking thích hợp ở nhiệt độ và áp suất riêng phần của hydro cao,

phản ứng này thường không mong muốn trong quá trình reforming vì chúng tiêu thụ

hydro và tạo ra hydrocacbon pha lỏng. (Hình 8) minh họa sự phụ thuộc của hiệu suất phản

ứng vào áp suất phản ứng tại những trị số octan khác nhau.



Hình 3: Hiệu suất phản ứng và áp suất tại những trị số octan khác nhau.

Tại áp suất cao cho trước, trị số octan có thể được tăng khi tăng nhiệt độ mặc dù

điều này gây ra sự mất mát hiệu suất do phản ứng hydrocracking tăng lên. Như vậy quá

trình thường được thực hiện ở áp suất thấp để đạt được hiệu suất pha lỏng tăng lên. Tuy

nhiên, áp suất riêng phần của hydro phải đủ cao để tránh sự tạo thành những hợp chất

khơng no có khả năng bị polime hóa tạo thành cốc.

Trong thực tế, q trình có thể được tiến hành trong khoảng nhiệt độ 455 ÷ 510 ⁰C

và áp suất 6,5 ÷ 50 atm. Điều kiện chỉ chuyển hóa một phần aromatic còn nếu thực hiện ở

nhiệt độ cao hơn và áp suất khoảng 10 atm thì có thể chuyển hóa gần như hồn tồn



naphten thành aromatic tại cân bằng với những quá trình làm việc ở áp suất cao từ 34 ÷ 50

atm thì vận tốc phản ứng hydrocracking cao, mức độ chuyển hóa thành hợp chất thơm

giảm vận tốc phản ứng khử hoạt tính xúc tác và hiệu suất hydro thấp được thể hiện ở bảng

sau:

Bảng 4 : Đặc trưng vận tốc và hiệu ứng nhiệt của những phản ứng reforming

quan trọng



Loại phản ứng



Vận tốc tương

đối



Ảnh hưởng của sự tăng áp

suất tổng cộng



Hiệu ứng nhiệt



Hydrocracking



Thấp nhất



Vận tốc tăng



Tỏa nhiệt vừa

phải



Thấp



Không ảnh hưởng tới sự

giảm nhỏ trong vận tốc



Thu nhiệt



Nhanh



Giảm vận tốc



Tỏa nhiệt ít



Nhanh

Khá nhanh



Giảm vận tốc

Giảm độ chuyển hóa



Rất nhanh



Giảm độ chuyển hóa



Tỏa nhiệt ít

Thu nhiệt

Rất thu nhiệt



Dehydro hóa tạo

vòng

isome hóa của

parafin

isome hóa naphten

Dehydro hóa parafin

Dehydro hóa

naphten



Ở áp suất thấp (8,5 ÷ 20,5 atm) độ chuyển hố các hợp chất thơm cao, hiệu suất

hydro cao, phản ứng hydrocracking giảm, nhưng lại nhanh chóng khử hoạt tính xúc tác do

sự tạo thành cốc.

Nhiệt độ phản ứng được chọn để làm cân bằng giữa sự tăng hoạt tính xúc tác và sự

tăng vận tốc phản ứng khử hoạt tính khi nhiệt độ tăng.

Khoảng nhiệt độ từ 460 ÷ 525⁰C và thường là giữa 482 và 500⁰C. Nhưng quá trình

hoạt động ở áp suất thấp và nhiệt độ khá cao tạo ra sản phẩm có trị số octan cao nhất. Khi

xúc tác bị mất hoạt tính trong q trình hoạt động nhiệt độ thường được giảm từ từ để duy

trì trị số octan không đổi.

Tỷ lệ mol giữa hydro và hydrocacbon nguyên liệu thay đổi từ 3 đến 10, nhưng phổ

biến nhất là từ 5 đến 8. Tỷ lệ này ảnh hưởng bất lợi đến phản ứng thơm hóa, tăng phản

ứng hydro cracking và làm giảm vận tốc phản ứng như hoạt tính xúc tác. Giá trị lựa chọn

thường ở giới hạn thấp để phản ứng hydro cracking xảy ra đạt yêu cầu và sự khử hoạt tính

xúc tác là thấp. Những naphtan có nhánh thường là thành phần chính của ngun liệu.



Ngun liệu có hàm lượng hydrocacbon khơng no cao phải được hydro hóa trước khi

phản ứng để giảm tiêu thụ hydro trong phản ứng và sự khử hoạt tính xúc tác. Nồng độ của

tạp chất trong nguyên liệu đóng vai trò chất gây ngộ độc xúc tác phải được điều khiển

nghiêm ngặt. Sunfua làm ngộ độc chức năng kim loại của xúc tác nên phải duy trì nồng

độ nhỏ hơn 1 ppm đối với nguyên liệu cho xúc tác mới. Nguyên liệu có hàm lượng sunfua

cao phải được hydro sunfua hóa trước phản ứng. Các hợp chất nitơ hữu cơ bị chuyển

thành amoniac làm ngộ độc chức năng axit của xúc tác. Nồng độ của nó phải nhỏ hơn 2

ppm. Nitơ thường được loại ra khỏi nguyên liệu xử lý hydro xúc tác, đồng thời với hydro

desunfua hóa. Nước và các hợp chất chứa clo cũng là thành phần khơng mong muốn trong

ngun liệu vì nó thay đổi độ axit của chất mang và làm đảo lộn cân bằng của những phản

ứng đang xảy ra vì những hợp chất này để loại bỏ, hàm lượng của chúng cần phải điều

khiển cẩn thận để duy trì độ axit của xúc tác. Những kim loại như asenic, Cu phải giữ

nồng độ rất thấp vì chúng tạo hợp kim với chì làm khử hoạt tính của xúc tác. Hàm lượng

asen trong nguyên liệu phải thấp hơn 30 phần tử.

II.XÚC TÁC CHO QUÁ TRÌNH REFORMING XÚC TÁC

Xúc tác được sử dụng trong quá trình reforming là loại xúc tác đa chức (lưỡng

chức), gồm chức năng oxy hoá - khử và chức năng axit. Chức năng oxy hố khử có tác

dụng tăng tốc các phản ứng hydro hố - khử hydro. Còn chức năng axít có tác dụng thúc

đẩy các phản ứng xảy ra theo cơ chế ioncacboni như đồng phân hoá và hydrocracking.

II.1.



Bản chất của xúc tác reforming.



Năm 1940, người ta sử dụng xúc tác oxyt như MoO 2 /Al2O3. Loại xúc tác này có

ưu điểm là rẻ tiền, dễ sản xuất và bền với hợp chầt chứa S. Khi có mặt của hợp chất chứa

lưu huỳnh trong nguyên liệu thì MoO 2 có thể chuyển một phần thành MoS 2 hợp chất này

cũng có hoạt tính xúc tác giống oxyt molipden. Những loại xúc tác molipden này lại có

nhược điểm là hoạt tính thấp và trong một thời gian rất ngắn đã phải dừng quá trình để tái

sinh xúc tác do cốc tạo thành trên xúc tác. Vì lý do trên nên hiện nay không sử dụng loại

xúc tác này.

Năm 1949 loại xúc tác Pt/Al2O3 đã được đưa vào công nghệ reforming xúc tác.

Xúc tác pt có hoạt tính cao, độ chọ lọc tốt và ổn định cao hơn nhiều so với xúc tác

molipden. Do có độ hoạt tính và ổn định cao nên có thể tiến hành q trình ở điều kiện

ngặt ngèo hơn (khắt khe hơn) mà vẫn đạt được hiêu quả tốt, trị số octan cao, xúc tác làm

việc lâu hơn. Khi dùng xúc tác loại này còn giảm được sự tạo cốc. Nhưng sau một thời

gian sử dụng xúc tác Pt/Al2O3 hoạt tính của xúc tác sẽ giảm do độ axit của Al2O3 giảm



nên người ta phải tiến hành clo hố để tăng độ axit . Vì thế loại xúc tác này chỉ được sử

dụng đến năm 1970.

Ngày nay người ta cải tiến xúc tác bằng cách biến tính xúc tác: cho thêm một kim

loại hay thay đổi chất mang. Cho thêm kim loại để giảm giá thành xúc tác, xúc tác sử

dụng cho quá trình reforming hiện nay là 0,3%Pt + 0,3%Re mang trên ɣ -Al2O3. Ngồi ra

còn có các hợp chất halogen hữu cơ.

II.2. Thành phần của xúc tác reforming

Nhìn chung, xúc tác reforming có hai thành phần chính:

II.2.1. Chất mang có tính axit

Chất mang trong xúc tác reforming có thể là Al 2O3 hoặc hỗn hợp của Al2O3 – SiO2

thường thì người ta hay dùng Al2O3. Độ axit của nó được quyết định bởi quá trình xử lý

đặc biệt để tách nước bề mặt nhằm tạo ra bề mặt riêng lớn (400m 2/g) và tạo ra các tâm

axit. Bản thân Al2O3 là một axít lewis vì ở ngun tử nhơm còn có một ơ lượng tử tự do,

còn Al2O3 chứa nước là một axit Bronsted vì mang H+.



Nếu sử dụng chất mang là ɣ - Al2O3 hay ɳ - Al2O3 với diện tích bề mặt khoảng

250 m /g được bổ sung thêm các hợp chất halogen như fl ,clo, hay hỗn hợp của chúng. Độ

axít tăng khi tăng hàm lượng của halogen, thực tế cho thấy chỉ nên không chế hàm lượng

của halogen khoảng 1% so với xúc tác để tránh phân huỷ mạnh. Halogen được đưa vào

xúc tác khi chế tạo hoặc khi tái sinh xúc tác. Khi có clo thì q trình xảy ra như sau:

2



Chức năng axit được thể hiện bởi chất mang. Độ axit của nó có vai trò đặc biệt

quan trọng khi chế biến nguyên liệu là parafin có trọng lượng phân tử lớn: các tâm axit



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1. Ảnh hưởng của nhiệt độ và chiều dài mạch cacbon tới hằng số cân bằng của phản ứng dehydro vòng hóa parafin

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×